Sương mù cuối đông bến sông Đáy dâng lên bảng lảng, trắng xóa như một dải lụa mỏng phủ trùm lên những rặng tre già cỗi và những mái rạ liêu xiêu của làng An Hòa. Gió bấc thổi từng cơn se sắt, luồn qua khe liếp cửa sổ gian buồng con của Hoài An, mang theo cái rét ngọt ngào của buổi sớm mai và mùi phù sa ngai ngái bốc lên từ lòng bãi bồi.
Trên chiếc chõng tre con kê sát góc nhà, ngọn đèn dầu hột vịt tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, ấm áp. Hoài An ngồi lặng trước tấm gương tròn nhỏ bằng bàn tay đã ố thủy ngân ở góc viền. Cô thức dậy từ lúc gà gáy canh tư, sau một đêm gần như thao thức trọn vẹn. Trong túi áo ngực của cô lúc này, phong bì thư quân đội ố vàng sờn mép mang theo tin tức về tọa độ hy sinh của người anh cả Hoài Nam vẫn nằm yên ở đó, tỏa ra một sức nặng thiêng liêng khiến từng nhịp đập nơi lồng ngực cô vừa bồi hồi, vừa trĩu nặng ân tình.
An cầm chiếc lược bí bằng sừng trâu, nhẹ nhàng gỡ từng lọn tóc đen nhánh, dày dặn và mượt mà như suối nước đầu nguồn. Đôi bàn tay vốn quen với ống nghiệm, kính hiển vi ở thế kỷ hai mươi mốt, giờ đây đã lấm tấm những vết chai sần nhỏ nơi lòng bàn tay vì cuốc đất, gánh bùn và đảo nhiệt lò sấy. Nhưng ánh mắt soi trong gương thì vẫn vẹn nguyên nét trong trẻo, điềm tĩnh và sâu thẳm.
Cô tỉ mỉ tết mái tóc thành một bím lệch buông lơi bên bờ vai thon. Khi những ngọn tóc cuối cùng được luồn sợi chỉ đỏ buộc chặt, An vươn tay cầm lấy chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng đặt trên mặt bàn. Dưới ánh sáng le lói của ngọn đèn dầu, miếng đồng thau được Bình gọt giũa suốt bao đêm gác lạnh phản chiếu ánh kim lấp lánh, từng đường viền cánh hoa mai chạm khắc vụng về nhưng sắc sảo hiện lên rõ mồn một. An nhẹ nhàng cài chiếc kẹp lên mái tóc tết. Vỏ đạn kim loại chạm vào da đầu man mát, nhưng chỉ một thoáng sau đã bắt đầu hấp thụ hơi ấm từ cơ thể cô. Nơi cổ tay gầy, chiếc vòng bạc chạm hoa chanh gia truyền mà bà cụ Mẫn trao hôm trước cũng khẽ lay động, chạm vào mép bàn phát ra tiếng leng keng thanh mảnh.
Hôm nay là ngày cưới của cô, một đám cưới theo phong trào “Nếp sống mới” giữa những năm tháng đất nước gian lao sau ngày thống nhất. Không có áo cưới xường xám bằng gấm thêu lộng lẫy, không có khăn voan trắng bồng bềnh hay hoa tươi nhập ngoại. Trang phục cưới của Hoài An là chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa bằng vải kaki Nam Định được giặt hồ phẳng phiu bằng nước cơm sôi từ chiều hôm trước, hai bên vai áo có hai miếng vá nhỏ bằng vải cùng màu nhưng đường kim mũi chỉ đều tăm tắp, thẳng tắp như kẻ chỉ. Phía dưới, cô mặc chiếc quần lụa đen bóng giản dị, đôi dép cao su đúc màu đen được rửa sạch bóng, để lộ đôi bàn chân nhỏ nhắn trắng trẻo.
“Trời đất ơi, cô dâu nhà ai mà xinh xẻo, nền nã thế này không biết!”
Tiếng then cài cửa tre khẽ lách cách, rồi giọng cười giòn tan quen thuộc của chị Đượm vang lên phá tan sự tĩnh mịch của gian buồng. Đượm bưng sang một chiếc rổ xảo nhỏ đậy tấm vải màn trắng, trên người diện chiếc áo cánh màu mỡ gà hiếm hoi chỉ dành cho những dịp hội hè đình đám. Vừa bước vào, Đượm đã xuýt xoa, đặt chiếc rổ lên chõng rồi xăm xăm bước lại ngắm An từ đầu đến chân.
“Đấy, chị đã bảo rồi mà, cái nết người ta đẹp thì khoác manh áo vá cũng sáng bừng cả góc nhà!” Đượm tấm tắc, đưa tay nắn nắn bím tóc của An, mắt dán chặt vào chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng rồi bĩu môi trêu chọc đầy hóm hỉnh: “Gớm chưa, cái kẹp tóc của chú Bình đấy phỏng? Cánh lính chiến trường khéo tay thật, nhìn bóng lộn thế này khéo mài mòn cả tảng đá suối chứ chẳng chơi! Đêm qua chú ấy lại lẻn sang dúi cho cô dâu chứ gì?”
An ngượng ngùng cúi đầu, má ửng lên ráng hồng tự nhiên dưới ánh đèn:
“Chị cứ trêu em mãi. Anh ấy sang bàn việc tiếp khách với u thôi mà.”
“Thôi thôi, việc nước việc nhà gì chị lạ gì hai cái người này nữa!” Đượm cười khúc khích, rồi lật tấm vải màn trên rổ xảo ra. Bên trong là một mẩu giấy trang điểm màu hồng thắm đã cũ và một hộp phấn nụ nhỏ xíu thơm ngát mùi hoa nhài. “Nào, ngồi yên chị chấm cho tí phấn nụ của u chị cất dưới đáy rương từ thời kháng chiến, với cắn tí giấy đỏ cho môi nó thắm. Ngày vui cả đời người ta, dẫu thực hiện nếp sống mới tiết kiệm thì cô dâu Đội 3 của chúng mình cũng phải rạng ngời nhất cái xã An Hòa này!”
An không từ chối tấm lòng chân chất của người chị em thân thiết. Cô ngồi ngoan ngoãn để Đượm thoa một lớp phấn mỏng manh lên đôi gò má rám nắng đồng ruộng, rồi khẽ bặm môi vào mảnh giấy đỏ. Màu son giấy mộc mạc khiến gương mặt thanh tú của cô bừng lên sức sống rạng rỡ, đôi mắt lá dong sáng ngời như chứa đựng cả mùa xuân đang âm thầm tích nhựa sống trong lòng đất lạnh.
Đúng lúc ấy, tấm rèm vải thô ngăn cách gian nhà ngoài khẽ lay động. Bà Khiêm bước vào buồng, trên tay bưng một chiếc cơi trầu têm cánh phượng khéo léo. Nhìn thấy con gái trong bộ áo mới tươm tất, mái tóc cài chiếc kẹp vỏ đạn sáng loáng, đôi mắt người mẹ già đã mờ đục vì khói bếp và sương gió bất giác hoe đỏ. Bà dừng lại ở bậu cửa, đôi bàn tay gầy gò nhăn nheo khẽ run run siết chặt chiếc cơi đồng.
“U…” An khẽ gọi, toan đứng dậy.
Bà Khiêm bước nhanh lại, đặt cơi trầu lên chiếc bàn con rồi ôm lấy đôi vai mảnh khảnh của con gái. Hơi ấm từ bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì ngâm nước ruộng phèn chua của mẹ truyền qua lớp vải kaki dày, khiến sống mũi An cay xè.
“Con gái lớn của u… Thế là hôm nay con đi làm dâu nhà người ta rồi.” Giọng bà Khiêm nghẹn lại, từng giọt nước mắt lăn dài trên những nếp chân chim sâu hoắm. “Nhà mình nghèo, thầy u chẳng lo cho con được cỗ bàn linh đình hay của hồi môn quý giá như con gái nhà khá giả ngoài phố huyện. Chỉ có manh chăn bông gạo tự khâu với tấm lòng này đưa con đi… Nhưng u mừng, u mừng vì con tìm được thằng Bình. Thằng bé nó thật thà, trọng nghĩa tình, lại biết thương vợ thương mẹ. Về bên ấy, con phải giữ trọn đạo dâu con, thuận hòa với xóm giềng, đỡ đần cho u Mẫn lúc trái gió trở trời nghe con…”
“Vâng, u cứ yên tâm, con ghi nhớ lời u dạy mà,” An nghẹn ngào vùi đầu vào ngực mẹ, nghe mùi hương bồ kết thoang thoảng lẫn trong mùi khói rạ thân thương. Tình cảm ruột thịt mộc mạc mà thiêng liêng này đã bọc lấy tâm hồn một người lữ khách từ thế kỷ hai mươi mốt như cô, cho cô một điểm tựa vững chãi nhất trần đời.
Bên ngoài sân gạch, tiếng đũa bát va lách cách của mấy cô bác Đội 3 sang phụ giúp nấu nước chè và sắp mâm kẹo mậu dịch bỗng chốc im bặt. Rồi đột nhiên, từ phía đầu ngõ xóm Đông vang lên tiếng reo hò rộn rã của lũ trẻ con:
“Đoàn đón dâu đến rồi! Có xe đạp! Xe đạp Phượng Hoàng đẹp lắm chúng mày ơi!”
Tiếng chuông xe đạp “kính coong… kính coong” thanh giòn, vang xa ngân nga xé toạc màn sương sớm lạnh giá. Tiếng bước chân rậm rịch hòa cùng tiếng cười nói xôn xao của bà con lối xóm khiến cả khúc đê sông Đáy như bừng tỉnh giấc.
An ngẩng đầu lên, tim đập thình thịch từng nhịp rộn ràng. Chị Đượm đã chạy vội ra cửa sổ ngó nghiêng, rồi quay ngoắt lại vỗ tay bôm bốp, giọng đầy phấn khích:
“Ối giời ôi An ơi! Chú Bình oách quá! Đi xe Phượng Hoàng cánh chả sáng choang luôn! Cả Ban Quản trị hợp tác xã với thanh niên Đội 3 đi theo rồng rắn kéo dài cả một đoạn đê kìa!”
Bên ngoài cổng ngõ rào dâm bụt, đoàn rước dâu của nhà trai đã tề tựu đông đủ. Đi đầu chính là Trần Bình.
Hôm nay, người cựu chiến binh dạn dày sương gió ấy dường như đã lột xác thành một con người hoàn toàn mới. Bình mặc bộ quân phục Tô Châu màu xanh lá thẫm phẳng phiu không một nếp nhăn, được là kỹ lưỡng bằng bàn ủi than con gà từ chiều hôm trước. Cổ áo cài khuy ngay ngắn, vai áo thẳng tắp tôn lên khuôn ngực nở nang, vững chãi của người lính pháo binh. Trước ngực trái của anh, chiếc Huân chương Chiến công hạng Ba và dải cuống huân chương kháng chiến bằng kim loại sáng lấp lánh dưới ánh rạng đông vừa hắt qua rặng tre. Mái tóc cắt ngắn gọn gàng để lộ vầng trán cao cương nghị và đôi mắt đen láy ngập tràn niềm vui sướng không giấu giếm. Dù bước chân trái còn vương một chút khập khiễng nhẹ do vết thương đạn sượt chiến trường, nhưng từng bước đi của anh đều toát lên vẻ đĩnh đạc, kiên định và đầy tự hào.
Và nổi bật nhất, khiến cả làng xóm phải trầm trồ vây quanh, chính là chiếc xe đạp Phượng Hoàng mà Bình đang cẩn thận dắt bên tay phải.
Trong những năm tháng bao cấp thập niên bảy mươi, một chiếc xe đạp Phượng Hoàng cánh chả màu xanh bộ đội nhập khẩu từ Thượng Hải là cả một gia tài khổng lồ, là niềm mơ ước tột bậc của bất kỳ gia đình nào ở nông thôn. Đó là phương tiện đi lại của Chủ nhiệm Hợp tác xã Bùi Đắc Khoát, chiếc xe mà ngày thường ông Khoát nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, mỗi lần đi công tác huyện về đều dùng giẻ mềm lau chùi từng chiếc nan hoa bóng lộn. Vậy mà hôm nay, vì nể phục tài năng cứu kho giống ngập lụt của An và trân trọng tinh thần gương mẫu của Bình, đích thân Chủ nhiệm Khoát đã tự tay giao chìa khóa xe cho Bình mượn làm xe rước dâu.
Chiếc xe được chuẩn bị vô cùng tươm tất. Khung xe bóng loáng không một hạt bụi. Phía trước ghi-đông sáng bóng buộc một chiếc nơ hoa màu đỏ thắm được cắt khéo léo từ vải vụn của Đội làm chiếu. Đặc biệt nhất là ở yên sau (gác-ba-ga), Bình đã tỉ mỉ dùng những cọng rơm nếp vàng óng, thơm phức bện thành một tấm đệm dày dặn êm ái, bọc bên ngoài bằng một mảnh vải hoa xanh nhạt cài nút chắc chắn, để cô dâu ngồi lên không bị xóc nảy trên đoạn đường đê rải đá răm.
Đi sau Bình là bác Trưởng ban kiểm soát hợp tác xã đại diện cho họ nhà trai, theo sau là hàng chục nam nữ thanh niên của Đội sản xuất số 3. Mọi người đều xúng xính trong những bộ quần áo tươm tất nhất của mình. Trên tay những cô gái trẻ trong đội là những chiếc xảo nhỏ đựng hoa giấy cắt thủ công từ giấy gói kẹo và giấy màu học trò. Lũ trẻ con trong làng cởi truồng hoặc mặc manh áo rách túm tụm chạy theo sau, thi nhau reo hò, nhặt những mảnh hoa giấy đỏ vàng bay lả tả trong làn sương sớm rồi ném lên không trung như pháo nổ ròn rã.
Cả một góc triền đê rộn ràng tiếng vỗ tay của bà con xã viên đang gánh phân, dắt trâu đi làm sớm.
“Chúc mừng chú Bình nhé! Cưới được cô kỹ sư giỏi giang nhất xã rồi đấy!”
“Gớm, xe Phượng Hoàng đón dâu cơ đấy! Đẹp đôi nhất vùng tả ngạn này rồi!”
Bình mỉm cười, liên tục nghiêng đầu gật chào bà con xóm giềng, hai vành tai đỏ ửng lên vì ngượng ngùng nhưng ánh mắt thì rạng ngời niềm kiêu hãnh.
Đoàn đón dâu bước qua ngõ rào dâm bụt, tiến vào khoảng sân gạch rêu phong của nhà cụ Khiêm. Chiếc rạp cưới đơn sơ dựng bằng tre nứa và bẹ cau từ hôm qua đã giăng sẵn dòng khẩu hiệu cắt bằng giấy đỏ: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ sản xuất”. Trên hai chiếc bàn tre dài, những bát nước chè xanh cắm lá dứa nghi ngút khói thơm lừng đặt cạnh những đĩa mứt bí ngô đỏ au ngào mật mía và bỏng ngô nổ giòn do chính tay An chế biến.
Cụ giáo Khiêm bước ra hiên đón khách. Hôm nay cụ mặc chiếc áo the dài màu thẫm đã sờn cổ, cổ quấn chiếc khăn len xơ xác nhưng phong thái của người thầy giáo già vùng đồng bằng vẫn toát lên vẻ nho nhã, trang nghiêm. Cơn ho lao kéo dài cả mùa đông dường như tạm lắng xuống nhờ những bát cháo tẩm bổ dạo gần đây, khuôn mặt cụ hồng hào hơn hẳn.
“Kính thưa thầy, thưa u, thưa toàn thể hai họ và bà con Đội 3…” Trần Bình dựng chiếc xe Phượng Hoàng ngay ngắn bên gốc ổi, đứng nghiêm trang chắp tay trước cụ Khiêm và bà Khiêm, giọng trầm ấm mà dõng dạc: “Hôm nay ngày lành tháng tốt, được sự đồng ý của Chi bộ, Ủy ban xã và sự tác thành của hai bên gia đình, con xin phép được dẫn đoàn đại biểu Đội 3 sang đón cô Hoài An về làm dâu họ Trần, làm bạn đời cùng con gánh vác việc chung việc riêng suốt cuộc đời này.”
Bà con xung quanh vỗ tay rào rào. Cụ Khiêm mỉm cười gật đầu, ánh mắt ánh lên sự xúc động vô bờ:
“Tốt lắm, các anh chị vào nhà uống chén nước chè xanh cho ấm lòng. Anh Bình, anh vào buồng đón con An ra đây với thầy.”
Bình hít một hơi sâu, lồng ngực phập phồng hồi hộp. Anh bước từng bước vững chãi qua bậc cửa, vén tấm rèm vải thô bước vào gian buồng nhỏ.
Và khoảnh khắc nhìn thấy Hoài An đứng bên mép chõng tre, Bình như chết lặng.
Người con gái anh thương đang đứng đó, mộc mạc và thanh khiết như một bông hoa bưởi nở muộn giữa ngày đông. Chiếc áo kaki màu cỏ úa tôn lên vóc dáng mảnh khảnh nhưng rắn rỏi của cô cựu thanh niên xung phong; làn da rám nắng rạng rỡ dưới lớp phấn nụ thoang thoảng; đôi môi hồng chúm chím và đôi mắt sáng lấp lánh như gom hết ánh sao đêm vào đó. Đặc biệt, chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng đang cài trên mái tóc tết lệch của cô, phát ra ánh sáng ấm áp, như một minh chứng bất diệt cho lời thề son sắt giữa hai người bên bến đò Cốc đêm rằm Trung thu.
Bình bước lại gần, hai bàn tay thô ráp khẽ siết chặt bên hông vì xúc động. Giọng anh run run:
“An… em đẹp lắm.”An ngước nhìn anh, bắt gặp ánh mắt nồng nàn, chân thành và chan chứa chở che của người chiến sĩ. Cô khẽ mỉm cười, đôi gò má đỏ bừng:
“Mình cũng… đĩnh đạc lắm. Chúng mình ra chào thầy u thôi anh.”
Hai người sóng bước bước ra gian ngoài. Khi đôi vợ chồng trẻ đứng trước bàn thờ gia tiên nghi ngút khói trầm, cả gian nhà ba gian bỗng chìm vào một sự tĩnh lặng trang nghiêm và lắng đọng. Phía trên bàn thờ, ngoài bài vị tổ tiên còn có tấm ảnh bán thân ố vàng của người anh cả Hoài Nam trong bộ quân phục chiến sĩ Giải phóng quân, nụ cười hiền hậu của người liệt sĩ trẻ tuổi như đang dõi theo từng bước đi của hai em.
Cụ Khiêm đứng trước bàn thờ, đôi bàn tay gầy gò thắp ba nén hương trầm thơm ngát, rồi quay lại nhìn đôi trẻ. Cụ không vội nói ngay, mà chậm rãi đưa tay mở chiếc tráp gỗ mun nhỏ đã tróc sơn để trên góc bàn thờ. Từ trong tráp, cụ cẩn thận nâng ra một vật bọc trong tấm vải dù pháo sáng màu xanh rêu đã bạc thếch.
Khi lớp vải dù được mở ra, hiện ra bên trong là một cuốn sổ tay bìa cứng quân đội, bốn góc mép đã sờn rách và nham nhở vì lửa đạn, trên bìa in hình ngôi sao vàng chìm mờ nhạt.
Cả gian nhà nín thở. Bình và An đều sững người nhận ra đó là vật gì.
“Thưa bà con, thưa các đồng chí…” Giọng cụ Khiêm run run, trầm đục nhưng vang vọng khắp gian nhà: “Hôm nay, ngày vui của hai con, theo nếp sống mới tiết kiệm, gia đình tôi chẳng có vàng bạc, lụa là hay của cải giá trị để trao cho các cháu. Nhưng người xưa dạy: ‘Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần’. Nền tảng của một mái ấm không phải ở mâm cao cỗ đầy, mà ở tấm lòng son sắt và đạo nghĩa thủy chung.”
Cụ Khiêm dừng lại, đưa tay khẽ v**t v* bề mặt sờn rách của cuốn sổ, hốc mắt cụ đỏ hoe nhưng nét mặt vô cùng kiên nghị:
“Đây là cuốn sổ nhật ký quân ngũ của thằng Nam… anh trai con Hoài An gửi về từ chiến trường Tây Nguyên trước trận đánh năm 1972. Trong này, ngoài những dòng ghi chép về các trận đánh, còn có những trang nó chép lại lời răn dạy của tổ tiên về đạo làm người, về bổn phận của kẻ làm trai đối với đất nước, về sự nhường nhịn, đùm bọc lẫn nhau giữa vợ và chồng trong cảnh hoạn nạn đói cơm rách áo.”
Cụ Khiêm bước tới, đặt cuốn sổ nhật ký thiêng liêng vào hai lòng bàn tay đang run rẩy của Bình và An. Đôi bàn tay già nua của cụ áp chặt lên mu bàn tay hai con:
“Hôm nay, thầy trao lại kỷ vật này cho hai con. Thầy dặn các con: Đất nước vừa qua cơn binh lửa, bước vào thời bình lại gặp lúc thiếu đói, gian truân trăm bề. Bát cơm xới đôi, củ sắn bẻ nửa. Con đường phía trước còn gập ghềnh, khó nhọc lắm. Nhưng hai con cùng là người lính, cùng từ gian khổ mà đi lên, phải nhớ lấy lời anh Nam: ‘Sống cho trọn nghĩa, yêu cho trọn tình’. Hãy thương yêu nhau, cùng nhau vượt qua cái đói, cái rét, giữ trọn tấm lòng trong sạch và son sắt với nhau, với nhân dân, với quê hương bản quán!”
Những giọt nước mắt ấm nóng lăn dài trên má Hoài An. Cô siết chặt cuốn nhật ký của người anh liệt sĩ trong tay, cảm nhận được hơi ấm và dòng máu kiên cường của gia đình đang rần rật chảy trong huyết quản. Bên cạnh cô, Trần Bình đứng thẳng người như một thân cây tùng trước gió bão, đôi mắt anh ngấn lệ nhưng sáng quắc một ý chí sắt đá. Anh dõng dạc đáp lời:
“Thưa thầy, thưa u! Con xin nhận lời thầy dạy, khắc cốt ghi tâm đến trọn đời. Con xin hứa trước anh linh tổ tiên và trước anh Hoài Nam, con sẽ dùng cả sinh mạng này để che chở cho Hoài An, cùng An đồng cam cộng khổ, xây dựng gia đình êm ấm và hoàn thành trọn vẹn lời thề đưa anh Nam trở về với quê hương!”
Tiếng vỗ tay rộn rã của bà con xóm giềng vang lên, xua tan đi cái lạnh buốt giá của buổi sớm mùa đông. Những nụ cười rạng rỡ, những ánh mắt tràn đầy sự ngưỡng mộ và chúc phúc hướng về đôi vợ chồng trẻ.
Sau nghi lễ ngắn gọn nhưng trang nghiêm và xúc động, lễ rước dâu chính thức bắt đầu.
Trần Bình dắt chiếc xe Phượng Hoàng ra giữa sân, quay sang mỉm cười dịu dàng nhìn An:
“Lên xe thôi mình, anh đưa mình về nhà.”
Cách xưng hô “mình” thân mật, kín đáo mà thiêng liêng ấy khiến tim An đập rộn ràng. Cô ngượng ngùng bước lại gần chiếc xe. Bình cẩn thận giữ thăng bằng chiếc xe đạp nặng trịch, một tay khẽ đỡ lấy khuỷu tay An giúp cô ngồi nghiêng lên chiếc đệm rơm êm ái ở yên sau. Tấm đệm bện rơm nếp tỏa ra mùi thơm ngai ngái, mộc mạc của đồng nội, lớp vải hoa bọc ngoài mềm mại nâng niu tà quần lụa của cô dâu.
“Kính coong… kính coong!”
Tiếng chuông xe đạp lại reo vang rộn rã. Bình nhấn bàn đạp, chiếc xe Phượng Hoàng màu xanh bộ đội chầm chậm lăn bánh qua cổng ngõ rào dâm bụt, tiến lên con đường đê trải dài men theo dòng sông Đáy.
Đoàn người rồng rắn đi theo sau. Các cô gái Đội 3 vừa đi vừa hát vang những bài ca thanh niên xung phong rộn rã. Lũ trẻ con chạy trước đầu xe, tung lên không trung những nắm hoa giấy đỏ thắm. Mảnh hoa giấy bay lả tả trong gió bấc, đậu lên bờ vai áo Tô Châu vững chãi của Bình, vương trên mái tóc tết lệch cài kẹp đạn đồng của An.
Chiếc xe đạp lăn bánh trên triền đê mờ sương. Gió mùa đông bắc thổi phần phật qua những bãi ngô xanh mướt ven sông, mang theo cái lạnh thấu xương của đợt rét đầu đông. Nhưng ngồi phía sau lưng Bình, nép mình sát vào tấm lưng rộng lớn, vững chãi như một bức tường thành của người lính, Hoài An chỉ cảm thấy một luồng hơi ấm nồng nàn và bình yên kỳ lạ. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô khẽ vươn ra, ngập ngừng một thoáng rồi bám nhẹ vào chiếc thắt lưng da to bản của anh.
Bình khẽ giật mình một nhịp, rồi nụ cười trên môi anh càng thêm rạng rỡ. Anh khẽ nghiêng đầu nói với ra sau, giọng ấm áp át cả tiếng gió rít:
“Đường đê hơi xóc đấy, mình ôm chặt lấy anh kẻo ngã nhé!”
An không trả lời bằng lời, chỉ lặng lẽ siết chặt tay hơn một chút, tựa nhẹ trán vào bờ vai anh. Phía dưới chân đê, dòng sông Đáy đỏ nặng phù sa vẫn lững lờ trôi, bãi Soi mười lăm mẫu đất ngô và đậu tương mới gieo xanh mơn mởn đang vươn mình trong sương sớm. An nhìn về phía bờ bãi phù sa màu mỡ ấy, trong lòng trào dâng một niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Họ sẽ cùng nhau lao động, cùng nhau cải tạo đất phèn, cùng nhau nuôi giun, ủ phân hữu cơ, đưa những giống ngô năng suất cao về nuôi sống cả tập thể và dựng xây mái ấm nhỏ bé này.
Chẳng mấy chốc, chiếc xe đạp đã đưa đoàn rước dâu rẽ vào con đường đất đỏ dẫn vào xóm Đoài.
Phía trước ngõ nhà bà cụ Mẫn, chiếc rạp cưới ba gian lợp mái rạ mộc mạc đã hiện ra rực rỡ dưới bóng râm của hàng cau thẳng tắp. Trên chiếc cổng chào bằng tre nứa kết hoa cúc dại vàng rực, bà cụ Mẫn trong chiếc áo nâu lành lặn, đầu vấn khăn nhung đen đang đứng tựa cửa ngóng đợi, khuôn mặt già nua bừng lên nụ cười rạng rỡ của người mẹ đón con dâu thảo.
Tiếng vỗ tay, tiếng reo hò của bà con xóm Đoài đã bắt đầu vang lên rộn rã đón chào đôi vợ chồng trẻ. Bình giảm tốc độ, chuẩn bị bóp phanh để dắt xe vào ngõ.
Thế nhưng, đúng khoảnh khắc bánh trước của chiếc xe Phượng Hoàng vừa chạm vào bóng râm của hàng cau đầu ngõ nhà trai, bầu không khí hoan hỉ bỗng nhiên bị xé toạc!
“Rè… xoẹt… roẹt roẹt!”
Tiếng còi hú chói tai từ chiếc loa truyền thanh công cộng mắc trên ngọn cây đa cổ thụ đầu làng An Hòa đột ngột vang lên dồn dập. Đó không phải là điệu nhạc hiệu chương trình phát thanh nông nghiệp thường ngày, mà là tín hiệu báo động khẩn cấp phát đi từ đài truyền thanh huyện Chương Mỹ.
Cả đoàn rước dâu khựng lại. Tiếng cười nói, tiếng hát hò của đám thanh niên Đội 3 im bặt. Mọi người đồng loạt ngước mắt nhìn lên chiếc loa sắt hình nón treo chênh vênh giữa tán đa đang rung lên bần bật dưới gió bấc.
Tiếng rè rè dứt hẳn, thay vào đó là giọng nói dồn dập, nghiêm trọng và khẩn thiết của phát thanh viên:
“A lô! A lô! Xin bà con chú ý! Công điện khẩn từ Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai huyện Chương Mỹ và Ty Nông nghiệp tỉnh Hà Sơn Bình! Thông báo khẩn tới toàn thể xã viên Hợp tác xã Nông nghiệp An Hòa!”
Tiếng phát thanh viên ngừng lại lấy hơi, rồi từng câu từng chữ vang lên đanh thép như búa bổ:
“Một đợt không khí lạnh cực mạnh, dị thường trái mùa đang di chuyển với tốc độ rất nhanh từ phía Bắc tràn xuống vùng đồng bằng Bắc Bộ! Dự báo từ chiều tối và đêm nay, toàn huyện sẽ có mưa phùn dầm dề kèm theo gió giật cấp 6, cấp 7! Nhiệt độ sẽ tụt dốc không phanh, giảm sâu đột ngột xuống dưới mười độ C kèm theo sương muối độc hại kéo dài trong nhiều ngày tới! Yêu cầu Ban Quản trị hợp tác xã và các đội sản xuất khẩn trương triển khai mọi biện pháp phòng chống rét đậm, bảo vệ mạ xuân và hoa màu vụ đông!”
Cả con ngõ xóm Đoài bàng hoàng chết lặng.
Gió mùa đông bắc bỗng đâu thổi thốc tới, cuốn tung những mảnh hoa giấy đỏ thắm rơi rụng dưới mặt đất bay xào xạc vào không trung. Mấy bác nông dân lớn tuổi trong đoàn rước dâu mặt mày tái mét, đánh rơi cả chén nước chè trên tay:
“Trời đất ơi! Mưa phùn gió bấc dưới mười độ kèm sương muối ư? Thế thì mười lăm mẫu ngô lai với đậu tương ngoài bãi Soi vừa nứt nanh nảy mầm… chết cóng hết mất thôi!”
Bình bóp chặt tay phanh chiếc xe Phượng Hoàng, toàn thân anh cứng đờ lại. Anh quay phắt người lại nhìn An.
Trên gác-ba-ga xe đạp, Hoài An vẫn ngồi thẳng người, một tay bám chặt vào chiếc thắt lưng quân đội của chồng, tay kia ôm khư khư cuốn nhật ký quân ngũ của anh trai. Gió lạnh quất từng đợt rát bỏng vào gò má cô dâu mới, làm bím tóc tết lệch bay bay trong gió bấc.
Hai người nhìn nhau trân trân giữa cổng cưới. Trong mắt Bình là sự lo lắng tột cùng cho công sức của hàng trăm xã viên Đội 3; còn trong đôi mắt sâu thẳm của Hoài An, một ngọn lửa quyết liệt và sắc lạnh bỗng nhiên bùng cháy. Mười lăm mẫu ngô bãi Soi – niềm hy vọng cứu đói cả mùa đông của bà con – đang đứng trước lằn ranh sinh tử, ngay trong chính ngày trọng đại nhất của cuộc đời cô!