Trần Bình đứng sừng sững bên bậu cửa gian nhà ba gian, bàn tay to bản, chai sần của anh siết chặt lấy những ngón tay thon nhỏ của Hoài An. Vết thương do đạn sượt nơi bắp chân trái khẽ nhói lên một nhịp quen thuộc mỗi khi trở trời, nhưng sống lưng anh vẫn thẳng tắp như cây xoan đào trước ngõ. Trải qua bao năm tháng đối mặt với lằn ranh sinh tử ở chiến trường Tây Nam, cái cảm giác lạnh lẽo trước giờ nổ súng chưa bao giờ xa lạ với anh. Chỉ có điều, sáng hôm nay, trận địa không nằm giữa rừng khộp hay bờ kênh tầm vông, mà nằm ngay trên mảnh đất vườn năm phần trăm của gia đình, nơi người phụ nữ anh yêu thương nhất đang bị những kẻ đê tiện rắp tâm dồn vào chân tường.
Làn sương mù mùa đông bốc lên từ mặt sông Đáy trắng đục như khói lò vôi, quấn chặt lấy rặng tre ngà đầu ngõ. Tiếng còi hơi chát chúa của chiếc xe U-oát một cầu vừa dứt thì tiếng lốp xe nghiến sỏi lạo xạo đã dừng khựng lại ngay trước bờ giậu dâm bụt. Khói dầu đi-ê-zen khét lẹt xộc thẳng vào bầu không khí thanh sạch của sớm mai.
“Đồng chí Lê Nghiêm, đây rồi! Chính là cái cổng tre này!”
Tiếng then chốt cửa xe bằng sắt va vào nhau lách cách, tiếp đó là giọng the thé quen thuộc của bà Phó Tươi. Mụ xăm xăm đi trước, tà áo len sợi màu đỏ đun bay phần phật, khuôn mặt bạnh ra rạng ngời vẻ hân hoan độc địa của một kẻ vừa nắm chắc phần thắng trong tay. Bám sát ngay sau gót mụ là Đặng Tiết, Đội trưởng Đội 1. Gã mặc chiếc áo đại hàn lót bông xanh công nhân, cổ quàng khăn len sọc xám, hai tay thọc sâu vào túi áo nhưng đôi mắt ti hí dưới đôi lông mày rậm rạp lại đảo như lạc rang, hết nhìn lên mái rạ lại ngó lén ra phía vườn sau.
Từ trên chiếc xe thùng sắt bước xuống là bốn người nữa. Đi đầu là Lê Nghiêm, cán bộ thanh tra liên ngành của huyện Chương Mỹ. Hắn trạc ngoài ba mươi, khuôn mặt xương xẩu, cằm nhọn hoắt, khoác chiếc măng-tô vải bạt kaki cứng quắc, dưới nách cắp chiếc cặp da màu nâu bóng lộn. Cài bên túi ngực chiếc bút máy Kim Tinh vỏ nhôm sáng loáng, Nghiêm bước những bước dài dứt khoát, toát lên vẻ quyền uy lạnh lùng của người nắm quyền sinh sát về mặt hành chính. Đi cùng hắn là hai dân quân huyện mang súng trường CKC bọc bao vải dù và một người đàn ông trung niên mặc áo bông màu xanh bộ đội đã sờn vai, tay xách chiếc hòm gỗ nhỏ khắc chữ thập đỏ mờ mờ cùng cuốn sổ bìa cứng. Bình nheo mắt nhận ra người này: kỹ sư nông học Hoàng Tuấn của Ty Nông nghiệp tỉnh Hà Sơn Bình, người từng về địa phương khảo sát đợt rét hại mấy hôm trước. Có lẽ Lê Nghiêm đã cố tình kéo theo vị cán bộ kỹ thuật của tỉnh để làm cái cớ “giám định chuyên môn” nhằm đóng chiếc đinh cuối cùng vào cỗ quan tài vu khống.
“Đồng chí Trần Bình có nhà không?” Lê Nghiêm dừng chân ngay giữa sân gạch, chẳng thèm nhìn quanh, giọng sang sảng đầy tính mệnh lệnh rọi thẳng vào hiên nhà.
Bình không vội vã. Anh quay sang nhìn An, thấy ánh mắt vợ trong veo, không một gợn sóng sợ hãi, khóe môi cô còn khẽ mỉm cười như muốn tiếp thêm cho anh sự an tâm tuyệt đối. Anh buông tay cô, đĩnh đạc bước qua ngạch cửa, sải những bước chân vững chãi xuống bậc thềm đá ong.
“Tôi là Trần Bình, Đội trưởng Đội sản xuất số 3. Xin hỏi các đồng chí thanh tra huyện và các vị khách quý về thôn An Hòa từ sớm tinh sương có việc gì đột xuất?”
Giọng Bình trầm, dày và đanh gọn, mang trọn phong thái của một người lính đã từng chỉ huy tiểu đội qua mưa bom bão đạn. Sự điềm tĩnh đến lạnh lùng ấy dường như nằm ngoài dự liệu của Lê Nghiêm. Cán bộ thanh tra huyện hơi khựng lại nửa nhịp, nhưng lập tức lấy lại vẻ hách dịch thường ngày. Hắn rút phắt từ trong cặp da ra một tờ công văn đánh máy rơm rác trên nền giấy bổi ngả vàng, dõng dạc tuyên đọc:
“Căn cứ vào đơn thư khẩn cấp của quần chúng nhân dân tố giác hành vi tiêu cực, tàng trữ trái phép vật tư chiến lược của Nhà nước phục vụ mục đích cá nhân; xét đề nghị của bộ phận kiểm soát kinh tế, Đoàn thanh tra liên ngành huyện Chương Mỹ phối hợp cùng cán bộ Ty Nông nghiệp tỉnh tiến hành kiểm tra đột xuất tại hộ gia đình đồng chí Trần Bình và Nguyễn Hoài An. Yêu cầu chủ hộ hợp tác, mở toàn bộ kho tàng, chuồng trại và vườn tược để đoàn thi hành công vụ!”
Lê Nghiêm vừa dứt lời, bà Phó Tươi đã nhảy choi choi lên như giẫm phải than hồng, ngón tay trỏ khẳng khiu sơn móng nham nhở chĩa thẳng vào mặt Bình:
“Đấy! Nghe rõ chưa hả anh Bình? Đừng có cậy công thương binh, cậy mấy cái bằng khen mà muốn làm mưa làm gió ở cái đất An Hòa này! Đội 1 chúng tôi mùa này rét mướt cắn răng chịu mất mùa, đạm không có một hạt mà bón, thế mà vườn nhà anh rau tốt bời bời, ngô bãi Soi xanh ngắt một màu! Hôm nay thanh tra huyện về tận nơi, bắt tận tay day tận trán cái thói tuồn đạm U-rê của Nhà nước về chôn giấu!”
“Bà Tươi! Bà ăn nói cho cẩn thận!”
Một tiếng thét giận dữ vang lên từ ngoài ngõ cắt ngang chuỗi lời xỉa xói của mụ. Chị Đượm thở hồng hộc xông vào, theo sau là bác Cả Sắn, thím Ba cùng hàng chục xã viên Đội 3. Người cầm đòn gánh, người vác cuốc, bùn đất bám đầy ống quần chưa kịp rửa. Tiếng còi xe U-oát và tiếng loa mồm của mụ Tươi từ đầu làng đã đánh động toàn thể bà con đang chuẩn bị ra đồng. Trong chớp mắt, khoảng sân gạch rộng ba gian của nhà Bình đã bị vây kín bởi những khuôn mặt sạm đen vì sương gió, hốc hác vì những bữa cơm độn sắn củ mục, nhưng đôi mắt ai nấy đều bừng bừng lửa giận.
“Bà Phó Tươi, bà đừng có ngậm máu phun người!” Chị Đượm xắn cao tay áo, đứng chắn ngang trước mặt Bình, ngực phập phồng vì tức tưởi. “Đội 3 chúng tôi từ ngày anh Bình chị An về chỉ bảo cách làm ăn, củ khoai củ sắn nhường nhau, hạt thóc giống quý hơn vàng! Anh Bình vì nước mà để lại một phần xương máu ngoài mặt trận, chị An nửa đêm còn lặn lội ra bãi Soi hun khói cứu từng mầm ngô cho hợp tác xã! Cái thứ người gì mà thấy người ta làm được thì ghen ăn tức ở, sáng sớm đã dẫn người về hòng bôi tro trát trấu vào mặt người có công?”
“Đúng đấy! Không ai được đụng vào anh Bình chị An!” Bác Cả Sắn dộng mạnh cán cuốc xuống nền đất nện, giọng khàn đặc nhưng đầy uy lực. “Đoàn thanh tra huyện muốn khám thì phải có bằng chứng rõ ràng! Không thể nghe mấy lời đâm bị thóc chọc bị gạo mà làm nhục cán bộ cơ sở!”
Bà con Đội 3 lập tức nhao nhao hưởng ứng, tạo thành một bức tường người vững chãi che chắn trước thềm nhà. Đặng Tiết thấy thế thì chột dạ, bàn chân lén lút lùi lại phía sau bánh xe U-oát nửa bước, mồ hôi lạnh rịn ra trên trán dù gió bấc đang thổi từng cơn buốt óc. Nhưng Lê Nghiêm thì khác. Hắn đập mạnh chiếc cặp da vào lòng bàn tay, mặt đanh lại:
“Trật tự! Tất cả các đồng chí trật tự! Ai cản trở người thi hành công vụ là chống đối chủ trương của Đảng và Nhà nước! Đồng chí Bình, anh là đảng viên, anh định kích động quần chúng gây rối trật tự đấy à?”
Bình khẽ giơ tay lên. Một cử chỉ dứt khoát nhưng điềm đạm lạ thường của người chỉ huy. Khoảng sân đang ồn ào bỗng chốc im bặt như có phép màu. Bà con Đội 3 dạt sang hai bên, nhìn anh bằng ánh mắt đầy lo lắng và xót xa.
Bình nhìn thẳng vào mắt Lê Nghiêm, giọng bình thản như nước hồ mùa thu:
“Báo cáo đồng chí thanh tra, Đội 3 chúng tôi luôn chấp hành nghiêm chỉnh mọi chủ trương, đường lối. Nếu đoàn kiểm tra huyện có quyết định hợp lệ, tôi sẵn sàng để các đồng chí làm việc. Nhưng kiểm tra cái gì, ở đâu, phải có trình tự rõ ràng, không thể quy chụp vô căn cứ.”
Bà Phó Tươi thấy Bình nhún nhường thì ngỡ anh đã sợ hãi, bèn nhảy xổ ra trước mặt Lê Nghiêm, cười the thé đầy đắc ý:
“Cần gì tìm đâu xa xôi cho mệt hả đồng chí Nghiêm! Tôi chỉ thẳng cho các đồng chí thấy! Tang chứng vật chứng rành rành nó nằm ngay ở hố ủ bèo dâu sau chuồng lợn kia kìa! Đêm hôm qua, à không, chính mắt... chính mắt có người nhìn thấy nó chôn giấu cả bao đạm U-rê nguyên đai nguyên kiện ở dưới đáy hố! Cứ mang xẻng ra đào lên, nếu không có đạm trắng hạt tròn vo của Nhà nước thì tôi xin chịu tội trước toàn dân!”
Đặng Tiết bên cạnh cũng lấy lại vẻ hùng hổ, hắng giọng bồi thêm:
“Đúng đấy đồng chí thanh tra! Đội 1 chúng tôi quản lý kho bãi nghiêm ngặt, đạm về bao nhiêu cân đong đo đếm bấy nhiêu. Riêng Đội 3 tự dưng có thứ 'phân lạ' làm rau xanh ngắt giữa sương muối, ngô bãi Soi tốt ngập đầu người, đích thị là có điều ám muội! Đề nghị đồng chí cho khai quật ngay hố bèo để làm rõ trắng đen!”
Lê Nghiêm gật đầu hài lòng, phẩy tay ra hiệu cho hai anh dân quân mang xẻng bước tới:
“Đi! Ra vườn sau!”
Đám đông bắt đầu xôn xao lo lắng. Chị Đượm cắn chặt môi, mắt rớm lệ nhìn Bình, nhưng Bình chỉ khẽ mỉm cười gật đầu với chị. Anh quay người, khoan thai bước dẫn đường ra phía sau vườn. An cũng lặng lẽ bước theo sau chồng, tà áo nâu bạc màu bay nhè nhẹ trong gió sớm, dáng vẻ thanh thoát đến kỳ lạ.
Khu vườn năm phần trăm hiện ra trước mắt đoàn kiểm tra. Dưới cái rét cắt da cắt thịt của đợt sương muối kỷ lục, mảnh vườn rộng gần hai sào của vợ chồng Bình - An xanh mướt một cách kỳ diệu. Những luống rau cải bắp cuộn chặt như những chiếc bát úp, giàn đậu cô ve trĩu quả mỡ màng, và xa xa là những mô nấm rơm phủ rơm rạ ấm áp. Ở góc vườn sát rặng chuối tiêu, hố ủ bèo hoa dâu hình chữ nhật được trát một lớp bùn non phẳng phiu, mặt bùn hơi nứt nẻ những đường chân chim li ti, khói ấm bốc lên nhè nhẹ thành từng làn sương mỏng trong không khí lạnh buốt.
“Đây rồi! Các đồng chí nhìn thấy chưa? Nó mới trát bùn ngụy trang đấy!” Mụ Tươi xông xáo chỉ tay vào mép hố bèo, giục giã liên hồi. “Đào lên! Đào ngay cái góc bên phải kia lên cho tôi!”
Hai người dân quân nhìn Lê Nghiêm. Nghiêm hất cằm, quát lớn:
“Đào!”
“Khoan đã!”
Một giọng nói dõng dạc, đanh thép cất lên từ phía cửa nách gian bếp. Cánh cửa liếp tre bật mở, hai bóng người bước ra giữa ánh sáng ban mai lờ mờ.
Cả khu vườn bỗng chốc rơi vào một sự tĩnh lặng chết chóc.
Lê Nghiêm trố tròn hai mắt. Đặng Tiết thì như bị sét đánh ngang tai, toàn thân run rẩy như cầy sấy, chiếc khăn len quàng cổ suýt nữa tuột xuống đất. Bà Phó Tươi đang giơ cánh tay xỉa xói bỗng khựng lại giữa không trung, cái miệng há hốc không thốt nên lời.
Người vừa bước ra không ai khác chính là đồng chí Bùi Văn Vượng, Bí thư Đảng ủy xã An Hòa, và đi ngay bên cạnh là anh Nguyễn Văn Chiến, Trưởng Công an xã, trong bộ quân phục công an nhân dân chỉnh tề, ve áo đỏ chói, bên hông đeo khẩu súng ngắn K54 trong bao da nâu bóng.
“Đồng... đồng chí Bí thư? Đồng chí Trưởng Công an?” Lê Nghiêm lắp bắp, chiếc cặp da kẹp dưới nách suýt rơi. “Sao... sao các đồng chí lại ở đây từ sáng sớm thế này?”
Bí thư Vượng bước tới bên hố ủ bèo, ánh mắt nghiêm nghị như dao cạo quét qua khuôn mặt từng người một, cuối cùng dừng lại ở khuôn mặt xám ngoét của Đặng Tiết và mụ Tươi.
“Đồng chí Lê Nghiêm, các đồng chí thanh tra huyện về làm việc tại địa phương mà không thông qua Đảng ủy và Ủy ban xã một lời, tự tiện dẫn người kéo vào nhà đội trưởng sản xuất lúc sáng sớm, thế là vi phạm nguyên tắc hành chính đấy!” Bí thư Vượng cất giọng trầm tĩnh nhưng nặng tựa ngàn cân. “Nhưng thôi, chuyện đó để bàn sau. Vừa rồi bà Phó Tươi và đồng chí Đặng Tiết bảo rằng dưới hố bèo này có chôn một bao đạm U-rê của Nhà nước, đúng không?”
“Dạ... báo cáo Bí thư... quần chúng... quần chúng nhân dân tố giác...” Lê Nghiêm lúng búng biện bạch, mồ hôi trên trán bắt đầu chảy dài xuống thái dương.
“Tốt lắm!” Trưởng Công an Chiến bước lên một bước, rút từ trong cặp công tác ra một tệp hồ sơ kẹp trong bìa các-tông. “Khỏi cần các đồng chí huyện phải nhọc công đào bới! Thay mặt Công an xã An Hòa, tôi xin công bố: Toàn bộ hiện trường hố bèo này đã được Đảng ủy và Công an xã trực tiếp khám nghiệm, lập biên bản bảo vệ nghiêm ngặt từ lúc hai giờ sáng hôm nay!”
Lời anh Chiến nói như một quả lựu đạn nổ tung giữa đám đông. Hàng chục xã viên Đội 3 ồ lên kinh ngạc, rồi nín thở lắng nghe từng từ từng chữ.
Anh Chiến mở toang tệp hồ sơ, giọng đọc rành rọt, vang rền khắp góc vườn:
“Biên bản khám nghiệm hiện trường khẩn cấp lập hồi hai giờ mười lăm phút sáng ngày hai mươi bốn tháng mười hai năm một nghìn chín trăm bảy mươi bảy. Thành phần gồm có: Bí thư Đảng ủy Bùi Văn Vượng, Trưởng Công an xã Nguyễn Văn Chiến, Đội trưởng Trần Bình, xã viên Nguyễn Hoài An và nhân chứng Đặng Thị Đượm. Nội dung: Vào hồi một giờ bốn mươi phút sáng cùng ngày, phát hiện hai đối tượng lén lút đột nhập vườn nhà đồng chí Bình, chôn giấu một bao tải chứa chất bột màu trắng nghi là phân đạm xuống lớp bùn mặt của hố ủ bèo dâu. Tại hiện trường thu giữ: một chiếc quai dép cao su Tiền Phong bị đứt chốt, được gia cố bằng hai vòng dây đồng đỏ đường kính một ly; một mẫu đất bùn in dấu đế dép lốp cỡ bốn mươi mốt có vết mòn vẹt đặc trưng bên gót phải!”
Anh Chiến dừng lại, mở bọc giấy báo Nhân Dân đã niêm phong sáp nến đỏ chót, giơ cao chiếc quai dép bằng cao su đen có quấn hai vòng dây đồng đỏ sáng loáng trước mắt mọi người.
Bà con Đội 3 lập tức ồ lên. Chị Đượm hét to:
“Trời đất ơi! Dây đồng đỏ quấn quai dép! Đó là dép của thằng Thược, cháu ruột bà Phó Tươi! Chiều qua nó vừa ngồi ở quán nước đầu cầu khoe cái quai dép tự chế với đám thanh niên!”
Mặt bà Phó Tươi cắt không còn một giọt máu. Mụ lảo đảo lùi lại, va cả người vào gốc chuối tiêu, hai môi run bần bật như ngậm phải băng tuyết.Chưa dừng lại ở đó, anh Chiến lật sang trang sau của biên bản, mắt nhìn thẳng vào Đặng Tiết:
“Tiến hành kiểm tra vật chứng là bao phân đạm được chôn dưới hố, lực lượng Công an xã đã ghi nhận: Bao tải bằng sợi đay gai, bên ngoài có in ký hiệu mực xanh bằng khuôn thiếc: Đ1-77/09. Khối lượng năm mươi ki-lô-gam, đạm U-rê do Liên Xô viện trợ!”
Anh Chiến quay sang Bí thư Vượng, gằn từng tiếng:
“Báo cáo đồng chí Bí thư, số hiệu Đ1-77/09 này trùng khớp một trăm phần trăm với số hiệu của bao phân đạm mà Đội trưởng Đội 1 Đặng Tiết đã làm biên bản báo cáo Ban Quản trị hợp tác xã vào thứ Ba tuần trước, viện cớ là ‘bị chuột cắn rách đáy kho, ẩm ướt tan chảy hoàn toàn phải tiêu hủy’! Hóa ra, bao đạm ‘bị chuột cắn’ ấy không hề tan chảy, mà lại có chân tự bò từ kho Đội 1 sang chui xuống hố bèo nhà đồng chí Bình giữa đêm hôm khuya khoắt!”
“Ối giời đất ơi là giời!” Tiếng thím Ba la lên xé toạc bầu không khí. “Hóa ra là quân ăn cắp! Quân ăn cắp gài bẫy người lương thiện!”
“Đồ khốn nạn! Đội 1 thiếu ăn thì tìm cách giúp nhau, đằng này lại đem đạm tập thể đi hại người!” Bác Cả Sắn giận dữ quát lớn, chĩa cán cuốc về phía Đặng Tiết.
Đặng Tiết quỵ hẳn một bên chân xuống bờ đất, hai hàm răng va vào nhau cầm cập. Gã đưa ánh mắt cầu cứu tuyệt vọng nhìn Lê Nghiêm, nhưng Lê Nghiêm lúc này cũng đang sững sờ, mặt mày xám ngoét như người chết trôi. Nghiêm hiểu rằng mình đã bị cuốn vào một vụ án hình sự về tội phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa và vu khống đồng đội, mà kẻ chủ mưu lại chính là hai kẻ đang đứng bên cạnh mình.
Giữa lúc đám đông đang sục sôi căm phẫn, Trần Bình bước lên phía trước. Dáng người cao lớn, vạm vỡ của anh đứng chắn giữa đoàn thanh tra và bà con xã viên. Anh không hề tỏ ra đắc thắng hay giận dữ, mà ánh mắt chỉ ánh lên vẻ điềm tĩnh, cương trực của một người làm chủ sự thật.
“Thưa đồng chí Bí thư, thưa đồng chí thanh tra huyện và toàn thể bà con!” Bình cất giọng trầm ấm, dõng dạc. “Chuyện chiếc bao đạm gài bẫy đã có Công an xã làm rõ theo pháp luật. Nhưng hôm nay, nhân có đồng chí kỹ sư nông học của Ty Nông nghiệp tỉnh ở đây, tôi muốn làm sáng tỏ một điều quan trọng hơn: Đó là danh dự của Đội 3, và là mồ hôi nước mắt của vợ tôi, đồng chí Nguyễn Hoài An!”
Bình quay sang kỹ sư Hoàng Tuấn của Ty Nông nghiệp tỉnh, cung kính nghiêng mình:
“Kính mời đồng chí kỹ sư bước lại đây kiểm tra thực tế giúp chúng tôi!”
Kỹ sư Hoàng Tuấn, vốn im lặng quan sát từ đầu với con mắt của một nhà khoa học thực nghiệm, liền gật đầu bước tới. Ông mở chiếc hòm gỗ, rút ra một chiếc nhiệt kế thủy ngân thân bọc đồng chuyên dụng dùng trong nông nghiệp, cắm sâu vào tâm của đống ủ bèo dâu qua một lỗ thông hơi nhỏ bằng nứa tép.
Mọi người nín thở chờ đợi. Khoảng ba phút sau, kỹ sư Tuấn rút nhiệt kế ra, lau nhẹ lớp hơi nước mờ mờ trên mặt kính. Đôi mắt ông mở to đầy kinh ngạc:
“Năm mươi tám độ C! Nhiệt độ tâm đống ủ đạt năm mươi tám độ C!”
Kỹ sư Tuấn ngước nhìn Bình và An, giọng đầy thán phục:
“Kỳ diệu thật! Giữa mùa đông rét hại dưới mười độ C thế này, mà một đống ủ hữu cơ thủ công lại duy trì được nhiệt độ kỵ khí nóng gần sáu mươi độ! Với nhiệt độ này, mọi mầm mống nấm bệnh, hạt cỏ dại đều bị tiêu diệt hoàn toàn!”
Bình mỉm cười, đưa tay nắm lấy bờ vai mảnh dẻ của An kéo cô cùng đứng bên cạnh mình, rồi dõng dạc giải thích trước toàn thể mọi người:
“Báo cáo các đồng chí và bà con! Suốt một tháng qua, Đội 3 chúng tôi không hề dùng một hạt phân hóa học nào của Nhà nước. Toàn bộ chất dinh dưỡng nuôi sống vườn rau này và mười lăm mẫu ngô bãi Soi đều từ cái hố ủ này mà ra! Đây là kỹ thuật ủ bèo hoa dâu vi sinh kỵ khí nóng do chính nhà tôi, đồng chí Hoài An, dày công nghiên cứu và hướng dẫn bà con áp dụng.”
Bình chỉ tay vào từng góc hố ủ, rành rọt giải thích từng nguyên lý mà anh đã thuộc nằm lòng qua những đêm thức trắng cùng vợ:
“Bèo hoa dâu vớt dưới sông Đáy về, được phối trộn với tro trấu bếp củi để bổ sung kali, thêm một tỷ lệ nhỏ rỉ mật mía phế thải từ lò đường để kích hoạt vi sinh vật lên men. Sau đó, chúng tôi dùng bùn non dưới đáy ao trát kín toàn bộ bề mặt để tạo môi trường kỵ khí tuyệt đối. Bèo dâu vốn chứa loài vi khuẩn cộng sinh tự hút đạm màu mỡ từ trời đất. Khi được ủ nóng kỵ khí ở nhiệt độ trên năm mươi lăm độ C, toàn bộ lượng đạm hữu cơ ấy được phân giải thành dạng mùn tiêu, cây trồng hấp thụ được ngay mà không cần chờ phân hóa học!”
Kỹ sư Hoàng Tuấn gật đầu lia lịa, hào hứng tiếp lời ngay:
“Đúng thế! Tuyệt vời lắm! Loài bèo dâu này cộng sinh với vi khuẩn lam mang tên khoa học là Anabaena azollae, một cỗ máy cố định đạm tự nhiên siêu đẳng từ khí quyển! Phương pháp ủ kỵ khí nóng của gia đình đồng chí Bình vừa giữ trọn nguồn đạm sinh học quý giá ấy, vừa tạo nguồn mùn vi sinh cực kỳ dồi dào, hoàn toàn vượt xa phân hóa học về độ bền của đất!”
Bình nhìn vị kỹ sư tỉnh đầy vẻ cảm kích, rồi dừng lại một nhịp, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào Lê Nghiêm và Đặng Tiết:
“Về mặt khoa học, nếu bao đạm U-rê kia thực sự được chúng tôi chôn giấu từ nhiều ngày trước để bón trộm cho cây như lời vu khống, thì ở nhiệt độ năm mươi tám độ C kèm độ ẩm cao này, toàn bộ hạt đạm U-rê đã bị thủy phân thành khí amoniac bốc mùi khai nồng nặc, làm chết sạch hệ men vi sinh và phá nát đống ủ từ lâu! Nhưng các đồng chí ngửi xem, đống ủ này chỉ bốc lên mùi men ủ chua ấm nồng của rỉ mật và bùn ao! Bao đạm mà thằng Thược lén chôn đêm qua bên trong vẫn còn nguyên hạt khô ráo, bùn bên ngoài mới chỉ bám dính chưa đầy hai tiếng đồng hồ!”
Lời giải thích đanh thép, khúc chiết, vừa mang tính khoa học chuẩn xác vừa đậm chất thực tế đồng ruộng của Bình khiến kỹ sư Hoàng Tuấn không kìm được xúc động. Ông vỗ mạnh vào đùi một cái “đét”, thốt lên:
“Tuyệt vời! Quá tuyệt vời! Đồng chí Bình nói hoàn toàn chính xác về mặt hóa sinh nông nghiệp! Tôi công tác ở Ty Nông nghiệp mười mấy năm nay, đi khắp các huyện đồng bằng, chưa từng thấy mô hình ủ phân xanh nào sáng tạo, khoa học và đạt hiệu quả sinh học cao đến thế này! Đây không chỉ là một sáng kiến cứu đói cho địa phương, mà là một bước đột phá về nông nghiệp hữu cơ có thể nhân rộng ra toàn tỉnh Hà Sơn Bình trong thời kỳ khan hiếm vật tư hóa học!”
Kỹ sư Tuấn lập tức rút cây bút máy trong túi áo, cắm cúi ghi chép lia lịa vào cuốn sổ công tác bìa cứng, miệng không ngớt lẩm bẩm khen ngợi: “Bèo hoa dâu... rỉ mật... ủ kỵ khí nóng năm mươi tám độ... phi thường, thật là phi thường!”
Trước những lời khẳng định đanh thép của vị kỹ sư đầu ngành cấp tỉnh, toàn bộ khoảng sân vỡ òa trong tiếng reo hò, vỗ tay rầm rộ của bà con Đội 3. Chị Đượm ôm chầm lấy An, nước mắt giàn giụa vì sung sướng. Bác Cả Sắn cười khà khà, đưa bàn tay thô ráp đập bồm bộp vào vai Bình:
“Được lắm anh Bình ơi! Giỏi lắm chị An ơi! Đội 3 chúng ta có người tài rồi! Cây ngay không sợ chết đứng!”
Trái ngược với niềm hân hoan tột cùng của bà con, góc sân phía chiếc xe U-oát giờ đây ngột ngạt như địa ngục.
Mặt Lê Nghiêm đỏ bừng bừng rồi chuyển sang tím tái như chàm. Hắn run rẩy thu lại tờ công văn thanh tra, chiếc cặp da kẹp chặt vào mạng sườn. Hắn nhận ra mình đã biến thành một con rối thảm hại, một công cụ cho mưu đồ ghen ghét hèn hạ của đám người cơ hội. Uy tín thanh tra huyện mà hắn dày công gây dựng bỗng chốc tan thành mây khói ngay trên mảnh đất bãi sông Đáy này.
Lê Nghiêm lúng túng bước tới trước mặt Bí thư Vượng và Bình, lắp bắp:
“Báo... báo cáo đồng chí Bí thư Đảng ủy... báo cáo đồng chí Đội trưởng Bình... Đoàn thanh tra chúng tôi... do nhận được nguồn tin tố giác không chính xác từ cơ sở... nên có phần nóng vội trong quy trình. Thay mặt đoàn kiểm tra, tôi... tôi xin thành thật nhận khuyết điểm trước tập thể Đội 3 và gia đình đồng chí Bình! Tôi sẽ lập tức làm biên bản hủy bỏ việc kiểm tra, đồng thời báo cáo trung thực toàn bộ sự việc này lên Thường vụ Huyện ủy để xử lý nghiêm những kẻ dựng chuyện!”
“Đồng chí Nghiêm không cần vội!” Bí thư Vượng xua tay, nét mặt đanh lại đầy cương nghị. “Việc thanh tra huyện nhận sai là việc của các đồng chí. Còn việc bao đạm U-rê mang số hiệu Đ1-77/09 bị đánh cắp khỏi kho và hành vi vu khống cán bộ, đảng viên, Công an xã An Hòa sẽ lập hồ sơ khởi tố vụ án phá hoại kinh tế ngay trong sáng nay! Đồng chí Chiến, yêu cầu lực lượng công an lập tức áp giải đồng chí Đặng Tiết và bà Phó Tươi về ngay trụ sở Ủy ban xã để lấy lời khai và tạm giữ tang vật!”
“Rõ!” Anh Chiến dõng dạc đáp, lập tức ra hiệu cho hai công an viên và hai dân quân xã mang súng trường CKC bước tới chia làm hai bên, kèm chặt Đặng Tiết và bà Phó Tươi để áp giải về ủy ban.
Bà Phó Tươi lúc này mềm oặt cả người như bún thiu, hai chân không nhấc nổi, phải dựa dẫm vào người cháu họ đi cùng dưới sự áp giải nghiêm ngặt của công an viên, miệng lảm nhảm những câu vô nghĩa: “Tôi không biết... tôi không biết gì hết... thằng Thược nó...” Nhưng chẳng ai thèm lắng nghe mụ nữa. Những ánh mắt khinh bỉ, những tiếng la ó, xua đuổi của bà con xã viên bủa vây lấy mụ như những nhát roi quất vào mặt:
“Đi đi! Đồ sâu mọt phá hoại!”
“Cút khỏi thôn An Hòa!”
Chiếc xe U-oát nổ máy ậm ạch, nhả ra một luồng khói đen kịt rồi vội vã lùi ra ngõ, quay đầu tháo chạy trong sự bẽ bàng tột độ của Lê Nghiêm, để lại một vệt bánh xe nham nhở trên con đường đất lầy lội sương đông.
Sân nhà Bình dần trở lại vẻ yên ả thường nhật. Bà con Đội 3 nán lại chúc mừng hai vợ chồng thêm một hồi lâu rồi mới rộn rã rủ nhau ra đồng. Trong gian nhà ba gian, u Mẫn run rẩy bưng ra một ấm nước vối nóng hổi, đôi mắt mờ đục rưng rưng những giọt lệ mừng tủi. Bà nắm lấy tay An, nghẹn ngào:
“Con ơi... phúc đức tổ tiên nhà mình lớn lắm con ạ... Trời có mắt, không để người hiền chịu oan bao giờ...”
An dịu dàng tựa đầu vào vai u, khẽ mỉm cười:
“U đừng lo nữa, mọi chuyện qua rồi. Từ nay nhà mình yên tâm làm ăn rồi u ạ.”
Bình tiễn Bí thư Vượng và anh Chiến ra tận cổng ngõ. Gió bấc từ bờ sông Đáy vẫn thổi về ràn rạt, làm xao xác những bụi tre ngà.
Bình đứng lại bên bờ rào dâm bụt, dõi mắt nhìn theo bóng dáng đoàn người đang đi dọc theo con đường đê dẫn về trụ sở Ủy ban xã. Ở phía xa xa, cách chừng hai trăm mét, hai dân quân xã đang áp giải Đặng Tiết đi ngang qua khúc quanh bên gốc đa cổ thụ ven đê bến đò.
Gã bước đi chậm chạp, rồi bất chợt khựng lại nửa nhịp trước khi bị người dân quân đi sau thúc giục bước tiếp. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, Đặng Tiết ngoái hẳn đầu lại.
Dưới vành mũ cối sụp xuống che nửa khuôn mặt, đôi mắt ti hí của Đặng Tiết đỏ quạch như mắt loài thú hoang bị dồn vào chân tường. Ánh nhìn ấy không hề có sự ăn năn hối cải, mà chỉ tràn ngập một sự căm thù ngùn ngụt, hằn học đến rợn người. Ánh mắt độc địa của gã lướt qua mái nhà ba gian của Bình, rồi phóng thẳng ra phía bãi Soi mênh mông ngoài bờ sông Đáy – nơi mười lăm mẫu ngô xen đỗ tương của Đội 3 đang trĩu bắp, vàng óng ả chuẩn bị bước vào ngày thu hoạch rộ.
Gió đồng thổi qua rặng chuối sau vườn phát ra những tiếng xé rách rưới. Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng Trần Bình. Từng trải qua những trận phục kích khốc liệt nơi biên thùy, bản năng chiến trận mách bảo anh rằng: Một con mãnh thú khi đã cùng đường và mất hết tất cả sẽ không bao giờ cam tâm chịu trói. Trước khi bước lên đoạn đầu đài của công lý, nó sẽ điên cuồng cắn xé mục tiêu quý giá nhất của đối phương.
Và mười lăm mẫu mùa màng trên bãi Soi – sinh mệnh của hàng trăm con người Đội 3 – chính là miếng mồi béo bở nhất mà ngọn lửa thù hận ấy đang nhắm tới.