Xuyên không thập niên 70

Chương 17: Tấc đất trên mảnh vườn năm phần trăm

Tiếng gió bấc rít qua những bụi tre ngà ven đê nghe như tiếng rống của một loài thú dữ đang lồng lộn giữa đêm trường.

Mãi đến quá nửa đêm, khi ngọn lửa cuối cùng từ những đống rơm mùn hun khói ở đầu ngọn gió bãi Soi đã tàn lụi, để lại một lớp tro ấm và làn khói đặc quánh bao phủ như một tấm chăn khổng lồ che chở cho mười lăm mẫu mầm ngô non nớt, vợ chồng An mới cùng bà con Đội 3 lục tục trở về làng. Cả cánh đồng bãi bồi sau một hồi náo động bới đất, trải rơm, be bờ chắn gió giờ đã chìm vào tĩnh lặng, kiên cường nấp mình dưới màn sương giá đang bắt đầu ngưng kết thành những hạt trắng đục trên đầu ngọn cỏ.

Bước qua cánh cổng tre đan dày dặn, gian nhà ba gian của gia đình Bình hiện ra mộc mạc dưới bóng râm của cây nhãn cổ thụ. Ngọn đèn dầu Hoa Kỳ đặt trên chiếc bàn con trong buồng cưới vẫn cháy liu riu, hắt qua khung cửa sổ dán giấy báo cũ một vệt sáng màu hổ phách ấm sực, xua tan đi cái mịt mùng tê tái của đất trời mùa đông.

Bình dựng hai chiếc áo tơi lá cọ sũng nước mưa vào góc chái bếp, rũ lớp bùn phùn bám đặc nơi ống quần xắn cao quá gối. Đôi bàn tay anh nứt nẻ vì sương muối, đỏ ửng lên như gấc chín nhưng động tác tháo gỡ quang gánh, xếp liềm cùn vào góc vẫn vô cùng dứt khoát, gọn gàng.

“Mình vào buồng cởi áo khoác ướt ra ngay đi, kẻo hơi lạnh ngấm vào phổi,” Bình khẽ giục, giọng anh hơi khàn vì suốt mấy tiếng đồng hồ ngoài bãi Soi phải hò hét điều phối bà con nhóm lửa giữ khói. “Để anh xuống bếp đun ấm nước.”

An bước vào gian buồng nhỏ. Căn phòng cưới đơn sơ chỉ rộng chừng mười mét vuông, ngăn với gian ngoài bằng một bức vách đất trát rơm trộn mật mía đã khô nứt chân chim. Trên chiếc giường gỗ xoan đào cũ kỹ, tấm chiếu hoa cạp điều còn thơm mùi cói mới. Góc giường, chiếc chăn cưới tự tay cô chần từ vải thô dệt sợi Nam Định và nhồi ruột bông gạo trắng muốt gập vuông vắn như một chiếc bánh chưng. Mùi hương bài phảng phất từ bàn thờ gia tiên ngoài gian khách len lỏi vào đây, quyện với mùi dầu hỏa ngai ngái và mùi vôi mới quét nơi chân tường, tạo nên một cảm giác an yên đến thắt lòng.

An cởi chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa đã lấm lem bùn đất và sực nức mùi khói rơm rạ, thay bằng chiếc áo bà ba bông trần quả trám màu hạt dẻ. Đôi bàn chân cô ngâm trong ủng cao su suốt nhiều giờ đã tê dại, trắng bệch và mất hết cảm giác. Giữa những năm tháng thiếu thốn trăm bề này, một đợt gió mùa đông bắc tràn về không đơn thuần chỉ là cái lạnh của thời tiết, mà là một phép thử nghiệt ngã đối với sức chịu đựng của con người lẫn cây cỏ.

Có tiếng bước chân khập khiễng quen thuộc bước vào buồng. Bình bưng một chiếc chậu sành tráng men da lươn bốc khói nghi ngút, bên trong nổi lềnh bềnh những lát gừng già đập dập và mấy nhánh sả vườn. Hơi nước ấm nồng nàn mang theo vị cay the lập tức lan tỏa khắp không gian chật hẹp.

“Anh lấy đâu ra gừng già thế này?” An ngạc nhiên ngước nhìn chồng.

Bình đặt chậu nước xuống trước mép phản, ngồi xổm xuống một bên, ngẩng lên mỉm cười, đôi mắt sáng lấp lánh dưới ánh đèn dầu:

“Lúc nãy đi qua góc vườn, anh nhớ ra bụi gừng u trồng nép bên chân lu nước mưa. Gừng sẻ củ nhỏ nhưng cay đượm lắm. Em lội bùn ướt suốt từ chiều, không trục hàn ngay thì mai sốt li bì cho xem.”

Chẳng đợi An kịp từ chối, Bình đã nhẹ nhàng nắm lấy bàn chân lạnh ngắt của cô, cẩn thận đặt vào làn nước ấm. Cảm giác nóng rẫy ban đầu khiến An khẽ rụt lại, nhưng bàn tay to bản, chai sạn và ấm áp của Bình đã giữ chặt lấy gót chân cô, từ từ xoa bóp từng ngón chân, từng đường gân nổi rõ nơi mu bàn chân.

Hơi ấm từ nước gừng như một dòng điện nhỏ chạy dọc từ lòng bàn chân xông thẳng l*n đ*nh đầu, làm tan biến đi sự đông cứng của các mạch máu. An ngồi trên mép giường, lặng nhìn người đàn ông đang quỳ một gối dưới nền đất nện ẩm ướt để chăm sóc cho mình. Người lính từng vào sinh ra tử ở chiến trường miền Tây Nam Bộ, từng một mình chỉ huy cả đội sản xuất vượt qua trận lũ lịch sử cống Vực, giờ đây lại cúi đầu tỉ mỉ xoa từng kẽ chân cho vợ với tất cả sự nâng niu, vụng về mà chân thành nhất.

“Anh Bình… để em tự làm được mà,” An ngượng ngùng khẽ nói, hai gò má ửng hồng dưới ánh đèn.

Bình không ngẩng lên, ngón tay cái thô ráp của anh vẫn kiên nhẫn ấn vào huyệt dũng tuyền dưới gan bàn chân cô, giọng trầm lắng:

“Vợ chồng một ngày nên nghĩa, có gì mà phải ngại. Cả đời này anh đi bộ đội, quen chịu sương gió mũi tên hòn đạn, da thịt chai sạn như vỏ cây lim rồi. Còn em, một cô gái thành phố phục viên về vùng quê chiêm trũng này, phải chịu bao nhiêu nhọc nhằn, thiệt thòi… Đêm nay là đêm tân hôn của chúng mình, vậy mà lại bắt em phải lội bùn, hít khói rơm cứu ngô đến tận nửa đêm. Nghĩ đến đó, anh thấy thắt cả ruột.”

An xúc động, cô cúi người xuống, đặt bàn tay nhỏ nhắn của mình lên bờ vai vững chãi của chồng. Dưới lớp áo bông sờn rách, cô cảm nhận được từng khối cơ bắp rắn rỏi và cả vết sẹo dài lồi lõm nơi bả vai anh – dấu tích của mảnh đạn cối năm nào.

“Anh đừng nói thế,” An dịu dàng lắc đầu. “Được cùng anh ra đồng, được cùng anh giữ lại từng mầm sống cho Đội 3, em thấy lòng mình thanh thản hơn nhiều. Đám cưới nếp sống mới giản dị, nhưng với em, bát kẹo Hải Hà hay chiếc xe Phượng Hoàng mượn của chủ nhiệm Khoát chẳng thể nào quý bằng việc chúng ta hiểu và cùng chung một chí hướng.”

Bình lau khô chân cho An bằng một tấm khăn xô cũ đã giặt mềm, rồi ngồi lên mép giường cạnh cô. Anh với tay vặn nhỏ bấc đèn dầu để tiết kiệm nhiên liệu, chỉ để lại một chấm lửa vàng bằng hạt đỗ tương, đủ để hai người nhìn rõ khuôn mặt nhau trong bóng tối lờ mờ.

Gian ngoài, tiếng ngáy khe khẽ của bà cụ Mẫn vọng lại đều đặn. Cả ngày hôm nay, bà cụ đã vất vả đón khách, lo toan từng cơi trầu miếng cau cho ngày vui của con trai, giờ đã kiệt sức chìm vào giấc ngủ sâu.

“Mầm ngô bãi Soi đêm nay coi như tạm yên,” Bình tựa lưng vào vách nứa, thở dài một hơi nhẹ nhõm nhưng nét mặt vẫn trĩu nặng âu lo. “Nhưng An này, đợt rét này chỉ là mở đầu thôi. Dự báo của đài khí tượng huyện bảo mùa đông năm nay sẽ kéo dài kỷ lục. Chỉ tiêu lương thực vụ chiêm vừa rồi nộp kho nhà nước xong, hợp tác xã phân phối về mỗi khẩu chưa đầy chín cân thóc một tháng. Đội 3 nhà mình đất trũng nhiều, công điểm chia ra quy đổi chẳng được là bao. Nếu chỉ trông chờ vào kho thóc tập thể, anh sợ qua tháng Chạp, đến kỳ giáp hạt tháng Ba ngày Tám sang năm, cả làng lại phải ngậm ngùi ăn cháo hoa độn củ chuối rừng.”

Nghe Bình tâm sự, An khẽ gật đầu đồng tình. Đó chính là thực tế tàn khốc của nền kinh tế bao cấp lúc bấy giờ. Cơ chế “đánh trống ghi tên, xuất quân tập thể”, cào bằng công điểm khiến người lao động mất đi động lực sản xuất. Dù Bình có tận tâm, dù cô có dốc hết sức cải tiến kỹ thuật cho tập thể, thì cái đói vẫn là bóng ma chập chờn đe dọa từng mái nhà tranh.

“Em cũng đã tính đến chuyện này rồi,” An ghé sát tai Bình, thì thầm bàn tính. “Chỉ tiêu tập thể chúng ta vẫn phải hoàn thành xuất sắc để giữ vững cờ thi đua và bảo vệ uy tín của anh trước Đảng ủy và Ban quản trị. Nhưng muốn cả nhà mình không bị đói, muốn u có thêm quả trứng bồi dưỡng, muốn cha mẹ bên nhà em có chút lương thực chống chọi với bệnh ho lao, chúng ta buộc phải tự lực cánh sinh trên mảnh đất của chính mình.”

“Ý em là… mảnh ruộng phần trăm?” Bình quay sang nhìn vợ, ánh mắt lóe lên tia hy vọng xen lẫn e ngại. “Mảnh đất năm phần trăm sau nhà mình rộng gần hai sào, trước giờ u già yếu không kham nổi, anh lại bận việc đội suốt ngày, nên bỏ hoang cho cỏ may mọc lút đầu. Thỉnh thoảng u chỉ vãi mấy dây khoai lang đỏ, củ nhỏ bằng ngón tay trỏ, luộc lên sượng ngắt toàn xơ. Đất ấy cằn cỗi lắm, lại chua phèn, làm sao mà trồng trọt ra tấm ra món được?”

An mỉm cười, một nụ cười tự tin và rạng rỡ của một nữ kỹ sư nông nghiệp thế kỷ hai mươi mốt:

“Không có mảnh đất nào là đất chết cả anh ạ, chỉ có người chưa biết cách đánh thức nó thôi. Hai sào đất, tức là hơn bảy trăm mét vuông. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng này, một tấc đất cũng là một tấc vàng. Ngày mai, em sẽ bắt tay vào quy hoạch lại toàn bộ mảnh vườn sau nhà. Chúng ta sẽ làm theo cách hoàn toàn mới, khép kín và tận dụng mọi thứ phế phẩm bỏ đi. Chỉ cần anh đồng lòng, em tin chắc mảnh đất ấy sẽ nuôi sống cả gia đình ta qua mùa đông giá rét này.”

Bình nhìn sâu vào đôi mắt lấp lánh tri thức và lòng kiên định của vợ. Trong lòng anh trào dâng một cảm xúc ấm áp, tự hào khôn xiết. Anh đưa cánh tay rắn chắc ôm lấy bờ vai mảnh dẻ của An, kéo cô tựa vào ngực mình. Dưới lớp chăn bông gạo êm ái, hai nhịp tim đập chung một nhịp, lắng nghe tiếng gió mùa đông bắc ngoài hiên vắng đang yếu dần đi trước ánh bình minh le lói nơi chân trời xa.

*

Sáng hôm sau, tiếng kẻng sắt treo trên cây đa đầu làng ngân vang từng hồi giòn giã xé tan màn sương mù sớm. Đó là hiệu lệnh xuất quân thường nhật của Hợp tác xã Nông nghiệp An Hòa.

Sau khi cùng ban chỉ huy Đội 3 ra đồng kiểm tra tình hình mười lăm mẫu ngô bãi Soi – toàn bộ mầm non đều an toàn vượt qua đêm sương muối nhờ tầng khói rơm giữ nhiệt tuyệt hảo – Bình giao việc chăm sóc luống rãnh lại cho chị Đượm và mấy thanh niên xung kích, rồi vội vã đạp xe lên ủy ban xã nộp báo cáo điểm danh thi đua.

Ở nhà, Hoài An thức dậy từ khi gà gáy le te cất tiếng đầu tiên.

Sau khi cùng u Mẫn ăn lưng bát cơm độn sắn lát luộc chấm muối vừng rang khét, An vấn gọn mái tóc đen nhánh sau gáy, xắn cao tay áo bà ba và bước ra phía sau chái bếp.

Mảnh đất năm phần trăm của gia đình Bình trải dài từ chân bờ tường hoa đổ nát ra tận rãnh mương dẫn nước thải của làng. Đúng như lời Bình nói, cảnh tượng trước mắt hiện lên đầy hoang tàn và ảm đạm. Gần hai sào đất rộng thênh thang nhưng bị bỏ mặc nhiều năm trời. Cỏ may, cỏ tranh và dền gai mọc lút đầu gối, đan xen chằng chịt vào nhau thành từng mảng lớn úa vàng vì sương muối.

Nằm rải rác giữa đám cỏ dại là mấy giàn khoai lang đỏ xơ xác, lá bị sâu cuốn tổ cắn rách tả tơi, dây khoai bò ngoằn ngoèo trên mặt đất nứt nẻ. Phía góc tây nam, sát rặng tre gai chắn gió là một cái chuồng lợn cũ kỹ xây bằng gạch xỉ ba banh mục nát, mái lợp rạ đã thủng từng mảng lớn, bỏ trống từ đợt dịch tả lợn năm ngoái. Nước từ rãnh chuồng ứ đọng lại, bốc lên mùi xú uế chua nồng, lẫn với mùi bùn chết lâu ngày không thoát được.

Bà cụ Mẫn chống chiếc gậy tre lần bước ra hiên, nhìn bóng lưng con dâu đang đứng trầm ngâm giữa vườn cỏ lút đầu, ái ngại bảo:

“Con ơi, đất ấy cằn cỗi lắm, đời bố thằng Bình còn sống cuốc lật lên toàn đất gan gà với sỏi cơm, gieo cải cải ngồng, trồng ngô ngô điếc. Thôi con vào nhà nghỉ ngơi đi, vừa cưới xong lội ruộng suốt đêm qua, sức đâu mà đụng vào cái bãi tha ma ấy.”An quay lại, nở nụ cười hiền hậu bước tới đỡ lấy tay u Mẫn:

“U đừng lo. Con không làm quá sức đâu ạ. Đất bỏ hoang thế này lãng phí quá u à. Con nhìn kỹ rồi, mảnh đất này có rặng tre chắn gió bấc ở phía bắc rất tốt, lại thoai thoải nghiêng về phía rãnh mương thoát nước, hứng trọn ánh nắng mặt trời buổi sáng. Đất cằn là do lâu ngày không có người bón lót phân chuồng, chỉ rải tro bếp bừa bãi nên bị nén chặt lại thôi. Con sẽ dọn dẹp từng góc một, đâu vào đấy ngay thôi u.”

Thấy ánh mắt sáng ngời và vẻ quả quyết của con dâu, bà cụ Mẫn chỉ biết thở dài đầy thương cảm rồi móm mém cười:

“Ừ, con dâu u giỏi giang, có học có hành, u tin con. Nhưng làm vừa thôi nhé, trưa thằng Bình nó về nó lại xót.”

Đợi u Mẫn vào nhà nghỉ ngơi, An bắt đầu công việc khảo sát thực địa một cách bài bản như một nhà nghiên cứu trước một dự án canh nông thực thụ. Cô không vội vã vung cuốc phát cỏ ngay mà đi chậm rãi vòng quanh chu vi khu đất, dùng một que tre dài cắm mốc ở bốn góc.

Trong đầu An, một sơ đồ quy hoạch nông nghiệp sinh thái khép kín kiểu mẫu – mô hình VAC (Vườn - Ao - Chuồng) cải tiến thích ứng với điều kiện thời chiến thiếu thốn – nhanh chóng được phác thảo rõ nét.

Hai sào đất này phải được chia làm ba khu vực chức năng tương hỗ lẫn nhau để tạo thành một chu trình dinh dưỡng khép kín:

Thứ nhất, khu chuồng trại tận dụng: Chuồng lợn cũ nát góc vườn sẽ được cải tạo lại thành hai ngăn: một ngăn nuôi một đôi lợn giống địa phương, một ngăn làm chuồng quây nuôi hai chục con gà ri thả vườn. Điểm then chốt ở đây không phải là chăn nuôi theo lối cũ để phân lợn phân gà chảy tràn lan gây ô nhiễm, mà An sẽ áp dụng kỹ thuật “đệm lót sinh học thủ công”. Cô sẽ dùng trấu khô, mùn cưa và rơm băm nhỏ trộn với men vi sinh bản địa ủ kỵ khí rải dày hai mươi phân dưới nền chuồng. Đệm lót này sẽ phân hủy hoàn toàn chất thải gia súc gia cầm, khử sạch mùi hôi, giữ ấm cho vật nuôi qua mùa đông giá rét, và sau vài tháng sẽ trở thành nguồn phân hữu cơ hoai mục thượng hạng, giàu đạm sinh học mà không cần tốn công dọn chuồng mỗi ngày.

Thứ hai, khu tái tạo sinh học và xử lý phế phẩm: Dưới bóng râm mát rượi quanh năm của rặng chuối tiêu sát mép rãnh mương thoát nước, An dự định đào ba hố ủ bán âm. Một hố dùng để ủ phân xanh vi sinh từ cỏ dại, bèo hoa dâu và phụ phẩm nông nghiệp; hai hố còn lại sẽ được lót lá chuối khô và che đậy cẩn thận để làm môi trường nuôi trùn quế (giun khoang bản địa). Nguồn giun đất này sẽ là cỗ máy sinh học kỳ diệu tiêu hóa toàn bộ rác hữu cơ mục nát, thải ra lớp phân trùn đen nhánh giàu axit humic để cải tạo đất nghèo dinh dưỡng, đồng thời cung cấp nguồn đạm tươi sống vô tận để vỗ béo đàn gà và lợn con.

Thứ ba, khu canh tác rau màu chuyên canh: Phần diện tích lớn nhất ở trung tâm vườn, nơi đón trọn ánh sáng mặt trời, sẽ được san phẳng và lên thành các luống cao bốn mươi phân, rộng một mét hai, rãnh luống sâu để thoát nước triệt để chống úng rễ. Với thời tiết rét đậm rét hại của tháng Mười Một, cô sẽ không trồng khoai lang đơn thuần nữa mà luân canh các loại rau ngắn ngày, chịu rét cực tốt và có giá trị dinh dưỡng cao: bắp cải thảo, su hào, củ cải trắng và xen canh các luống tỏi tía, cải cúc. Tỏi tía không chỉ là nguồn gia vị quý giá trong bữa ăn kham khổ mà tinh dầu của nó còn đóng vai trò như một loại thuốc trừ sâu thảo mộc tự nhiên, xua đuổi các loài rầy rệp gây hại cho bắp cải.

Quy hoạch đã thành hình trong tâm trí, An bước lại góc chái nhà lấy ra chiếc liềm gặt và chiếc cuốc bàn nặng trịch của Bình. Chiếc cuốc sắt do xưởng rèn thủ công của xã đập bằng nhíp xe com-măng-ca chiến lợi phẩm, lưỡi cuốc dày cộp và sắc lẹm, tra vào chiếc cán tre đực nhẵn bóng mồ hôi.

An cúi người, thoăn thoắt vung liềm cắt những bụi cỏ may rậm rạp. Cỏ cắt đến đâu, cô không vứt bừa bãi hay châm lửa đốt như thói quen lạc hậu của bà con trong làng, mà gom lại thành từng đống ngay ngắn theo đường thẳng. Đám cỏ dại này, khi được phơi héo và ủ với nước vôi trong cùng men vi sinh, sẽ trở thành nguồn thức ăn đầu tiên cho hố nuôi giun đất sắp tới.

Mồ hôi bắt đầu rịn ra trên trán An, thấm ướt mấy lọn tóc mai mềm mại dù gió bấc vẫn thổi từng cơn hun hút. Thân thể này tuy đã được tôi luyện qua những năm tháng thanh niên xung phong mở đường Trường Sơn, nhưng sau những trận sốt rét rừng dai dẳng và những bữa ăn triền miên độn sắn củ mục, sức lực vẫn còn nhiều hạn chế. Đôi tay cô bắt đầu mỏi nhừ, vết chai nơi lòng bàn tay cọ vào cán liềm rát buốt.

Thế nhưng, nhìn từng khoảng đất hoang dần lộ ra dưới ánh mặt trời nhợt nhạt, lòng An lại trào dâng một niềm hân hoan kỳ lạ. Ở thế kỷ hai mươi mốt, cô từng ngồi trong những phòng thí nghiệm máy lạnh hiện đại, thao tác với những chuỗi gen và máy ly tâm đắt tiền; nhưng chưa bao giờ cô cảm nhận được mối dây liên kết thiêng liêng, máu thịt với đất đai sâu sắc như lúc này. Đất ở đây chính là sự sống, là manh áo, là bát cơm thật sự để cứu cả một gia đình vượt qua bão giông thời cuộc.

Cắt xong một khoảnh cỏ rộng chừng nửa sào ở khu vực dự kiến lên luống rau màu, An buông liềm, cầm lấy chiếc cuốc bàn để bắt đầu công đoạn quan trọng nhất: kiểm tra tầng thổ nhưỡng và độ dày của lớp đất mặt.

Theo kinh nghiệm nông học, đối với đất đồng bằng Bắc Bộ bị canh tác vắt kiệt dinh dưỡng, muốn cây màu bén rễ và phát triển mạnh trong mùa đông, tầng đất canh tác tơi xốp tối thiểu phải đạt độ sâu từ hai mươi đến hai mươi lăm phân.

An chọn một điểm ở chính giữa khoảnh đất vừa dọn cỏ, hai chân đứng vững chãi, hai tay nắm chặt cán tre, dùng toàn lực giáng một nhát cuốc đầu tiên xuống mặt đất.

Phập!

Lớp đất mặt dày chừng năm phân dễ dàng bị lật lên. Đó là một lớp đất bụi xám ngoét, khô khốc và nhẹ bấc, trộn lẫn với những mảnh than củi chưa cháy hết và tro bếp vụn nát. An cúi xuống bốc một nắm đất lên tay, xoa nhẹ giữa các đầu ngón tay. Đất trơ lì, hoàn toàn không có độ kết dính, không có mùi thơm ngai ngái đặc trưng của mùn hữu cơ, khô khốc như tro tàn lò gạch. Đây rõ ràng là hậu quả của việc nhiều năm liền u Mẫn đem toàn bộ tro bếp đun rơm rạ rải thẳng ra vườn với hy vọng “bón tro cho tốt đất” theo thói quen cũ. Tro bếp giàu kali thật, nhưng bón quá nhiều mà không có phân chuồng hay chất hữu cơ sẽ làm đất bị kiềm hóa cục bộ, tiêu diệt toàn bộ hệ vi sinh vật bản địa và khiến đất nhanh chóng bị thoái hóa thành lớp bụi chết.

An khẽ nhíu mày. Tình hình lớp đất mặt tồi tệ hơn cô dự đoán, nhưng điều đó vẫn chưa phải là điều đáng sợ nhất.

Cô hít một hơi thật sâu, nâng chiếc cuốc bàn lên cao quá đầu, dồn trọng tâm cơ thể vào đôi cánh tay, giáng nhát cuốc thứ hai thật mạnh xuống đáy hố vừa đào nhằm lật lớp đất sâu hơn bên dưới.

Keng!

Một âm thanh chát chúa, đanh gọn vang lên như thể lưỡi thép vừa chém thẳng vào một khối đá tảng hay một phiến gang đúc.

Chấn động dữ dội từ lưỡi cuốc truyền ngược thẳng qua cán tre đực, giật mạnh vào hai cổ tay An, làm toàn bộ cánh tay cô tê dại điếng người. Lưỡi cuốc bật nảy lên không trung, suýt chút nữa văng khỏi tay cô, để lại trên mặt đất một vệt cào trắng bệch dài chưa đầy nửa đốt ngón tay.

An sững sờ buông cuốc, xoa xoa hai cổ tay đang run lên bần bật vì lực phản hồi quá mạnh.

Cô quỳ một chân xuống nền đất lạnh, dùng các ngón tay gạt phăng lớp đất bụi xám tro ở phía trên ra để nhìn cho thật rõ những gì nằm bên dưới đáy hố.

Hiện ra trước mắt cô không phải là tầng đất thịt màu nâu hay đất phù sa sông Đáy màu mỡ như cô từng kỳ vọng.

Nằm ngay dưới lớp đất mặt mỏng dính vỏn vẹn năm phân ấy là một tầng đất sét nặng màu xám xịt pha lẫn ánh xanh xám của sắt khử, bị nén dẽ chặt chẽ đến mức ngột ngạt. Lớp đất sét này chai cứng như đá nung, mịn đặc và không hề có lấy một kẽ hở li ti nào cho không khí lưu thông. Những rễ khoai lang còi cọc đâm xuống đến tầng đất này đều bị uốn cong queo, thối đen đầu rễ vì ngạt khí và không thể nào xuyên thủng lớp phòng ngự kiên cố ấy.

Đây chính là “tầng đế cày bị thoái hóa cực đoan” – cơn ác mộng lớn nhất của người làm nông nghiệp!

Sau hàng chục năm bị giẫm đạp, bị nước mưa cuốn trôi các hạt khoáng mịn xuống tích tụ, kết hợp với việc bón tro bếp chứa nhiều muối kiềm nung nóng trong thời gian dài mà tuyệt đối không có giun đất hay rác hữu cơ cày xới, các hạt keo sét đã kết dính lại với nhau thành một khối bê tông tự nhiên dưới lòng đất.

Vào mùa mưa, tầng đất sét này sẽ đóng vai trò như một chiếc đáy chậu ngăn không cho nước thấm xuống tầng sâu, biến cả khu vườn thành một vũng bùn lầy thụ động làm thối rữa toàn bộ rễ cây. Nhưng khi mùa đông hanh khô ập đến, nó sẽ co rút lại, nứt nẻ và đông cứng như thép nguội, hút cạn kiệt mọi giọt ẩm cuối cùng và bóp nghẹt mọi mầm sống vừa mới nhú.

An nhặt lên một mẩu đất sét nhỏ vừa bị lưỡi cuốc bạt ra. Khối đất lạnh buốt, trơn tuột và rắn đanh trong lòng bàn tay cô như một mảnh gốm sành chưa tráng men.

Gió bấc lại rít lên qua rặng tre gai phía sau lưng, thổi những hạt bụi tro xám bay mù mịt trên mặt vườn hoang.

Nhìn gần hai sào đất cỏ dại bạt ngàn phía trước, An hiểu rằng kế hoạch vườn rau xanh mướt, hố trùn quế và chuồng trại đệm lót sinh học của mình vừa vấp phải một bức tường thành kiên cố bằng đất đá. Với công cụ thô sơ chỉ có vài chiếc cuốc sắt mòn vẹt và sức người có hạn giữa thời buổi đói cơm thiếu đạm này, làm thế nào để phá vỡ tầng đất chai cứng chết tiệt này, đánh thức sự sống đã bị chôn vùi suốt bao năm tháng qua?

Đúng lúc ấy, tiếng cổng tre kẽo kẹt mở ra, và bóng dáng cao lớn của Trần Bình với chiếc xẻng bộ binh đeo bên hông vội vã rảo bước vào sân.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn