Xuyên không thập niên 70

Chương 24: Lửa ấm gian bếp nghèo

Dưới ánh hoàng hôn mùa đông đang bảng lảng buông xuống sân đình An Hòa, tiếng xôn xao của hàng trăm xã viên bỗng chốc lặng phắc. Gió bấc từ triền sông Đáy thổi thốc qua rặng nhãn già, mang theo cái buốt giá cắt da, nhưng Trần Bình chỉ cảm thấy một luồng hơi nóng đột ngột xông thẳng lên thái dương.

Anh hít một hơi thật sâu để nén lại nhịp tim đang dộng thình thình vào lồng ngực. Tác phong người lính từng vào sinh ra tử rèn cho anh sự điềm tĩnh sắt đá trước đám đông. Bình đứng thẳng người, bàn chân trái hơi gượng nhẹ nhưng bước đi vẫn dứt khoát, tiến về phía bậc tam cấp nơi người chiến sĩ bưu tá đang đứng.

“Tôi là Trần Bình, Đội trưởng Đội 3.”

Giọng anh trầm, chắc nịch và vang rõ trong không gian tĩnh mịch.

Người bưu tá trẻ vội đưa cuốn sổ giao nhận màu nâu xỉn cùng mẩu bút chì cùn. Bình đón lấy, ký tên nắn nót vào dòng xác nhận rồi cẩn trọng nhận phong bì thư. Vỏ phong bì giấy bổi ngả màu vàng ố, viền sọc đỏ trắng đặc trưng của thư tín hỏa tốc quân sự, góc trên bên trái đóng một con dấu đỏ vuông vức: Ban Liên lạc Cựu chiến binh Mặt trận Tây Nguyên – Trung đoàn 66.

Bình cảm nhận được sức nặng vô hình của bức thư qua đầu ngón tay chai sạn. Anh không vội xé phong bì ngay giữa chốn đông người. Với sự cẩn trọng vốn có, anh vuốt thẳng góc giấy rồi trân trọng lùa sâu vào túi áo trấn thủ bên ngực trái, nơi nhịp đập của trái tim đang đập dồn dập sau lớp vải dù bạc màu.

Quay lại bàn, ánh mắt Bình chạm vào ánh mắt của Hoài An. Đôi mắt trong veo của vợ anh giờ đây phủ một tầng sương mỏng, đôi môi khẽ mím lại để kìm nén sự chấn động trong lòng. Bình đưa tay xuống gầm bàn, khẽ nắm lấy những ngón tay đang run rẩy của cô, truyền sang một cái siết nhẹ đầy kiên định.

“Về nhà rồi mình cùng mở, em nhé.” Anh thì thầm, thanh âm chỉ đủ hai người nghe thấy.

An khẽ gật đầu, hốc mắt hoe đỏ nhưng nét mặt đã an tâm hơn phần nào.

Đúng lúc ấy, Bí thư Đảng ủy xã Chu Văn Vượng và Trưởng Công an Nguyễn Văn Chiến từ gian đình bước ra sân. Trên tay Bí thư Vượng là một tập công văn có dấu đỏ tươi của Huyện ủy và Ủy ban Hành chính huyện Chương Mỹ. Không khí trong sân đình lại một lần nữa chùng xuống, ai nấy đều nín thở chờ đợi.

Bí thư Vượng hắng giọng, chiếc loa phóng thanh cầm tay rít lên một tiếng ngắn trước khi giọng nói sang sảng của ông vang lên khắp sân đình:

“Thưa toàn thể bà con xã viên! Nhân buổi liên hoan mừng công thu hoạch thắng lợi của Đội sản xuất số 3 hôm nay, thay mặt Đảng ủy và Ban Quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp An Hòa, tôi xin công bố thông báo kết luận chính thức của Thường vụ Huyện ủy Chương Mỹ về vụ việc xảy ra tại Đội sản xuất số 1 vừa qua!”

Mọi cặp mắt lập tức đổ dồn về phía người đứng đầu xã. Những ngày qua, dù Đội 3 hân hoan trong niềm vui mùa vàng, nhưng nỗi bức xúc về âm mưu đê hèn của phe cánh Đặng Tiết và Phó Tươi vẫn âm ỉ cháy trong lòng bà con.

“Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, tang vật thu giữ và lời khai của các đương sự,” Bí thư Vượng đọc rành rọt từng chữ, “Huyện ủy kết luận: Đồng chí Đặng Tiết, Đội trưởng Đội 1, đã phạm sai lầm nghiêm trọng trong công tác quản lý tài sản tập thể, có hành vi báo cáo gian dối việc hư hao vật tư, lơ là thiếu trách nhiệm để thất thoát phân đạm U-rê của nhà nước. Nghiêm trọng hơn, Đặng Tiết đã đồng mưu cùng cháu ruột là Đặng Thược và bà Phó Tươi, cố ý dựng hiện trường giả nhằm vu khống, bôi nhọ cán bộ và xã viên ưu tú của Đội 3.”

Tiếng xì xào phẫn nộ bắt đầu rộ lên từ các góc sân đình. Những người dân chân lấm tay bùn cả đời chỉ biết cắm mặt vào đồng ruộng nay mới thấu hết sự nham hiểm của những kẻ mang danh cán bộ mà lòng dạ hẹp hòi.

Bí thư Vượng giơ tay ra hiệu trật tự rồi dõng dạc tuyên đọc phần kỷ luật:

“Ban Thường vụ Huyện ủy quyết định: Thi hành kỷ luật cảnh cáo toàn diện trước Đảng và chính quyền đối với Đặng Tiết; cách chức Đội trưởng Đội sản xuất số 1, điều chuyển làm lao động phổ thông, bồi thường toàn bộ số phân bón đã làm thất thoát vào công quỹ. Đối với bà Phó Tươi, Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo Ban Chấp hành Hội Phụ nữ xã An Hòa tiến hành bãi nhiệm chức vụ Chi hội trưởng Phụ nữ, giao Công an huyện tiếp tục điều tra, xử lý hành vi kích động và vu khống theo quy định của pháp luật!”

Một tràng pháo tay rầm rộ, vang dội như sấm dậy bùng lên khắp sân đình. Tiếng vỗ tay của bà con Đội 3, của những xã viên Đội 1 từng bị đè nén, hòa cùng tiếng hò reo hả hê xua tan đi sự ảm đạm của buổi chiều đông giá rét.

Chị Đượm đứng bên cạnh An, vừa đập hai bàn tay béo múp vào nhau vừa cười toác miệng:

“Đáng đời quân sâu mọt! Cho chừa cái thói ghen ăn tức ở, hại người hại mình! Từ nay hết đường vênh váo, rêu rao đạo đức cách mạng rởm!”

Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng cạnh Bí thư Vượng, gương mặt đỏ bừng vì xấu hổ nhưng cũng thở phào nhẹ nhõm. Ông Khoát hiểu rằng, quyết định dứt khoát của huyện không chỉ trả lại công bằng cho vợ chồng Bình – An, mà còn cứu vớt uy tín của Hợp tác xã An Hòa khỏi vũng lầy của căn bệnh quan liêu, bao che. Sự thật đã sáng tỏ, tảng đá đè nặng lên ngực những người làm ăn chân chính bấy lâu nay rốt cuộc đã bị hất tung.

*

Đêm mùa đông ở đồng bằng Bắc Bộ buông xuống rất nhanh. Mới hơn bảy giờ tối mà sương muối đã giăng mờ mịt khắp các lối ngõ, gió bấc hun hút rít qua những khe liếp của gian nhà tranh ba gian.

Trong gian nhà nhỏ ấm áp, ngọn đèn dầu Hoa Sen được vặn bấc to hơn thường lệ, tỏa ra thứ ánh sáng vàng dịu xua đi màn đêm u tịch. Mùi dầu hỏa khen khét quen thuộc hòa quyện với hương thơm ngai ngái của rơm rạ mới lợp trên mái nhà tạo nên một phong vị bình yên đến lạ kỳ.

Bà cụ Mẫn đã sang nhà cụ giáo Khiêm bên xóm Đoài để tạ ơn tổ tiên và bàn chuyện lễ tết cho hai gia đình. Gian nhà chỉ còn lại hai vợ chồng. Bình ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc mạc đã lên nước bóng loáng, bàn tay cẩn thận rút bức điện tín từ trong túi áo ra.

Hoài An ngồi sát bên anh, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên đầu gối. Dưới ánh đèn dầu lay lắt, gương mặt cô lộ rõ sự bồn chồn, đôi mắt chăm chú dõi theo từng cử động nhỏ của chồng.

Bình rút chiếc dao nhíp gấp kiểu Liên Xô – kỷ vật chiến trường anh luôn mang bên mình – khẽ khàng rạch mép phong bì. Anh hít một hơi sâu, rút ra tờ giấy điện tín mỏng mảnh màu vàng nhạt, in những dòng chữ đánh máy hoa không dấu đặc trưng của ngành bưu điện thời chiến:

“GỬI ĐỒNG CHÍ TRẦN BÌNH – NGUYÊN ĐẠI ĐỘI PHÓ ĐẠI ĐỘI 2, TIỂU ĐOÀN 7. BAN LIÊN LẠC ĐÃ ĐỐI CHIẾU NHẬT KÝ CHIẾN ĐẤU VÀ TÌM ĐƯỢC BẢN ĐỒ KHẮC PHỤC CỦA TRUNG ĐOÀN 66. XÁC NHẬN TỌA ĐỘ BÃI CHÔN CẤT LIỆT SĨ TẠI CHÂN CAO ĐIỂM 1015 (ĐỒI CHARLIE – ĐẮK TÔ, KON TUM). KHẮC BIA TẠM BẰNG TẤM TÔN GHI DANH ĐỒNG CHÍ NGUYỄN HOÀI NAM, HY SINH THÁNG 4 NĂM 1972 TRONG TRẬN TẬP KÍCH ĐIỂM CAO. ĐỒI CÂY TÁI SINH DỄ TIẾP CẬN. SAU TẾT MẬU NGỌ ĐOÀN KHẢO SÁT QUÂN KHU SẼ VÀO THỰC ĐỊA. LIÊN HỆ GẤP ĐỂ PHỐI HỢP.”

Đọc đến dòng chữ “Nguyễn Hoài Nam, hy sinh tháng 4 năm 1972”, giọng Bình bỗng nghẹn lại. Cổ họng anh như có vật gì chặn ngang, sống mũi cay xè. Ký ức về những ngày tháng đỏ lửa ở chiến trường Tây Nguyên, về những trận pháo dập mù trời trên đỉnh Đắk Tô lại dội về cuồn cuộn như thác lũ.

Bên cạnh anh, An không kìm được nữa. Cô vùi mặt vào bả vai rộng của Bình, hai vai run lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào. Những giọt nước mắt nóng hổi thấm qua lớp áo trấn thủ, chạm vào da thịt anh ấm sực. Đó là giọt nước mắt của sự giải tỏa sau bao năm tháng đằng đẵng khắc khoải, là nỗi thương xót của người em gái hướng về người anh ruột thịt đã ngã xuống nơi rừng thiêng nước độc vì độc lập của non sông.

Bình vòng cánh tay rắn rỏi ôm lấy vai An, kéo cô sát vào lòng mình. Anh đặt bàn tay thô ráp lên mái tóc đen dày của vợ, nhẹ nhàng vỗ về:

“Tìm thấy rồi, An ơi... Tìm thấy anh Nam rồi.”

An ngước lên, đôi mắt nhòa lệ nhìn thẳng vào mắt chồng:

“Anh... có thật là anh trai em không anh? Năm năm rồi, thầy u em ngày nào cũng ngóng tin anh ấy. Cứ mỗi bận có người làng đi bộ đội về qua ngõ, u lại chạy ra bậu cửa nhìn ngơ ngác... Thầy thì đêm nào cũng ngồi chong đèn đọc lại mấy lá thư ố vàng gửi từ năm bảy mốt...”

“Là thật, em ạ!” Bình quả quyết, ánh mắt rực lên niềm tin mãnh liệt của một người lính. “Bản đồ của Trung đoàn 66 không thể sai được. Ban Liên lạc đã cất công đối chiếu từng trang nhật ký tác chiến. Tọa độ điểm cao 1015 ở Đắk Tô là nơi đơn vị anh Nam chốt giữ và chiến đấu kiên cường đến viên đạn cuối cùng. Anh hứa với em, thu xếp xong vụ cấy chiêm xuân này, đất đai Đội 3 vào nếp ổn định, anh sẽ xin phép xã và Huyện đội cho anh vào Tây Nguyên một chuyến. Dù có phải lội qua trăm con suối, trèo qua ngàn quả đồi, anh cũng sẽ đưa anh Nam về lại với đồng đất quê mình, về bên thầy u.”

An nhìn sâu vào đôi mắt kiên định, chân thành của người đàn ông trước mặt. Trong khoảnh khắc ấy, mọi sự cô đơn, bơ vơ của một linh hồn lưu lạc từ thế kỷ 21 dường như hoàn toàn tan biến. Ở thời đại thiếu thốn trăm bề này, cô đã tìm được một bến đỗ vững chãi như núi thái sơn. Bình không hứa hẹn những lời hoa mỹ, nhưng mỗi lời anh nói ra đều nặng tựa ngàn cân, khắc sâu bằng danh dự của người chiến sĩ và tình yêu son sắt của người chồng.

Cô lau vội nước mắt, nắm chặt lấy bàn tay sần sùi của anh:

“Em tin anh. Đợi qua giáp hạt, lúa chiêm bén rễ xanh đồng, em sẽ chuẩn bị lương khô và lộ phí chu tất để anh lên đường.”

Bình mỉm cười, nụ cười hiền hậu làm giãn ra những nếp nhăn sương gió trên vầng trán rộng. Anh cẩn thận gấp bức điện tín lại, kẹp vào giữa cuốn sổ tay bọc vải bạt quân đội, cất kỹ vào ngăn kéo bàn. Tin mừng này tựa như một đốm lửa bùng cháy giữa đêm đông, thắp sáng niềm hy vọng và sưởi ấm cả căn nhà nhỏ.

*

Sáng hôm sau, gian bếp của gia đình Bình rộn rã hẳn lên.

Để cảm ơn những người xóm giềng thơm thảo đã cùng đồng cam cộng khổ, không ngại hiểm nguy đứng ra che chở cho gia đình trong những ngày bị vu oan giáng họa, An quyết định làm một bữa cơm tất niên sớm. Giữa thời buổi thóc cao gạo kém, thịt lợn mậu dịch chỉ dám trông vào mấy lạng phiếu Tết, làm một bữa cơm đãi khách tươm tất là chuyện khó hơn lên trời. Nhưng với bàn tay khéo léo và khối óc của một kỹ sư nông nghiệp, An đã biến những sản vật bình dị quanh vườn thành một mâm cỗ thịnh soạn đến bất ngờ.

Bình lo việc chẻ củi, xách nước từ giếng làng đổ đầy chiếc chum sành lớn cạnh bể nước mưa. Thỉnh thoảng, anh lại dừng tay búa, đứng tựa cửa bếp lặng ngắm vợ mình thoăn thoắt làm việc.An mặc chiếc áo bà ba màu nâu đã sờn vai, mái tóc tết lệch gọn gàng gài chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo mà Bình tặng hôm nào. Đôi tay thoăn thoắt của cô khiến Bình không khỏi thán phục.

Trên chiếc nia rách đặt cạnh bếp lò, những tai nấm rơm mập mạp, trắng ngà tròn trĩnh như những chiếc cúc áo lớn vừa được An hái từ giàn ủ rơm rạ sau vườn còn đọng những giọt sương mai. Cô dùng dao nhíp gọt sạch phần gốc dính mùn rơm, ngâm qua nước muối loãng rồi chần sơ qua nước sôi bốc khói.

Bên cạnh là bộ lòng của con gà hoa mơ mà Ban Quản trị hợp tác xã thưởng cho Bình hôm trước, được làm sạch sẽ bằng muối hạt và tro bếp, thái mỏng tang ướp chút nước mắm cốt cáy đậm đà. Khi chiếc chảo gang đặt trên bếp củi đỏ rực réo lên xèo xèo, An phi thơm một củ hành tăm đập dập rồi trút lòng gà vào đảo nhanh tay. Mùi thơm ngậy bốc lên ngào ngạt. Chờ lòng gà vừa chín tới, cô trút toàn bộ đĩa nấm rơm vào, đảo đều trong vài phút rồi rắc một nhúm hạt tiêu sọ cay nồng cùng nắm hành hoa xanh ngắt thái nhỏ. Vị ngọt đậm, giòn sần sật của nấm rơm quyện với vị béo bùi của lòng gà tạo nên một món ăn thanh tao, vượt xa những món xào ngập mỡ lợn thời bấy giờ.

Món thứ hai là nồi canh chua tép riu nấu bắp cải. Tép riu sông Đáy do chính tay Bình kéo vó đêm qua ở bến đò, con nào con nấy còn tươi rói, nhảy tanh tách, vỏ trong veo ánh lên sắc xanh lam. An cho tép vào cối đá giã dập cùng một chút muối, lọc lấy bát nước cốt ngọt lịm rồi bắc lên bếp đun nhỏ lửa cho thịt tép đóng màng như gạch cua.

Chiếc bắp cải ngọt lịm hái từ mảnh đất 5% được ủ bằng phân bèo hoa dâu kỵ khí lá cuộn chặt ních, thái sợi mỏng như tơ. An thả bắp cải vào nồi canh tép đang sôi sùng sục, thêm vào mấy quả cà chua chín mọng bổ múi cau và vài thìa nước dưa cải muối chua để tạo vị thanh mát. Nồi canh bốc khói nghi ngút, thơm lừng vị đồng bãi, chua dịu nơi đầu lưỡi và ngọt hậu nơi cuống họng.

Đặc biệt nhất là món tráng miệng: nồi chè ngô đỗ tương nấu bằng rỉ mật mía. Ngô nếp bãi Soi mới bẻ còn đẫm sữa ngọt ngào được An dùng dao bào mỏng, ninh nhừ cùng những hạt đỗ tương mẩy tròn đã ngâm nở đãi sạch vỏ. Khi hạt ngô dẻo quánh, đỗ tương bở tơi béo ngậy, cô mới từ từ rót bát rỉ mật mía nâu sẫm, sánh đặc – thứ phụ phẩm cô xin được từ lò mật thủ công bên xã bạn – vào nồi, khuấy đều tay bằng đôi đũa cả. Vị ngọt đậm đà, mộc mạc của mật mía ngấm sâu vào từng hạt ngô, hạt đỗ, thoảng hương gừng già giã nhuyễn thơm cay ấm nồng khắp cả gian bếp nhỏ.

Trưa tròn bóng nắng, khách khứa đã tề tựu đông đủ. Chị Đượm xách sang một rổ rau thơm tươi rói, bác Cả Sắn chống gậy mang theo chai rượu nếp cái hoa vàng nút lá chuối khô đã ủ ngót nửa năm dưới lòng đất, còn thím Ba thì bế theo đứa con nhỏ, tay xách chục củ khoai dong luộc nóng hổi.

Gian nhà ba gian rộn rã tiếng cười nói thân tình. Chiếc chiếu cói hoa trải giữa nhà, mâm cơm được dọn lên tinh tươm trên chiếc mâm đồng đánh bóng loáng.

Bác Cả Sắn vuốt chòm râu bạc, nhìn mâm cơm mà hai mắt sáng rực, tấm tắc khen:

“Trời đất ơi! Thời buổi này mà cô An bày được mâm cơm thế này thì đúng là khéo hết phần thiên hạ! Nấm rơm béo múp, tép riu ngọt lịm, lại thêm nồi canh chua giải ngấy... Tôi sống đến ngần này tuổi, trải qua mấy bận đói giáp hạt, chưa thấy năm nào bãi Soi lại đẻ ra vàng, sinh ra lộc cho bà con Đội 3 như năm nay!”

Chị Đượm gắp một miếng nấm rơm xào đưa vào miệng, nhai giòn sần sật rồi nhắm nghiền mắt lại tận hưởng:

“Ui chao, ngọt lịm thấu tận ruột gan thím Ba ạ! Ăn miếng nấm này vào thấy bõ cái công hôm nọ chúng mình vác bồ cào đi vớt bèo hoa dâu giữa trời rét mướt! Cứ nghe lời cô An với chú Bình thì dân Đội 3 ta chẳng mấy chốc mà ngói hóa cả làng!”

Thím Ba rơm rớm nước mắt, nhìn Bình và An với lòng biết ơn sâu nặng:

“Chẳng giấu gì các bác, hồi đầu vụ rét, nhìn mấy sào rau héo rũ, tôi ôm con khóc ròng vì nghĩ Tết này mẹ con lại phải cạo củ ráy ăn trừ bữa. May nhờ có chú Bình chia công điểm sòng phẳng, cô An bày cho cách ủ men trát bùn bón cây, cứu sống cả ruộng rau màu. Bát cơm ngày Tết của nhà tôi năm nay, một nửa là nhờ ơn vợ chồng chú thím!”

Bình đứng dậy, rót rượu từ chai sành của bác Cả Sắn ra những chiếc chén hoa hồng mẻ miệng, cung kính nâng chén:

“Bà con đừng nói thế mà chúng cháu ngại. Đội 3 ta có được ngày hôm nay là nhờ công sức mồ hôi của tất cả mọi người. Lúc hoạn nạn, bà con không quản đêm hôm ra đồng hộ đê, lúc vợ chồng cháu bị kẻ xấu gài bẫy, mọi người đồng lòng đứng ra làm chứng che chở. Chén rượu này, cháu xin kính chúc các bác, các thím một năm mới bình an, đoàn kết, vụ chiêm xuân tới đây toàn đội ta lại tiếp tục thắng lớn!”

“Uống! Uống vì Đội 3 chúng ta!”

Tiếng bát đĩa va vào nhau lách cách hòa cùng tiếng cười sảng khoái, ấm áp tình làng nghĩa xóm. Giữa những năm tháng gian khó của thời bao cấp, khi đồng tiền còn mất giá hơn mớ rau ngọn cỏ, thì sự đùm bọc, tin yêu và sẻ chia mộc mạc này chính là thứ tài sản vô giá nhất, sưởi ấm lòng người qua những ngày đông buốt giá.

*

Tiệc tan, nắng chiều nhạt dần sau rặng tre đầu ngõ. Chị Đượm và thím Ba xúm vào phụ An dọn dẹp bát đĩa rồi vui vẻ ra về. Gian nhà lại trở về với vẻ tĩnh lặng, ấm cúng thường nhật.

Bà cụ Mẫn nãy giờ chỉ ngồi nhai trầu bên mép chõng, ánh mắt đôn hậu ngắm nhìn các con và xóm giềng. Đợi khi gian nhà đã ngăn nắp, bà khẽ cất tiếng gọi:

“Bình ơi, An ơi! Lại đây u bảo.”

Hai vợ chồng nhìn nhau rồi cùng bước lại gần chõng tre. Bình ngồi xuống chiếc ghế đẩu, còn An ngoan ngoãn ngồi ghé bên mép chõng, nắm lấy bàn tay gầy guộc, nhăn nheo với những khớp xương to bè vì lam lũ của mẹ chồng.

Bà cụ Mẫn nhìn An thật lâu. Đôi mắt mờ đục vì năm tháng của người mẹ già ánh lên niềm xúc động khôn xiết. Bà lần giở vạt áo cánh nhung đen đã bạc màu, rút ra từ chiếc túi trong một chùm chìa khóa sắt cũ kỹ. Trên chùm chìa khóa ấy, nổi bật nhất là chiếc khóa đồng đúc cổ kính, đã mòn nhẵn góc cạnh và ngả sang màu xỉn đồng thau cổ xưa.

Bình thoáng sững sờ. Anh nhận ra chiếc chìa khóa ấy. Đó là chìa khóa mở chiếc hòm thóc bằng gỗ xoan đào đại thụ – báu vật duy nhất truyền qua ba đời của dòng họ Trần, được kê trang trọng ở gian buồng trong. Chiếc chìa khóa ấy, ngày xưa trước khi lên đường đi dân công hỏa tuyến Điện Biên rồi ngã xuống nơi chiến trường, thầy anh đã trao lại cho u. Suốt mấy chục năm góa bụa nuôi con khôn lớn, u gìn giữ nó như báu vật, chưa từng trao cho bất kỳ ai.

Bà cụ Mẫn run run đặt chùm chìa khóa vào lòng bàn tay mềm mại nhưng rắn rỏi của An, rồi khép những ngón tay gầy gò của mình bao bọc lấy tay con dâu:

“Con An à... U già rồi, mắt mờ chân chậm, cái đầu cũng chẳng còn tính toán nhanh nhạy được như trước nữa. Mấy tháng con về làm dâu nhà này, u nhìn thấy hết, hiểu hết. Con là đứa có học, có đức, lại chịu thương chịu khó. Con không chê nhà này nghèo, không chê thằng Bình thương tật, một lòng một dạ vun vén cho gia đình, lại đem chữ nghĩa ra giúp đỡ bà con lối xóm thoát khỏi cái đói.”

Bà ngừng lại, nghẹn ngào chớp mắt để giọt nước mắt già nua không lăn xuống gò má nhăn nheo:

“Hôm nay, trước bàn thờ tổ tiên và trước mặt thằng Bình, u chính thức trao chiếc chìa khóa hòm thóc này cho con. Từ nay về sau, con là dâu trưởng, là người nắm giữ tay hòm chìa khóa, cai quản nếp nhà này. Tiền nong, thóc lúa, đối nội đối ngoại trong nhà, một tay con thu xếp. U tin con sẽ thay u giữ cho gian bếp này luôn đỏ lửa, giữ cho nếp nhà họ Trần được ấm êm, hưng thịnh.”

Cầm chiếc chìa đồng nặng trĩu và lạnh ngắt trong tay, nhưng An lại cảm thấy một luồng hơi ấm mãnh liệt lan tỏa khắp tâm can. Cô hiểu rằng, ở chốn làng quê Bắc Bộ xưa cũ, trao chìa khóa hòm thóc không đơn thuần là trao quyền quản lý kinh tế, mà đó là sự thừa nhận tuyệt đối, là niềm tin yêu trọn vẹn nhất mà một người mẹ chồng dành cho nàng dâu.

Hốc mắt An ươn ướt. Cô siết chặt bàn tay mẹ, cúi đầu nghẹn ngào:

“U... Con đội ơn u. Con xin nhận sự tin tưởng của u. Con hứa sẽ cùng anh Bình chăm lo cho u thật chu đáo, giữ gìn hòm thóc, nếp nhà, không bao giờ để u phải phiền lòng.”

Bình ngồi bên cạnh, lặng lẽ đặt bàn tay mình lên hai bàn tay của mẹ và vợ. Ba bàn tay đan bện vào nhau – một bàn tay của thế hệ đi trước cả đời hy sinh, một bàn tay của người lính kiên cường, và một bàn tay của người phụ nữ mang tri thức mới. Giữa gian nhà rạ nghèo nàn, một sự tiếp nối thiêng liêng vừa được xác lập, bền chặt và ấm áp hơn bất cứ thứ vàng ngọc nào trên đời.

*

Chập tối hôm ấy, không khí cận kề đêm ba mươi Tết bắt đầu len lỏi vào từng ngõ xóm. Mùi lá dong luộc, mùi nếp thơm từ các nhà ven sông thoang thoảng bay trong gió.

Bình cùng An ra sân sau kiểm tra lại chuồng lợn tăng gia và che chắn thêm mấy tấm cói cho luống rau giống chuẩn bị cho vụ xuân. Bầu trời đêm nay bỗng tối sầm một cách kỳ lạ, không một ánh sao. Những đám mây đen nặng trĩu từ phía bắc cuồn cuộn trôi về, che kín đỉnh núi Trầm phía xa xa.

Gió bấc đột ngột đổi hướng, thổi thốc từng cơn giận dữ ràn rạt qua ngọn đa đầu làng, kéo theo những hạt mưa phùn li ti buốt nhói như châm kim vào da thịt. Nhiệt độ ngoài trời tụt dốc không phanh, hơi thở phà ra đọng lại thành từng làn khói trắng xóa.

Đúng lúc ấy, chiếc loa truyền thanh bằng sắt tây mắc trên ngọn cây đa đầu làng bỗng rè rè phát ra những tiếng nổ lép bép của sóng điện từ, xé toạc màn đêm tĩnh mịch:

“A lô! A lô! Xin bà con chú ý lắng nghe bản tin dự báo thời tiết khẩn cấp của Đài Khí tượng Thủy văn Trung ương!”

Giọng phát thanh viên khẩn trương, đanh gọn vang vọng khắp đồng bãi:

“Hiện nay, một khối không khí lạnh cực mạnh có cường độ hiếm thấy đang di chuyển nhanh từ phương Bắc xuống nước ta. Dự báo từ đêm nay đến ngày mai, bộ phận không khí lạnh này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Nền nhiệt độ miền Bắc sẽ tụt dốc thê thảm, vùng đồng bằng giảm sâu xuống dưới sáu độ C, xuất hiện rét đậm, rét hại trên diện rộng kèm theo mưa phùn buốt giá kéo dài nhiều ngày. Đề nghị các ban ngành, các hợp tác xã nông nghiệp khẩn trương triển khai ngay các biện pháp phòng chống rét đặc biệt cho mạ xuân và đàn gia súc!”

Tiếng loa vừa dứt, một cơn gió giật cực mạnh thốc tới làm rung chuyển cả rặng tre ven đê, lá khô bay rào rào trên mái rạ.

Bình đứng sững giữa sân, bàn tay siết chặt lấy thanh giằng hàng rào. Trực giác nhạy bén của người lính trận mách bảo anh rằng một thử thách vô cùng khốc liệt đang ập đến. Dưới sáu độ C, trời lại mưa phùn buốt giá... Đội 3 có thể tự chủ che chắn cho hoa màu, nhưng toàn bộ sức kéo của hợp tác xã – đàn trâu cày hàng trăm con đang nhốt trong những khu chuồng hở toang hoác của Đội 1 – liệu có thể chống chọi nổi qua cơn cuồng phong băng giá này?

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn