Sương mù bảng lảng giăng kín mặt sông Đáy tựa một dải lụa xám tro, trôi lững lờ trong cái rét ngọt ngào của buổi sớm mai cuối đông. Những cơn gió bấc thổi qua triền đê bối mang theo hơi nước buốt lạnh, nhưng không thể xua tan bầu không khí hừng hực tựa ngày hội lớn đang bao trùm lấy bãi Soi.
Ngay từ nửa đêm hôm trước, sau khi bóng lưng Đặng Tiết bị áp giải khuất hẳn sau gốc đa đầu làng và chiếc xe U-oát của đoàn thanh tra huyện tháo chạy trong sự bẽ bàng, Trần Bình đã lập tức hội ý chớp nhoáng với chi ủy Đội 3. Anh không hề chủ quan trước ánh mắt đỏ quạch, hằn học của kẻ cùng đường. Một tổ tuần tra gồm tám thanh niên khỏe mạnh nhất đội, trang bị gậy tre và đèn bão, đã thay phiên nhau cắm chốt suốt đêm dọc bờ mương ranh giới tiếp giáp với Đội 1. Nhờ thế, mười lăm mẫu ngô xen đỗ tương bãi Soi được bảo vệ nguyên vẹn, không một vết chân lạ nào có thể lén lút bén mảng tới phóng hỏa hay chặt phá.
Khi hồi kẻng đánh bằng vỏ bom treo trên cành đa đình làng ngân vang từng tiếng dõng dạc xé toang màn sương đục, toàn bộ xã viên Đội 3 đã tề tựu đông đủ bên bờ sông Đáy. Tiếng cười nói rộn rã, tiếng đòn gánh va lách cách vào quang sọt, tiếng dao liềm mài xoèn xoẹt trên đá bùn hòa quyện vào nhau tạo nên một khúc ca lao động đầy sức sống.
Hoài An quàng chiếc khăn len màu chàm cũ quanh cổ, chân đi đôi ủng cao su bộ đội đã mòn gót mà Bình nhường cho cô sáng nay. Đứng trên gờ đất cao nhìn xuống bãi bồi, lòng cô trào dâng một cảm xúc bồi hồi khó tả.
Mười lăm mẫu đất từng bị coi là bãi sỏi đá cằn cỗi, nơi Đội 1 và Đội 2 từng lắc đầu chê bai đòi bỏ hoang vì sợ tốn công tốn giống, giờ đây đang trải ra trước mắt như một tấm thảm vàng óng ả rực rỡ dưới ánh bình minh vừa hé. Những hàng ngô thẳng tắp như đội ngũ quân hành, thân cây mập mạp cao quá đầu người, lá già phía dưới đã khô giòn ngả màu rơm rạ, nhưng từng bắp ngô thì đẫy đà, to như bắp tay đàn ông, vỏ bọc ngoài mỏng tang để lộ ra những chùm râu ngô màu hạt dẻ đậm quăn tít. Dấu hiệu ấy cho thấy hạt ngô bên trong đã tích đủ tinh bột, đặc quánh và kết hạt tăm tắp tới tận đầu chóp.
Xen lẫn ngay dưới chân những gốc ngô hùng dũng ấy là bạt ngàn những vạt đỗ tương giống Cúc vàng. Những chùm quả ba múi múp míp, phủ một lớp lông tơ mịn màng, quả sai trĩu từ nách lá sát gốc lên đến tận ngọn, uốn cong cả những cành nhánh dẻo dai. Màu lá đỗ chuyển sang sắc cỏ úa báo hiệu ngày thu hoạch rộ nhất đã điểm.
“Bà con ơi! Hôm nay ta gặt gọn gàng, bẻ ngô đến đâu gom đỗ nhổ gốc đến đấy, không để sót một hạt rơi rụng ngoài đồng!”
Tiếng Trần Bình vang lên rổn rảng giữa bãi Soi. Anh xắn cao ống quần bộ đội lên quá đầu gối, khoác chiếc áo trấn thủ bạc màu, một tay cầm liềm cán gỗ, một tay thoăn thoắt tách những bắp ngô đầu tiên thả vào bồ tre sau lưng. Bước chân anh dù hơi khập khiễng nhẹ do vết đạn năm xưa nhưng vô cùng thoăn thoắt, đi đến đâu là từng hàng ngô ngả rạp trật tự đến đó.
“Bình nói chí phải!” Tiếng chị Đượm cười giòn tan từ luống giữa bãi vọng lại. Chị đội chiếc nón mê rách mép, hai tay bẻ ngô nhanh như máy khâu, tiếng “rắc, rắc” giòn giụa vang lên không dứt. “Hôm qua thấy mụ Tươi với lão Tiết bị giải đi, tao hả dạ đến mức nuốt trôi cả bát sắn khô luộc không cần muối vừng! Hôm nay nhìn bắp ngô này thì dù có bắt tao gánh mười chuyến qua đò tao cũng gánh tuốt!”
Bà con xung quanh nghe thấy thế liền bật cười rộ lên. Bác Cả Sắn – người nông dân quanh năm câm lặng với tấm lưng còng vì gánh nặng cơ cực – lúc này cũng đứng sững bên luống ngô, nâng niu một bắp ngô dài gần gang tay rưỡi, hai bàn tay chai sần run run bóc thử một góc vỏ bao. Những hạt ngô nếp vàng hươm, căng bóng như những hạt ngọc đều chằn chặn phơi bày dưới ánh mặt trời non.
“Trời phật phù hộ... Đời tôi làm nông mấy chục năm ở đất An Hòa này, chưa từng thấy bắp ngô bãi bồi nào hạt lại mẩy và khít rịt thế này cô An ơi!” Giọng bác Cả Sắn nghẹn ngào, đáy mắt đỏ hoe lóng lánh những giọt nước mắt mừng rỡ. “Vụ này nhà tôi ba miệng ăn thoát nạn đứt bữa rồi! Đội 3 nhà mình sống rồi!”
An bước lại gần, khẽ mỉm cười dịu dàng:
“Bác Cả cứ yên tâm. Ngô này bột nhiều, nấu cơm độn hay bung ăn sáng đều dẻo ngọt lắm. Lát nữa bẻ xong, bác cứ gom một gánh thân ngô tươi về cho con bò nhà bác tẩm bổ qua đợt rét này nhé.”
Đúng lúc ấy, từ phía bến đò ngang sông Đáy, một đoàn người đang rảo bước đi xuống bãi Soi. Dẫn đầu là kỹ sư Hoàng Tuấn của Ty Nông nghiệp tỉnh Hà Sơn Bình, theo sau là hai cán bộ kỹ thuật trẻ đeo kính trắng, nách cắp cặp da và tay cầm xẻng con chuyên dụng, cùng đi với họ còn có Bí thư Đảng ủy xã Bùi Văn Vượng.
Kỹ sư Tuấn vừa đặt chân lên mép ruộng đã không giấu nổi vẻ kinh ngạc. Anh đưa mắt nhìn một lượt khắp mười lăm mẫu hoa màu trĩu hạt, hít sâu một hơi không khí thơm ngát mùi râu ngô chín se se lạnh, rồi bước vội về phía An và Bình.
“Chào đồng chí Bình, chào kỹ sư Hoài An! Hôm qua sau khi việc thanh tra huyện giải quyết xong, chúng tôi không về tỉnh ngay mà quyết định ở lại nhà khách xã một đêm chỉ để chờ sáng nay được tận mắt chứng kiến ngày thu hoạch của Đội 3!” Kỹ sư Tuấn hồ hởi bắt tay hai người, giọng nói tràn đầy phấn khích. “Thực sự choáng ngợp! Giữa đợt rét đậm kỷ lục làm toàn huyện Chương Mỹ mất trắng hàng chục mẫu mạ và khoai lang, mà bãi Soi lại làm nên kỳ tích như thế này!”
Nói đoạn, kỹ sư Tuấn ra hiệu cho cán bộ đi cùng dùng xẻng xắn sâu một nhát xuống rãnh đất nằm giữa hàng ngô và hàng đỗ tương. Nhát xẻng lật lên một mảng đất dày chừng hai mươi phân.
Trái ngược với tầng đất sét pha cát chai cứng, bạc phếch thường thấy ở các bãi bồi sau mùa lũ, thớ đất dưới lưỡi xẻng có màu nâu thẫm gần như đen nhánh, xốp tơi và ẩm mượt. Khi kỹ sư Tuấn bóp nhẹ, đất vỡ vụn ra thành những hạt nhỏ đều đặn, thoang thoảng mùi mùn hữu cơ thơm mát như đất rừng già, tuyệt nhiên không có mùi chua thối hay mùi chua phèn của đất bị nén chặt.
“Đồng chí An, cô giải thích cụ thể cơ chế này cho anh em chúng tôi nghe được không?” Kỹ sư Tuấn cẩn thận bốc một nắm đất lên lòng bàn tay, mắt sáng rực.
An điềm đạm bước tới, cô cúi người nhổ nhẹ một gốc đỗ tương đã se lá lên. Dưới gốc rễ, hàng chục nốt sần nhỏ li ti màu hồng nhạt bám ken dày đặc tựa những chùm quả bao tử tí hon.
“Báo cáo các đồng chí kỹ sư,” An chỉ vào bộ rễ đỗ, dùng lối giải thích dung dị nhất để gắn kết tri thức sinh học hiện đại với ngôn ngữ đồng ruộng thời bao cấp. “Kinh nghiệm ông cha ta xưa nay vẫn dạy: 'Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên'. Sấm chớp mang đạm trời cho lúa, còn cây đỗ tương thì mang đạm đất nuôi cây. Những nốt sần này chính là tổ của loài vi sinh vật cố định đạm sống cộng sinh với rễ đỗ. Khi ta xen canh ngô với đỗ tương theo tỉ lệ một hàng ngô hai hàng đỗ, đỗ tương hút đạm từ không khí rồi nhả chất bổ vào đất cho ngô cùng hưởng.”
Cô lại dùng tay chỉ xuống tầng rãnh nơi vừa lật xẻng đất:
“Thêm vào đó, trước khi gieo hạt, Đội 3 chúng tôi đã lót toàn bộ đáy rãnh bằng phân bèo hoa dâu ủ kỵ khí nóng với tro trấu và rỉ mật. Đống ủ đạt nhiệt độ gần sáu mươi độ C đã diệt hết mầm nấm gây thối rễ, đồng thời tạo ra một lớp đệm mùn xốp giữ ẩm và sinh nhiệt nhẹ dưới lòng đất. Chính tầng đệm sinh học này đã giữ ấm cho chùm rễ ngô không bị đông cứng khi sương muối ập xuống, giúp rễ ăn sâu gần nửa mét để hút dinh dưỡng. Cây đỗ nuôi cây ngô, bèo hoa dâu nuôi đất, nhờ vậy mà bãi Soi không cần tới một hạt đạm hóa học nhập khẩu nào mà vẫn vượt qua rét hại.”
Kỹ sư Tuấn gật đầu lia lịa, tay lia chiếc bút mực ghi chép thoăn thoắt vào cuốn sổ tay bìa cứng. Anh không giấu nổi sự thán phục:
“Khoa học thực tiễn vô cùng chuẩn xác và sáng tạo! Một mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn khép kín tuyệt vời! Chúng tôi đã tiến hành cân mẫu thử ngẫu nhiên trên ba sào ở đầu, giữa và cuối bãi Soi. Năng suất ngô hạt khô ước tính đạt từ một trăm tám mươi đến hai trăm kilôgam một sào! Đậu tương đạt xấp xỉ bốn mươi nhăm kilôgam một sào! Tính chung cả mười lăm mẫu, sản lượng lương thực quy đổi của Đội 3 sẽ vượt trên một trăm năm mươi phần trăm chỉ tiêu kế hoạch mà Hợp tác xã An Hòa giao phó!”
Một trăm năm mươi phần trăm!
Con số ấy vừa được kỹ sư Tuấn dõng dạc xướng lên, toàn bộ bãi bồi như vỡ òa trong tiếng hò reo. Mấy chục xã viên đang cắm cúi bẻ ngô đồng loạt ngẩng phắt dậy, vung liềm, vung bắp ngô lên trời mà reo hò:
“Vượt một trăm năm mươi phần trăm rồi bà con ơi!”
“Thắng lớn rồi! Vụ này Đội 3 ấm no rồi!”
Bí thư Vượng đứng bên cạnh, nét mặt cương nghị thường ngày giờ đây giãn ra trong một nụ cười rạng rỡ. Ông vỗ mạnh vào bờ vai vạm vỡ của Bình:
“Tốt lắm, đồng chí Bình! Giỏi lắm, cô An! Đây không chỉ là thắng lợi của riêng Đội 3, mà là một bài học đắt giá cho toàn xã An Hòa về tinh thần dám nghĩ, dám làm và dựa vào khoa học kỹ thuật chân chính!”
Đến quá trưa, toàn bộ mười lăm mẫu bãi Soi đã được thu hoạch gọn gàng. Những đoàn thuyền nan ghép ván đầy ắp ngô vàng rực rỡ nối đuôi nhau vượt dòng sông Đáy đưa sản vật cập bến đò. Trên bờ, hàng dài quang gánh kĩu kịt chở ngô và đỗ tương đổ về sân đình làng An Hòa.
Sân đình rộng thênh thang lát toàn gạch Bát Tràng cổ kính hôm nay như biến thành một biển vàng chói lọi. Hàng trăm thúng ngô hạt đã bóc vỏ được đổ thành những đống cao ngút ngàn, tỏa ra mùi thơm ngai ngái, ngọt lành đặc trưng của lương thực tươi mới gặt. Bên cạnh là những nong, nia phơi đầy đỗ tương quả múp míp đang nổ lách tách giòn tan dưới nắng hanh.
Một chiếc bàn gỗ mộc mạc được kê ngay dưới mái hiên đình râm mát, nơi Ban chỉ huy Đội 3 tiến hành bình xét công điểm công khai trước toàn thể xã viên.
Trần Bình ngồi ở đầu bàn, cuốn sổ theo dõi công điểm mở rộng. An ngồi bên cạnh, chiếc bàn tính gỗ gõ kêu lách cách giòn giã dưới những ngón tay thon thả của cô. Mỗi khi An xướng tên một xã viên cùng số công điểm A, công điểm B tích lũy trong vụ đông, Bình lại cẩn thận đọc to mức phân phối lương thực tạm ứng tại chỗ.
“Hộ gia đình bác Cả Sắn: Đạt một trăm hai mươi công điểm A, sáu mươi công điểm B! Được tạm ứng một tạ hai mươi cân bắp ngô tươi và hai mươi cân đỗ tương hạt loại một!”
Bác Cả Sắn run rẩy bước lên, đôi quang sọt trên vai va vào nhau lách cách. Nhìn chiếc cân bàn cơ khí chỉ đúng trọng lượng, bác nghẹn ngào không nói nên lời, hai tay ôm chặt lấy những bắp ngô căng mọng như ôm báu vật gia bảo. Đàn con bốn đứa nheo nhóc của bác đứng nép bên gốc cột đình, mắt sáng ngời nhìn những bắp ngô vàng ruộm, nuốt nước bọt thèm thuồng.
“Hộ thím Ba: Đạt một trăm mười công điểm! Được nhận một tạ ngô và mười tám cân đỗ!”
Thím Ba bước lên, vừa đón lấy phần lương thực vừa quệt vạt áo lau nước mắt:
“Đội trưởng Bình ơi, cô An ơi... Mấy tháng nay nhà tôi toàn phải ăn cháo cám với củ sắn thối độn rau má qua ngày. Hôm nay được ngần này ngô đỗ, mẹ con tôi không lo chết đói trong mùa giáp hạt nữa rồi... Ơn này bà con Đội 3 không bao giờ quên!”“Thím đừng nói thế,” Bình mỉm cười đầm ấm, đưa tay đỡ lấy đòn gánh giúp thím Ba. “Đây là mồ hôi nước mắt của chính thím và bà con bỏ ra trên bãi Soi suốt mấy tháng rét mướt vừa qua. Công sức lao động chân chính thì phải được đền đáp xứng đáng.”
Ở một góc sân đình, u Mẫn cùng các bà, các mẹ trong thôn đang ngồi trên những chiếc chiếu cói quây quần tẽ những bắp ngô giống đầu tiên. Hàm răng đen nhánh của bà cụ lấp lánh nụ cười rạng rỡ chưa từng thấy suốt mấy năm qua. Mỗi lần có ai đi ngang qua cất tiếng khen ngợi: “Bà Mẫn phúc lớn mới có được cô con dâu tháo vát, học rộng tài cao như cô An”, bà cụ lại xúc động vuốt nhẹ mái tóc hoa râm vấn khăn nhung đen, ánh mắt đong đầy tự hào nhìn về phía bàn làm việc của An.
Đúng lúc không khí đang rộn ràng nhất, tiếng xôn xao bỗng nổi lên từ phía cổng đình. Mọi ánh mắt đồng loạt ngoái nhìn.
Chủ nhiệm Hợp tác xã Bùi Đắc Khoát đang chầm chậm bước vào sân.
Khác hẳn với dáng vẻ bệ vệ, tự tin thường ngày cùng chiếc bút máy Kim Tinh luôn ngạo nghễ cài ở túi áo bốn túi, bước chân của ông Khoát hôm nay có phần ngập ngừng, nặng trĩu. Khuôn mặt vuông vức của người đàn ông ngũ tuần lộ rõ nét hốc hác sau một đêm mất ngủ vì những biến cố chấn động ở Đội 1 và sự sụp đổ của phe cánh Đặng Tiết.
Bà con Đội 3 thoáng chốc im bặt, không khí dưới sân đình bỗng chùng xuống đầy e dè.
Ông Khoát đi thẳng đến trước chiếc bàn mộc của Đội 3. Ánh mắt ông lướt qua những đống ngô cao ngút ngàn, nhìn những khuôn mặt rạng rỡ mồ hôi của những người nông dân nghèo vừa được chia lương thực, rồi dừng lại thật lâu trên gương mặt điềm tĩnh của Hoài An và Trần Bình.
Sau một thoáng ngập ngừng, ông Khoát hắng giọng, giơ tay tháo chiếc mũ cối xuống kẹp vào nách. Trước toàn thể xã viên Đội 3 và đoàn cán bộ Ty Nông nghiệp tỉnh, giọng ông cất lên, trầm đục nhưng rành rọt từng lời:
“Thưa toàn thể bà con xã viên Đội 3! Thưa đồng chí Bí thư Đảng ủy và các đồng chí cán bộ kỹ thuật của tỉnh!”
Ông Khoát cúi đầu nhẹ một nhịp – một cử chỉ hiếm thấy ở người đứng đầu hợp tác xã vốn nổi tiếng gia trưởng và giáo điều:
“Hôm nay, đứng trước mười lăm mẫu thành quả mùa màng rực rỡ của bãi Soi, tôi... Bùi Đắc Khoát, với tư cách là Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp An Hòa, xin thành thật nhận khuyết điểm sâu sắc trước tập thể Đội 3 và trước vợ chồng đồng chí Trần Bình, đồng chí Nguyễn Hoài An!”
Tiếng xì xào vang lên khe khẽ rồi nhanh chóng lắng xuống để lắng nghe.
“Trước đây, do nhận thức hạn hẹp, máy móc, lại mắc bệnh quan liêu ngồi bàn giấy nghe báo cáo sai lệch của cấp dưới, tôi đã suýt nữa ký duyệt quyết định bỏ hoang mười lăm mẫu bãi Soi theo đề xuất của Đội 1. Thậm chí, khi Đội 3 đứng ra nhận bãi, tôi vẫn còn mang nặng tư tưởng nghi kỵ, cho rằng các đồng chí làm ăn mạo hiểm, phiêu lưu. Sự thiển cận của tôi suýt chút nữa đã b*p ch*t một sáng kiến khoa học quý báu, suýt làm cho hàng trăm xã viên nghèo phải chịu đói trong mùa giáp hạt này!”
Ông Khoát ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn thẳng vào An và Bình đầy chân thành:
“Thành công vượt bậc hôm nay của Đội 3 là một bài học xương máu cho cá nhân tôi về phong cách lãnh đạo: Phải biết lắng nghe quần chúng, phải tôn trọng tri thức khoa học thực tiễn chứ không thể bám víu vào những khẩu hiệu suông xơ cứng! Thay mặt Ban Quản trị hợp tác xã, tôi nhiệt liệt biểu dương tinh thần chiến đấu ngoan cường, lao động sáng tạo của toàn thể Đội 3!”
Tiếng vỗ tay rào rào lập tức bùng nổ từ phía các cán bộ Ty Nông nghiệp và Bí thư Vượng, rồi lan nhanh ra khắp sân đình. Hàng trăm bàn tay chai sần cùng vỗ vang dội, xóa tan đi những định kiến và bất an tích tụ bấy lâu.
Ông Khoát quay sang người thư ký đi cùng, gật đầu ra hiệu. Hai nhân viên văn phòng lập tức khiêng lên hai chiếc thúng đại đan bằng tre cật, bên trong đầy ắp những hạt thóc vàng óng, mẩy tròn đều tăm tắp.
“Để ghi nhận công lao to lớn của những người đã khai mở ra con đường sống cho bãi Soi,” ông Khoát dõng dạc tuyên bố, “Ban Quản trị Hợp tác xã quyết định trích thưởng đặc biệt từ quỹ hạt giống dự phòng của xã: Tặng gia đình đồng chí Trần Bình và đồng chí Nguyễn Hoài An hai thúng thóc giống nếp cái hoa vàng loại một thuần chủng! Đồng thời, Hợp tác xã sẽ hoàn tất thủ tục đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Chương Mỹ và Ty Nông nghiệp tỉnh tặng Bằng khen đột xuất cho Đội 3, và chính thức lấy mô hình xen canh ủ bèo hoa dâu của đồng chí Hoài An làm đề án điểm để nhân rộng ra toàn huyện trong vụ xuân sắp tới!”
Một tràng pháo tay rầm rộ nữa lại vang lên giòn giã.
Trần Bình đứng nghiêm trang theo tác phong quân đội, giơ tay chào điều lệnh trước khi bắt tay Chủ nhiệm Khoát:
“Báo cáo đồng chí Chủ nhiệm, thay mặt Đội 3, chúng tôi xin nhận phần thưởng và sự tin tưởng của Ban Quản trị. Chúng tôi xin hứa sẽ tiếp tục giữ vững tinh thần đoàn kết, đem hết sức mình để vụ chiêm xuân tới đạt thắng lợi to lớn hơn nữa!”
An đứng bên cạnh chồng, nụ cười thanh thoát nở trên môi. Cô khẽ nghiêng mình cảm ơn mọi người. Nhìn hai thúng thóc nếp cái hoa vàng mẩy hạt – thứ sản vật quý giá bậc nhất giữa thời buổi đói kém này – An biết rằng cái Tết năm nay của gia đình và u Mẫn sẽ không còn cảnh thiếu thốn, đạm bạc như những năm trước nữa. Bằng chính đôi bàn tay lao động và tri thức chân chính, họ đã đập tan mọi nghi kỵ, xây dựng nên vị thế vững vàng bằng sự kính trọng tuyệt đối của xóm giềng.
Đến chiều muộn, một bữa liên hoan mừng công giản dị mà ấm áp lòng người được tổ chức ngay tại sân đình.
Không có thịt cá ê hề, cũng chẳng có rượu ngoại hay bánh kẹo mậu dịch xa xỉ, bữa tiệc mừng công của những người nông dân Đội 3 chỉ có những bắp ngô nếp luộc nóng hổi bốc khói nghi ngút từ ba chiếc nồi đồng lớn của hợp tác xã, cùng những bát đỗ tương luộc nguyên vỏ ngọt bùi béo ngậy chấm với muối hầm rang khô. Ấy vậy mà tiếng cười nói râm ran, giòn tan vang vọng khắp các ngõ xóm. Mùi thơm của ngô nếp mới quyện với làn khói rơm rạ bảng lảng trong hoàng hôn mùa đông tạo nên một bức tranh no ấm, thanh bình đến nao lòng.
Bình chọn lấy một bắp ngô nếp dẻo quánh, hạt đều tăm tắp như răng lược, cẩn thận bóc hết lớp râu ngô còn sót lại rồi đưa cho An.
“Em ăn đi cho nóng. Cả ngày nay tính toán sổ sách, chân tay lạnh ngắt rồi kìa.” Giọng anh trầm ấm, bàn tay thô ráp kín đáo chạm nhẹ vào mu bàn tay cô dưới gầm bàn mộc, truyền sang một luồng hơi ấm nồng nàn.
An đón lấy bắp ngô, cắn một miếng nhỏ. Vị ngọt đậm đà, dẻo thơm tan trên đầu lưỡi xua tan đi mọi mệt nhọc suốt những ngày tháng qua. Cô ngước nhìn chồng, đôi mắt sáng lấp lánh phản chiếu ánh lửa bập bùng từ gian bếp đình:
“Anh cũng ăn đi. Bãi Soi thành công rồi, từ mai anh không phải thức trắng đêm đi tuần ngoài bờ sông nữa nhé.”
Bình nhìn sâu vào mắt cô, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười đầm ấm chứa chan sự chở che và biết ơn vô hạn:
“Có em ở bên, bãi sỏi đá nào rồi cũng sẽ hóa thành mùa vàng thôi, mình ạ.”
Hai tiếng “mình ạ” thốt ra từ miệng người đàn ông vốn kiệm lời khiến gò má An hơi ửng hồng. Giữa chốn đông người, cử chỉ ấy kín đáo, ý nhị đúng mực phong phong làng quê Bắc Bộ, nhưng tình cảm bên trong thì sâu đậm tựa mạch nước ngầm cuộn chảy dưới lòng phù sa.
Giữa lúc tiếng cười đùa đang ở độ rộn rã nhất, từ con đường liên thôn dẫn vào cổng đình bỗng vang lên tiếng chuông xe đạp dồn dập:
“Kính coong! Kính coong... kính coong!”
Một người lính bưu tá trẻ tuổi, mặc chiếc áo bông trấn thủ màu cỏ úa bạc phếch, trên vai đeo chiếc xà cột da sờn rách, đang ra sức đạp chiếc xe đạp Thống Nhất màu xanh bộ đội. Bánh xe nghiến sỏi lạo xạo rồi phanh gấp ngay sát mép bậc tam cấp sân đình.
Người bưu tá thở hổn hển, mồ hôi ướt đẫm trán dù gió bấc đang thổi từng cơn buốt giá. Anh vội vã dựng chân chống xe, tay giơ cao một phong bì bưu điện viền sọc đỏ trắng – dấu hiệu của thư tín hỏa tốc quân sự – rồi cất tiếng gọi lớn giữa sân đình đông đúc:
“Báo cáo! Có ai là đồng chí Trần Bình, Đội trưởng Đội sản xuất số 3 không ạ? Có bức điện tín hỏa tốc đặc biệt từ Ban Liên lạc Cựu chiến binh mặt trận Tây Nguyên gửi đích danh đồng chí!”
Tiếng cười nói trong sân đình bỗng chốc im bặt. Mọi ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía người lính bưu tá.
Trần Bình sững sờ trong tích tắc, bắp ngô trên tay anh khựng lại giữa không trung. Một luồng điện chạy dọc sống lưng, khiến lồng ngực anh thắt lại dữ dội.
Bên cạnh anh, Hoài An cũng giật mình buông rơi bắp ngô xuống đĩa. Trái tim cô đập thình thịch liên hồi, từng thớ thịt căng lên khi dòng chữ "Mặt trận Tây Nguyên" vang vọng bên tai. Manh mối về nơi hy sinh của anh trai Hoài Nam, điều mà hai vợ chồng khắc khoải tìm kiếm bấy lâu nay, rốt cuộc đã có hồi âm.