Xuyên không thập niên 70

Chương 16: Đám cưới giữa mùa đông

Tiếng còi ủ khẩn cấp từ chiếc loa truyền thanh hình nón trên ngọn đa đầu làng vừa dứt, cả con ngõ nhỏ dẫn vào xóm Đoài như rơi vào một khoảng lặng hụt hẫng đến rợn người.

Gió bấc cuối đông bắt đầu rít lên từng hồi qua rặng tre ngà ken dày ngoài ngõ. Những dải hoa giấy cắt bằng giấy báo bôi phẩm đỏ đung đưa kẽo kẹt trên chiếc cổng vòm tre nứa, chốc chốc lại bị một cơn gió thốc giật tung, bay là là rồi đáp xuống mặt đường đất bụi bặm. Mấy bác nông dân đi trong đoàn đón dâu đứng chết trân, gương mặt sạm đen vì nắng gió chiến hào và đồng ruộng nay lại xám ngoét đi vì lo lắng. Ai nấy đều hiểu rõ cái khắc nghiệt đến tàn nhẫn của thời tiết đồng bằng Bắc Bộ: một đợt rét hại dưới mười độ kèm theo sương muối độc chẳng khác nào một trận đại dịch trắng xóa quét qua đồng bãi. Mầm ngô, mầm đậu vừa đội đất non nớt như da em bé, chỉ cần một đêm hứng trọn sương muối giá buốt là tế bào đóng băng, ngày mai mặt trời hé lên một cái là lập tức thối nhũn, cháy đen toàn bộ.

Mười lăm mẫu đất bãi Soi – toàn bộ mồ hôi, hy sinh và cả canh bạc danh dự của Đội 3 – đang đứng trước nguy cơ trắng tay ngay trong ngày đại hỷ của người đội trưởng.

Bình vẫn ghì chặt hai tay phanh xe đạp Phượng Hoàng, khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực. Lồng ngực vạm vỡ của người lính dội lên từng nhịp thở dồn dập. Anh nhìn thẳng về phía cổng nhà mình, nơi u Mẫn đang ngơ ngác đứng tựa vào chiếc then cài cửa bằng tre, rồi lại ngoái đầu nhìn người vợ trẻ vừa mới cùng mình bái lạy tổ tiên bên nhà gái.

Nhận thấy bờ vai rắn rỏi của chồng đang căng cứng, Hoài An khẽ đặt bàn tay nhỏ nhắn nhưng chai sần của mình lên mu bàn tay anh. Chiếc vòng bạc chạm hoa chanh u Mẫn trao từ buổi sáng khẽ chạm vào ghi-đông xe, phát ra một tiếng "leng keng" thật trong trẻo.

“Anh Bình.” An cất giọng, âm điệu trầm tĩnh lạ thường như dòng nước mát tưới vào ngọn lửa đang bốc hỏa trong lòng anh. “Việc trời thì khó tránh, nhưng việc người thì ta định được. Mầm ngô mới nhú hai lá mầm, rễ cái vừa cắm sâu ba phân, ta vẫn còn thời gian trước khi sương muối giáng xuống vào nửa đêm. Giờ việc hệ trọng nhất là vào nhà, thưa chuyện với u, bái lạy bàn thờ thầy và hoàn thành lễ cưới trước mặt bà con xóm giềng. Đám cưới nếp sống mới của chúng mình không thể vì một cơn gió bấc mà chao đảo được.”

Ánh mắt của Bình chạm vào đôi mắt đen lánh, kiên định của An. Sự hoang mang của người lính bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho một sự kính phục và niềm tin mãnh liệt dâng trào. Anh hít một hơi thật sâu, luồng không khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi làm tinh thần anh lập tức tỉnh táo lại.

Bình quay sang đám thanh niên Đội 3 đang nháo nhác, lớn tiếng dõng dạc át cả tiếng gió:

“Bà con, anh em Đội 3 nghe tôi nói đây! Trời rét thì đã có chăn, ngô lạnh thì sẽ có rơm rạ che chắn! Việc đồng áng lát nữa cưới xong tôi và cô An sẽ trực tiếp cùng anh em ra bãi Soi ứng phó, tuyệt đối không để mất một mầm ngô nào! Bây giờ, xin mời toàn thể bà con cô bác và anh em vào hôn trường, xơi miếng trầu, uống chén nước chè xanh chung vui với gia đình chúng tôi!”

Lời nói cương nghị, vững như bàn thạch của người đội trưởng lập tức xua tan bầu không khí u ám. Đám trai làng như bừng tỉnh, họ hò reo vang lên, tiếng cười lại bắt đầu râm ran trở lại. Chị Đượm nhanh nhảu bước lên, đỡ lấy chiếc nón quai thao trên tay An, vừa đi vừa liến thoắng:

“Phải đấy! Việc đâu còn có đó, thịt chó còn có lá mơ! Nay là ngày vui tày trời của chú Bình với cô An, dẫu trời có đổ mưa đá cũng phải mừng cho hai đứa nên duyên cái đã!”

Bình dắt chiếc xe Phượng Hoàng qua chiếc cổng chào kết bằng hoa cúc dại vàng ươm. Bà cụ Mẫn bước vội ra sân, đôi mắt kèm nhem ngấn lệ, hai bàn tay gầy guộc run rẩy nắm lấy bàn tay An:

“Con ơi… U cứ lo ngoài đồng ngoài bãi làm lỡ mất giờ lành của hai đứa. Mau vào nhà đi con, ngoài ngõ gió độc lắm, kẻo buốt lạnh hết cả chân tay.”

“Dạ, con chào u. Chúng con về với u rồi đây ạ,” An khẽ cúi đầu, siết nhẹ lấy đôi bàn tay nhăn nheo của mẹ chồng, cảm nhận hơi ấm tình mẫu tử mộc mạc mà thiêng liêng lan tỏa khắp da thịt.

Gian nhà ba gian lợp rạ của mẹ con Bình hôm nay dường như rộng rãi và sáng sủa hơn thường lệ. Bức tường đất trát rơm bùn được quét một lớp vôi mới trắng đục còn vương mùi nồng nồng. Trên vách nứa giữa nhà dán một chữ "Song Hỷ" lớn cắt bằng giấy đỏ tươi do chính tay cụ giáo Khiêm nắn nót viết theo lối chữ chân phương mực tàu.

Không gian hôn trường thời bao cấp đơn sơ đến thắt lòng nhưng lại tràn trề sự ấm áp của tình người. Hai dãy bàn dài ghép tạm bằng những cánh phản gỗ xoan bóng loáng mượn từ nhà kho hợp tác xã kê dọc gian giữa. Phía trên bàn trải những tờ báo Nhân Dân phẳng phiu. Trên mặt bàn, những chiếc đĩa sứ Hải Dương hoa chanh bày biện tươm tất: đĩa kẹo mềm Hải Hà mậu dịch bọc giấy bóng kính xanh đỏ lấp lánh, đĩa mứt bí ngô mật mía màu cánh gián dẻo quánh tỏa mùi thơm ngọt ngào của gừng già, và những bát bỏng ngô nếp ngào mật phồng to, trắng muốt như những bông hoa cải nở giữa mùa đông.

Giữa bàn là những chiếc ấm tích bằng đất nung bọc trong giỏ ủ lót rơm rạ ấm sực. Khói chè xanh nghi ngút bốc lên từ những chiếc bát sành men da lươn, mang theo vị chát ngọt đằm sâu của thức chè mạn được hái từ vùng đồi trung du. Mùi thuốc lá Tam Đảo khói xanh lững lờ bay quyện vào mùi vỏ cam khô nướng trên đĩa than hồng đặt dưới chân bàn để xua bớt cái lạnh buốt đang luồn qua các khe liếp nứa.

Bà con xóm Đoài và xã viên Đội 3 chen chúc ngồi chật kín ba gian nhà. Các bà, các chị mặc những chiếc áo bà ba màu gụ, đầu vấn khăn vuông đen mỏ quạ, miệng bỏm bẻm nhai trầu đỏ thắm; đám đàn ông trung niên thì mặc áo đại hàn quân đội bạc màu hoặc áo bông chần trám quả trám cũ kỹ, tay cầm điếu cày rít lên những tiếng giòn giã, khói nhả mù mịt cả mái hiên.

Đúng lúc đó, từ ngoài ngõ có tiếng bước chân dồn dập kèm theo tiếng tằng hắng quen thuộc. Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát bước vào, chiếc áo bốn túi màu cỏ úa cài kín cổ, bên túi ngực vẫn gài chiếc bút máy Kim Tinh nắp mạ vàng bóng loáng. Theo sau ông là bác kế toán và mấy cán bộ trong Ban Quản trị Hợp tác xã An Hòa.

Cả gian nhà lập tức xôn xao. Mọi người tự giác nhường một lối đi nhỏ dẫn thẳng vào chiếc bàn danh dự kê sát bàn thờ.

“Kìa, bác Chủ nhiệm đã đến!” tiếng ai đó cất lên.

Ông Khoát tháo chiếc mũ cối xuống, phủi nhẹ những hạt mưa phùn li ti bám trên vành mũ rồi đưa mắt nhìn quanh gian nhà một lượt. Ánh mắt ông dừng lại ở đĩa mứt bí và bỏng ngô trên bàn, khóe môi khẽ giật giật đầy vẻ hài lòng. Ông bước tới bắt tay Bình thật chặt, rồi quay sang gật đầu với An:

“Tôi vừa ở trên xã về, nghe đài báo rét hại mà ruột gan cứ nóng như lửa đốt. Nhưng công việc tập thể là một chuyện, việc xây dựng tổ ấm mới của hai đồng chí xã viên ưu tú lại là chuyện lớn của cả làng An Hòa này. Tôi phải sang ngay để chúc mừng đôi vợ chồng trẻ!”

Bình vội vàng kéo chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít mời Chủ nhiệm ngồi:

“Cảm ơn bác Chủ nhiệm và các đồng chí trong Ban Quản trị đã bớt chút thời gian quý báu sang dự lễ với chúng cháu. Mời bác xơi chén nước chè nóng cho ấm giọng ạ.”

Chủ nhiệm Khoát nhấp một ngụm chè xanh nóng rẫy, khà một tiếng khoan khoái rồi đứng thẳng người dậy, hắng giọng lấy uy quyền quen thuộc của người đứng đầu hợp tác xã. Gian nhà lập tức im phăng phắc, chỉ còn nghe tiếng gió bấc thổi ào ào trên rặng cau ngoài sân.

“Kính thưa toàn thể bà con xã viên xóm Đoài và Đội sản xuất số 3!” Giọng ông Khoát vang lên trầm ấm, mạch lạc. “Hôm nay, thực hiện đúng chủ trương của Huyện ủy và Ủy ban xã về cuộc vận động xây dựng nếp sống mới trong việc cưới xin, đồng chí Trần Bình – Đội trưởng Đội 3, một thương binh gương mẫu – và đồng chí Nguyễn Hoài An – nữ cựu thanh niên xung phong, người đã có công lớn cứu vãn kho thóc giống của chúng ta – chính thức nên duyên vợ chồng! Lễ cưới hôm nay không có cỗ bàn linh đình, không rượu thịt lãng phí, không phô trương hình thức. Chỉ có bát nước chè xanh thắm đượm tình làng nghĩa xóm, có đĩa kẹo mậu dịch và sản vật do chính bàn tay lao động của đôi trẻ làm ra!”

Tiếng vỗ tay rào rào vang lên từ khắp các góc nhà. Mấy cô thanh nữ Đội 3 mắt sáng lấp lánh nhìn An đầy ngưỡng mộ.

Ông Khoát đưa tay rút chiếc bút máy Kim Tinh cài trên ngực áo ra, chỉ nhẹ vào tờ giấy chứng nhận kết hôn màu hồng đã được ép plastic cẩn thận đặt trên chiếc khay trầu:

“Thay mặt Đảng ủy, Ủy ban và Ban Quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp An Hòa, tôi nhiệt liệt biểu dương tinh thần tiên phong, gương mẫu của hai đồng chí. Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích nếp sống mới giản dị, tiết kiệm, lấy tình yêu thương và sự đồng cam cộng khổ làm nền tảng. Tôi xin trao lại tờ giấy chứng nhận này cho hai đồng chí. Chúc hai đồng chí trăm năm hạnh phúc, thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn, vừa xây dựng gia đình êm ấm, vừa lãnh đạo Đội 3 hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu vụ đông!”

Cả gian nhà nổ tung trong những tràng pháo tay giòn giã. Bình kính cẩn hai tay đón lấy tờ giấy chứng nhận kết hôn từ tay Chủ nhiệm Khoát, rồi quay sang nắm chặt lấy tay An. Tờ giấy mỏng manh in hình quốc huy đỏ thắm nhưng đối với họ, đó là sự thừa nhận danh chính ngôn thuận, là thành quả sau bao nhiêu sóng gió, vượt qua cả những toan tính hẹp hòi của bà Phó Tươi để đường hoàng bước bên nhau dưới một mái nhà.

“Bây giờ,” tiếng bác Cả Khiêm – đại diện họ nhà gái – cất lên trầm ấm, “xin mời đôi trẻ bước tới trước bàn thờ gia tiên để làm lễ tạ ơn tổ tiên họ Trần.”

Bầu không khí bỗng chốc trở nên trang nghiêm lạ lùng. Bình dắt tay An tiến về phía gian giữa, nơi đặt chiếc bàn thờ tổ tiên bằng gỗ gụ đã ngả màu thời gian. Phía trên hương án, bên cạnh bát hương đồng bám đầy tàn nhang cổ kính là di ảnh của người cha liệt sĩ của Bình. Bức ảnh đen trắng chụp người lính Vệ quốc đoàn năm xưa trong bộ quân phục bạc màu, đôi mắt sáng ngời cương nghị dường như đang mỉm cười hiền hậu nhìn xuống đôi trẻ.

Bên cạnh bát hương, An kính cẩn đặt cuốn sổ nhật ký quân ngũ năm 1972 của anh trai Hoài Nam – kỷ vật vô giá mà thầy Khiêm vừa trao cho hai người sáng nay. Hai thế hệ người lính, hai người con ưu tú của quê hương đã ngã xuống nơi chiến trường khói lửa, hôm nay dường như cùng tề tựu về đây để chứng giám cho mối duyên lành giữa người em gái và người đồng đội thân thương.

Bình run run châm ba nén hương trầm. Khói hương xanh mờ ảo uốn lượn bay lên, mang theo mùi thơm thanh khiết, trầm mặc xua tan đi cái lạnh lẽo của mùa đông.

Hai người cùng quỳ xuống trên chiếc chiếu cói mới. Tiếng gối chạm sàn đất nện nghe thật êm và chắc chắn. Bình ngước nhìn di ảnh cha, giọng anh nghẹn lại vì xúc động nhưng từng lời từng chữ đều vang lên dõng dạc, rõ ràng:

“Thưa hương hồn của thầy… Hôm nay, trước bàn thờ tổ tiên và sự chứng giám của họ hàng làng xóm, con xin phép được đón Hoài An về làm vợ, làm con dâu họ Trần. Con xin thề trước anh linh của thầy, đời này kiếp này con sẽ hết lòng yêu thương, che chở cho An; cùng An gánh vác việc gia đình, phụng dưỡng u già chu đáo, giữ trọn đạo nghĩa vợ chồng dù gian lao nghèo khó hay ấm no đủ đầy. Con cũng xin hứa trước vong linh của anh Hoài Nam, con sẽ thay anh chăm sóc cho An, và sớm muộn gì con cũng sẽ vào tận chiến trường Tây Nguyên để đưa anh về yên nghỉ nơi đất mẹ!”

Nghe những lời ruột gan ấy, khóe mắt Hoài An cay xè. Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má rám nắng của cô, rơi khẽ xuống mu bàn tay chai sạn của Bình. Ở thế kỷ hai mươi mốt xa xôi, cô từng chứng kiến biết bao đám cưới xa hoa lộng lẫy, ngập tràn hoa hồng ngoại nhập và đèn chùm pha lê, nhưng chưa từng có một lời thề nào lại nặng tựa non bồng, mộc mạc và chân thành đến thắt ruột như lời thề của người đàn ông này.

An cúi đầu, hai tay chắp trước ngực, giọng cô trong trẻo nhưng chứa chan sự kiên định:

“Thưa anh linh của thầy và tổ tiên họ Trần… Con là Nguyễn Hoài An, từ nay xin nguyện làm dâu con trong nhà. Con nguyện cùng anh Bình đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, lấy sự hiếu thuận làm đầu, lấy sự siêng năng lao động làm gốc. Dù ngày mai có bão giông rét mướt, con cũng xin cùng anh kề vai sát cánh, dựng xây mái ấm này vững vàng như rễ ngô cắm sâu vào đất bãi.”

Bà cụ Mẫn ngồi bên cạnh, lấy vạt áo nâu lau vội dòng nước mắt đang lăn dài trên những nếp nhăn đuôi mắt. Bà bước tới, đôi tay run rẩy đặt lên vai hai con:“Hai đứa… lạy tạ tổ tiên xong rồi thì đứng dậy đi các con. Thầy con ở suối vàng chắc chắn đang mỉm cười phù hộ cho hai đứa đấy. U chẳng có vàng bạc ngọc ngà gì cho các con, chỉ mong hai đứa thương nhau đến đầu bạc răng long, đói no có nhau, bát cơm xẻ nửa, củ khoai cắn đôi là u mãn nguyện lắm rồi…”

“U!” An xúc động ôm lấy vòng eo gầy gò của mẹ chồng. Bà cụ xoa đầu con dâu, vuốt lại bím tóc tết lệch cho cô, nụ cười móm mém bừng sáng cả khuôn mặt già nua.

Khi nghi lễ gia tiên kết thúc, gian nhà ba gian lại vỡ òa trong tiếng chúc tụng. Đám thanh niên Đội 3 dường như không thể kìm nén được niềm vui thêm nữa. Anh Toàn "cụt" – cựu chiến binh cùng tổ sản xuất – bỗng nhiên đứng bật dậy, dùng chiếc thìa nhôm gõ cong cong vào chiếc bát sành men lươn:

“Nào anh em ơi! Đám cưới nếp sống mới của Đội trưởng Bình và cô An thì không thể thiếu tiếng hát được! Nhân ngày đại hỷ, lại đúng lúc gió mùa tràn về, anh em Đội 3 ta cùng hát tặng cô dâu chú rể một bài thật bốc để xua tan cái rét mướt nào!”

“Hát bài gì? Bài ca may áo nhé!” một cô gái cất tiếng giòn giã.

“Không! Hát bài ‘Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây’ đi! Chú Bình lính Trường Sơn, cô An cựu thanh niên xung phong, bài đấy là đúng điệu nhất!”

Chẳng đợi ai bắt nhịp, cả gian nhà đồng thanh cất cao tiếng hát. Tiếng hát của những chàng trai, cô gái nông thôn Bắc Bộ thời hậu chiến vang lên mộc mạc, hào sảng mà thắm đượm nghĩa tình:

“Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn Hai đứa ở hai đầu xa thẳm Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây…”

Những bàn tay chai sần cùng đập nhịp xuống mặt bàn gỗ xoan. Tiếng cười, tiếng vỗ tay rộn rã át đi tiếng gió rít gầm gào ngoài vườn chuối. Chủ nhiệm Khoát cũng hào hứng dùng chiếc bút Kim Tinh gõ nhẹ lên mép bàn theo từng nhịp phách, khuôn mặt nghiêm nghị thường ngày giãn ra trong nụ cười sảng khoái hiếm thấy.

Mấy bát nước chè xanh lại được rót đầy, khói bốc lên ngùn ngụt sưởi ấm những đôi môi đang thâm tím vì lạnh. Những chiếc kẹo Hải Hà dẻo thơm tan dần trong miệng đám trẻ con xóm Đoài đang chen chúc thò đầu qua bậu cửa sổ dòm vào. Mùi mật mía ngào bỏng ngô ngọt lịm như chính hương vị của cuộc sống lao động chân chính đang đơm hoa kết trái giữa những năm tháng thiếu thốn trăm bề.

Trong góc nhà, chị Đượm ghé sát tai An, thì thào đầy vẻ tinh nghịch:

“Này An, tao bảo thật nhé. Làng này chưa từng thấy cái đám cưới nào lạ như của mày với chú Bình. Vừa rước dâu về đến ngõ thì loa báo rét hại, thế mà vào đến nhà thì ấm như trong lò trấu. Mày nhìn xem, từ ông Chủ nhiệm khét tiếng khó tính đến bà con lối xóm, ai nhìn hai đứa mày cũng rạng rỡ cả lên. Khéo cái phúc của mày với chú Bình nó xua tan cả sương muối ngoài đồng ấy chứ!”

An mỉm cười, đôi mắt lấp lánh nhìn quanh gian nhà:

“Phúc là ở lòng người đấy chị Đượm ạ. Được bà con thương, được tập thể đùm bọc thế này, dẫu có đói rét mấy em cũng không sợ.”

Tiệc cưới "Nếp sống mới" diễn ra vỏn vẹn trong hơn một tiếng đồng hồ. Không cỗ bàn ê hề, không bia rượu chúc tụng say sưa, nhưng sự ấm áp, chân thành và rộn rã của nó thì đọng lại sâu sắc trong lòng mỗi người tham dự.

Gần trưa, khi ấm chè xanh cuối cùng đã cạn nước, khách khứa bắt đầu lục tục đứng dậy ra về. Họ bắt tay Bình, dặn dò An từng câu từng chữ đầy ân tình:

“Vợ chồng son nhớ giữ gìn sức khỏe nhé!”

“Cố gắng lên nghe hai đứa, chiều nay có việc gì cứ ới một tiếng, dân xóm Đoài này không để chúng mày phải gánh một mình đâu!”

Chủ nhiệm Khoát đội lại chiếc mũ cối lên đầu, trước khi bước ra ngõ còn quay lại vỗ vai Bình:

“Đồng chí Bình này, nghỉ ngơi lấy nửa ngày với cô dâu đi đã. Chiều tối tôi sẽ triệu tập Ban Quản trị họp khẩn để bàn phương án chống rét cho bãi Soi.”

Bình nghiêm trang đứng thẳng người, lắc đầu dứt khoát:

“Báo cáo bác Chủ nhiệm, thời tiết không chờ cuộc họp của chúng ta được đâu ạ. Đợi đến chiều tối thì sương muối đã bắt đầu giáng xuống rồi. Bác cứ yên tâm, vợ chồng cháu đã có tính toán từ trước. Chúng cháu sẽ ra đồng ngay bây giờ!”

Ông Khoát nhìn sâu vào mắt Bình, rồi lại nhìn sang dáng vẻ kiên nghị của Hoài An. Trong mắt vị Chủ nhiệm già thoáng hiện lên một tia cảm phục sâu sắc. Ông gật đầu mạnh một cái:

“Được! Đúng là tác phong của người lính! Cần huy động thêm người hay rơm rạ của hợp tác xã thì cứ sang thẳng nhà kho lấy, tôi ký lệnh cho!”

Khi vị khách cuối cùng bước qua cổng chào tre nứa, gian nhà ba gian bỗng chốc trở lại với sự tĩnh lặng vốn có.

Bà cụ Mẫn vì mệt mỏi sau cả buổi sáng lo toan đã được An dìu vào buồng trong ngả lưng tạm. Gian ngoài chỉ còn lại Bình và An đứng bên chiếc bàn gỗ ngổn ngang những vỏ kẹo và tàn nhang rụng.

Đúng lúc ấy, một cơn cuồng phong dữ dội từ phương Bắc tràn về, thốc thẳng vào hiên nhà. Cánh liếp nứa bị gió đẩy đập rầm rầm vào cột xoan, phát ra những tiếng kêu ken két đến ghê người. Tiếng gió bấc rít qua các khe hở nghe như tiếng còi hú xé rách không gian mờ mịt.

Mưa phùn bắt đầu nặng hạt hơn. Những hạt mưa li ti lạnh buốt như kim châm bay xiên qua mép hiên, tạt ướt cả tấm chiếu hoa trải trên phản. Nhiệt độ ngoài trời lúc này đang tụt dốc không phanh, hơi lạnh thấu xương thấu tủy bốc lên từ nền đất nện ẩm ướt, làm da thịt người ta run lên bần bật.

An bước ra bậu cửa, đưa mắt nhìn xa xăm về phía triền đê sông Đáy. Cả cánh đồng bãi Soi mười lăm mẫu đất ngô và đậu tương mới gieo dường như đang bị nuốt chửng trong một màn sương mù xám xịt và giá buốt. Những mầm non yếu ớt vừa mới nhú lên khỏi mặt đất phù sa màu mỡ sáng nay, giờ đây đang phải oằn mình chống chọi với cơn bão lạnh đầu tiên của mùa đông khắc nghiệt.

Một bóng đen cao lớn khẽ bước tới, đứng chắn ngay trước hướng gió thổi để che cho cô. Bình cởi chiếc áo khoác sĩ quan bốn túi rộng thùng thình của mình, nhẹ nhàng choàng lên đôi vai mảnh khảnh của An. Mùi mồ hôi quen thuộc quyện với mùi vải Tô Châu ấm sực lập tức bao bọc lấy cơ thể cô.

“Lạnh lắm, mình vào nhà đi kẻo ốm,” giọng Bình trầm ấm vang lên bên tai.

An không quay đầu lại, cô vươn tay nắm chặt lấy vạt áo khoác của chồng, chỉ tay về phía màn mưa trắng xóa ngoài đồng:

“Anh Bình, anh nhìn kìa. Mây đen sà thấp thế kia, chỉ chừng hai tiếng nữa là sương muối sẽ đọng trắng ngọn cỏ. Mầm ngô lai của chúng mình sức sống rất khỏe nhưng lá mầm còn non nhớt, hàm lượng nước trong tế bào cao, nếu bị sương muối bám vào rồi đóng băng thì chiều mai toàn bộ bãi Soi sẽ cháy rụi như bị hơ lửa.”

Bình nheo mắt nhìn theo hướng tay vợ chỉ, quai hàm bạnh ra kiên quyết:

“Anh hiểu. Mười lăm mẫu đất đó là bát cơm của hàng trăm con người Đội 3 trong mùa giáp hạt tới. Chúng ta không thể để mất nó được!”

Dứt lời, anh thoăn thoắt bước lại góc nhà, tháo dải thắt lưng quân dụng da bò thắt chặt lại quanh bụng. Anh với tay lấy hai chiếc áo tơi lá cọ xù xì treo trên vách đất cùng chiếc đèn bão bằng sắt tây đã đổ đầy dầu hỏa.

An cũng lập tức tháo chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng cài trên đầu, cẩn thận đặt lên mép bàn thờ gia tiên. Cô nhanh nhẹn búi gọn mái tóc đen dày lên sau gáy, tháo đôi dép nhựa Tiền Phong mới tinh cất vào gầm phản, rồi xỏ chân vào đôi ủng cao su bảo hộ lao động cũ đã mòn vẹt đế. Cô cởi chiếc áo cánh trắng mặc lót bên trong, khoác vào chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa vá hai miếng vuông vắn nơi khuỷu tay.

“Mình mang theo mấy chiếc liềm cùn và dây đay nữa anh,” An vừa thoăn thoắt kiểm tra chiếc đèn bão vừa nói, giọng điềm tĩnh và dứt khoát như một người chỉ huy trước giờ xung trận. “Chúng ta phải huy động rơm rạ khô ủ quanh gốc luống để giữ nhiệt cho đất, đồng thời hun khói mù ở đầu hướng gió bấc để cản sương muối sà xuống mặt đất. Chỉ cần giữ được nhiệt độ bề mặt luống trên năm độ C qua đêm nay là mầm ngô sẽ sống!”

Bình nhìn người vợ trẻ của mình, ánh mắt tràn ngập niềm kiêu hãnh và yêu thương vô bờ bến. Anh khoác chiếc áo tơi lá cọ dầy cộp lên người An, buộc chặt nút dây bẹ chuối trước ngực cô, rồi tự mình khoác chiếc còn lại:

“Đi thôi mình! Đám cưới xong rồi, giờ là lúc vợ chồng mình ra trận!”

Hai bóng người – một cao lớn vững chãi, một mảnh khảnh nhưng rắn rỏi – cùng nhau bước qua bậu cửa. Gió bấc gầm rú từng cơn quất rát rạt vào những tán lá cọ trên lưng áo tơi, tiếng mưa phùn rơi lộp độp trên vành nón mê. Giữa đất trời mùa đông lạnh buốt và mịt mùng mưa gió, ngọn đèn bão trên tay Bình hắt ra một vệt sáng vàng ấm áp, dẫn lối cho đôi vợ chồng trẻ rảo bước thật nhanh, lao thẳng ra triền đê sông Đáy về phía bãi Soi đang oằn mình chờ đợi.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn