Xuyên không thập niên 70

Chương 14: Chắt chiu nếp sống mới

Sương mù cuối thu bảng lảng giăng kín mặt đầm, phủ lên những rặng tre quanh làng An Hòa một lớp bụi nước bàng bạc, lành lạnh. Trên chiếc bàn gỗ mộc kê gian giữa nhà cụ giáo Khiêm, tờ giấy chứng nhận kết hôn màu hồng điều phẳng phiu nằm cạnh con dấu đồng mực son đã khô thấu vào thớ xơ giấy giáp. Sắc đỏ ấy như một đốm than hồng ấm áp, thắp sáng cả gian nhà ba gian vốn tĩnh lặng bấy lâu.

Ngồi bên ấm chè xanh vừa ủ sôi sùng sục bốc khói nghi ngút, cụ Khiêm nâng chén mắt trâu bằng sành da lươn, khẽ nhấp một ngụm rồi chậm rãi đặt xuống mặt bàn kêu một tiếng cộp rất khẽ. Đối diện với cụ, bà cụ Mẫn vấn khăn nhung đen phẳng phiu, hai bàn tay gầy gò nhăn nheo đan chặt vào nhau trên đầu gối. Dù trên gương mặt hằn sâu những nếp nhăn cơ cực lấp lánh niềm vui rạng rỡ, nhưng trong đáy mắt người mẹ già vẫn không giấu nổi nét băn khoăn, e dè trước nhà gái.

“Thưa ông bà giáo…” Bà cụ Mẫn cất giọng run run, hàm răng đen nhánh hạt huyền khẽ mấp máy. “Thằng Bình nhà tôi nó cộc cằn, lại mang thương tật nơi chiến trường trở về. Nay nhờ phúc đức tổ tiên, được ông bà thương tình tác thành cho cháu An về làm dâu họ Trần, tôi đội ơn ông bà nghìn trùng. Khổ nỗi, ngặt một nỗi… cơ chế hợp tác ngặt nghèo, cửa hàng mua bán huyện lại cạn sạch chỉ tiêu vải vóc chăn đệm. Tôi chỉ sợ làm tủi thân cháu An, sợ xóm giềng người ta cười chê nhà gái gả con mà chẳng được tươm tất.”

Bà Khiêm ngồi bên cạnh, nghe thông gia tương lai giãi bày thì vội xua tay, nụ cười đôn hậu xua tan bầu không khí ngượng ngùng:

“Bà nó cứ nghĩ xa xôi làm gì cho nặng lòng. Thời buổi thóc cao gạo kém, cả nước vừa bước ra khỏi bom đạn, người người còn đang san sẻ nhau từng củ sắn luộc, cọng rau muống bè, ai lại đi so đo mấy cái hình thức ấy. Cháu An nó là cựu thanh niên xung phong, thằng Bình lại là thương binh gương mẫu, hai đứa nên duyên là do cái tâm, cái tình.”

Cụ Khiêm vuốt chòm râu bạc thưa, gật đầu đầy vẻ tán đồng. Đôi mắt từng trải của người thầy giáo già nhìn qua cửa sổ, nơi mảnh sân gạch vương vài chiếc lá bưởi vàng rụng sớm, giọng trầm vang ấm áp:

“Bà Mẫn nói đúng ở cái đạo nghĩa làm cha mẹ, nhưng nhà tôi chưa từng xem trọng mâm cao cỗ đầy. Đảng và Ủy ban xã vừa rồi cũng đã quán triệt sâu sắc về phong trào 'Nếp sống mới' — cưới xin giản dị, lành mạnh, tuyệt đối không được mổ lợn chui, không đãi đằng linh đình trái với quy định phân phối của Nhà nước. Mình là gia đình cán bộ, đảng viên, lại càng phải làm gương cho bà con xã viên noi theo. Ta cứ làm một buổi tiệc ngọt đầm ấm, có cơi trầu, bát nước chè tươi, đĩa kẹo mậu dịch mời bà con lối xóm và chi bộ đến chứng kiến, gửi gắm vài lời chúc phúc là trọn vẹn nghĩa tình rồi.”

Ngồi ở chiếc ghế đẩu thấp góc phản, Hoài An đưa mắt nhìn Trần Bình đang ngồi ngay ngắn cạnh mẹ. Anh mặc chiếc áo bộ đội đã sờn cổ nhưng được giặt sạch thơm mùi nắng, hai bàn tay to bè đầy vết chai sạn đang đặt ngay ngắn trên đùi. Nghe cụ Khiêm nói dứt lời, Bình khẽ ngẩng lên, ánh mắt cương trực ánh lên vẻ cảm kích khôn xiết:

“Dạ, thưa thầy, thưa u. Con xin ghi lòng tạc dạ lời dạy của thầy u. Con hứa sẽ không để An phải chịu thiệt thòi trong cuộc sống sau này.”

Cuộc họp mặt gia đình giản dị kết thúc bằng sự đồng thuận tuyệt đối của hai bên thân sinh. Đám cưới nếp sống mới sẽ diễn ra vào ngày mốt, ấm cúng, tiết kiệm nhưng trang nghiêm, lấy sự hòa hợp và trách nhiệm làm gốc rễ.

*

Đầu giờ chiều, cái nắng hanh hao của ngày cuối thu trải vàng trên con đường đất dẫn ra trung tâm xã. Bình đạp chiếc xe đạp cà tàng lọc cọc chở An lên tận Cửa hàng Mua bán Bách hóa huyện Chương Mỹ. Dù tờ giấy giới thiệu ghi rõ ưu tiên thương binh hạng ba và gia đình liệt sĩ, nhưng cảnh tượng trước mắt họ vẫn là một hàng dài dằng dặc những chiếc nón lá, áo nâu rách vá đang chen lấn trước khung cửa gỗ chắn song sắt của gian hàng bách hóa tổng hợp.

Tiếng quát tháo của cô mậu dịch viên đeo băng đỏ ở cánh tay át cả tiếng ồn ào ngoài sân:

“Ai có tem E xếp hàng bên phải! Vải hoa hết sạch rồi, đừng có xô đẩy nữa! Bông dệt tháng này không có chuyến xe nào từ Hà Nội chuyển về đâu!”

Bình lách người qua đám đông, cẩn thận che chắn cho An phía sau lưng mình. Với cuốn sổ thương tật có dấu đỏ của Quân khu Tả Ngạn cùng tiêu chuẩn khen thưởng đợt chống lũ vừa qua, Bình kiên nhẫn đứng chờ hơn hai tiếng đồng hồ. Cuối cùng, đổi lại những tấm phiếu chỉ tiêu nhàu nát là nửa cân kẹo dẻo mềm Hải Hà gói trong lớp giấy bóng kính hoa văn lòe loẹt và hai bao thuốc lá Tam Đảo vỏ xanh.

Cầm gói kẹo mềm trên tay, Bình nhìn An, đôi lông mày rậm hơi nhíu lại với vẻ áy náy:

“Cả cửa hàng huyện chỉ vét được ngần này kẹo mậu dịch thôi An ạ. Thuốc lá thì chỉ có Tam Đảo, thuốc lá Du Lịch với Điện Biên họ giữ lại cho các cuộc hội nghị của Huyện ủy hết rồi. Đội 3 có ngót nghét bốn chục hộ, chưa kể bà con chòm xóm đến chia vui, nửa cân kẹo này chia ra mỗi đĩa chỉ được ba bốn cái, e rằng thiếu hụt.”

An mỉm cười, đôi mắt cong cong như vầng trăng non. Cô đưa tay đỡ lấy gói kẹo mềm, bàn tay khẽ chạm vào những ngón tay thô ráp của anh:

“Mình đừng lo chuyện ấy. Nửa cân kẹo Hải Hà này quý lắm rồi, để dành bày lên bàn danh dự cho các bác đại diện Ủy ban và Chi bộ. Còn phần bà con xã viên và thanh niên trong đội, em đã có cách lo liệu, vừa ngọt giọng, vừa rôm rả cả buổi tối mà lại chẳng tốn thêm một hào tem phiếu nào.”

Bình ngạc nhiên nhìn An, nhưng nhìn thấy nét rạng rỡ và tự tin trong ánh mắt người vợ sắp cưới, mối âu lo trong lòng anh dường như tan biến tự lúc nào.

Trở về căn nhà ba gian của cụ Khiêm, An lập tức bắt tay vào giải quyết bài toán lớn nhất: chiếc chăn cưới cho mùa đông lạnh giá sắp tràn về. Không có vải phin trắng mậu dịch, An mở chiếc hòm gỗ sơn xanh của mình, lấy ra xấp vải thô dệt Nam Định màu cỏ úa — phần thưởng danh dự mà Ty Nông nghiệp tỉnh trao tặng cho cô sau chiến tích sấy kho thóc giống bãi Soi. Xấp vải dày dặn, sợi dệt khít khao và phẳng phiu, thơm nồng mùi hồ tinh bột mới.

Bà Khiêm đem chiếc kéo sắt cùn thường ngày cắt trầu ra mài sắc vào thành chiếc cối đá sau chái bếp. Hai mẹ con trải tấm chiếu cói ra giữa gian nhà đất, đặt xấp vải lên.

“Vải Nam Định này tuy là vải thô dệt máy sợi to, nhưng sợi bông đanh chắc lắm con ạ.” Bà Khiêm vừa dùng ngón tay cái đo từng gang tay trên mặt vải, vừa bùi ngùi kể. “Ngày xưa u lấy thầy mày, giặc giã liên miên, tài sản chỉ có manh chiếu hoa rách mép với chiếc mùng vá bằng bao tải bột mì. Đời người cốt ở chỗ thương nhau, chung lưng đấu cật chia ngọt sẻ bùi. Tấm vải này tỉnh thưởng cho con vì có công với dân với nước, đem may vỏ chăn cưới là quý giá và vẻ vang nhất trần đời rồi.”

An khẽ “dạ”, lòng tràn ngập một cảm giác thiêng liêng khó tả. Cô cầm đầu thước dây bằng vải dù, phối hợp cùng mẹ đo đạc cẩn thận. Chiếc chăn đơn được tính toán kích thước một mét sáu nhân hai mét. Để giải quyết phần ruột chăn khi không có bông dệt công nghiệp, An đã nhờ chị Đượm thu gom từ mấy hôm trước hai bao tải quả bông gạo khô từ những cây gạo cổ thụ ngoài bến đò Cốc.

Dưới sự hướng dẫn của An, bông gạo được bóc tách vỏ cẩn thận, nhặt sạch từng hạt đen nhánh, sau đó đem phơi trên nia tre dưới nắng hanh cho tơi xốp. An dùng một chiếc cung bật bông tự chế bằng tre cật dẻo và dây dù chiến lợi phẩm của Bình, khẽ bật từng nhịp “tưng… tưng…” đều đặn. Từng búi bông gạo hoang dã qua bàn tay khéo léo của cô bỗng chốc bung nở trắng muốt, nhẹ xốp như mây trời.

Ngồi bên bậu cửa sổ ngập tràn ánh nắng chiều, An cặm cụi luồn từng sợi chỉ đôi màu nâu qua trôn kim khâu. Từng mũi kim đều tăm tắp, thẳng hàng như kẻ chỉ nối liền mép vải Nam Định bao bọc lấy lớp bông gạo trắng ngần bên trong. Tiếng sột soạt của vải thô, mùi thơm dịu của sợi bông tự nhiên quyện với mùi nắng hanh tạo nên một cảm giác ấm áp lạ kỳ. Đây sẽ là chiếc chăn che chở cho tổ ấm của cô và Bình qua những đêm đông cắt da cắt thịt của đồng bằng Bắc Bộ.

*

Sáng hôm sau, gian bếp nhỏ lợp mái rạ của nhà An bỗng trở nên nhộn nhịp khác thường. Mùi khói bếp ngai ngái quyện với một mùi hương ngọt lịm, ấm nồng lan tỏa khắp ngõ xóm, khiến mấy đứa trẻ con nhà hàng xóm đi chăn trâu ngang qua cứ phải hít hà mãi không thôi.

An quyết định không dùng đến đường kính trắng — thứ hàng hóa xa xỉ chỉ được phân phối vài lạng mỗi dịp lễ tết theo tiêu chuẩn cán bộ. Thay vào đó, cô tận dụng những nông sản sẵn có của quê hương. Trong góc chái bếp còn lưu trữ ba quả bí ngô già thu hoạch từ mảnh đất năm phần trăm vụ trước. Những quả bí nặng trịch, vỏ ngoài đã phủ một lớp phấn trắng mốc, gõ vào kêu “bồm bộp”, ruột vàng ươm như lòng đỏ trứng gà.

Bằng con dao bài sắc ngọt, An gọt sạch lớp vỏ dày, nạo bỏ ruột xơ rồi thái cùi bí thành từng miếng con chì dài chừng hai đốt ngón tay, dày dặn và vuông vức. Để mứt bí ngô không bị nát nhừ khi đun nấu — một nguyên lý hóa thực phẩm cơ bản về sự tạo phức canxi pectat làm bền vững thành tế bào thực vật — An hòa một bát vôi tôi lấy từ vại trầu của mẹ vào chậu nước mưa trong vắt. Sau khi cặn vôi lắng xuống, cô gạn lấy lớp nước vôi trong ngâm ngập toàn bộ số bí thái lát trong vòng bốn tiếng đồng hồ.

Khi những miếng bí vớt ra đã đanh cứng bề mặt bên ngoài nhưng vẫn giữ được độ tươi xốp bên trong, An rửa lại nhiều lần qua nước giếng khơi cho sạch mùi nồng của vôi. Thay vì đường cát, cô dùng một liễn mật mía Nghệ An sánh đặc màu cánh gián — thứ mật mía thủ công nguyên chất mà cụ Khiêm được một người học trò cũ tặng từ năm ngoái.

Chiếc chảo gang dày ba gang tay được đặt lên kiềng sắt đỏ rực than củi. Mật mía hòa loãng với chút nước giếng được đun sôi sùng sục, bọt dâng lên cuồn cuộn. An trút toàn bộ bí ngô vào chảo, hạ nhỏ lửa chỉ để than hồng liu riu. Bàn tay thoăn thoắt đảo đều chiếc đũa cả bằng gỗ bạch đàn. Khi mật bắt đầu cạn dần, cô đập dập một nhánh gừng già cay nồng, rắc thêm một nhúm vỏ quýt phơi khô thái chỉ nhuyễn vào chảo.

Đường tự nhiên trong mật mía quện chặt vào từng thớ bí, chuyển sang màu hổ phách trong veo lấp lánh. Mùi thơm ngọt dịu của mật mía quyện với vị cay nồng ấm sực của gừng già và hương thơm the the của vỏ quýt bốc lên ngào ngạt. Khi múc ra những chiếc mẹt lót lá chuối héo để hong gió, từng miếng mứt bí ngô khô ráo, dẻo quánh, bên ngoài giòn sần sật, bên trong mềm ngọt đậm đà mà không hề khé cổ.

Chưa dừng lại ở đó, An tiếp tục cho người đem đến nửa thúng ngô hạt phơi giòn — phần ngô giống dự phòng được cứu ra từ vụ sấy kho bãi Soi. Chiếc chảo gang lại được tôi nóng ran với một lớp cát sạch mịn đãi từ bãi sông Đáy. Khi cát nóng già bốc khói, An trút ngô vào đảo nhanh tay.

“Lách tách! Bụp… bụp!”

Những hạt ngô lai phơi chuẩn độ ẩm gặp nhiệt cao đột ngột lập tức nứt toác, bung nở thành những bông hoa tuyết trắng muốt, giòn tan. Cát được sàng lọc qua chiếc rổ mắt nhỏ, trả lại những mẻ bỏng ngô thơm lừng. Trên một chiếc nồi đồng nhỏ bên cạnh, An thắng mật mía với một chút nước cốt chanh cho đến khi kéo sợi chỉ, rồi trút toàn bộ bỏng ngô cùng một bát vừng rang vàng vào đảo đều chớp nhoáng.

Từng vắt bỏng ngô ngào mật vàng óng, dính kết với nhau bằng những sợi mật tơ óng ánh, thơm phưng phức mùi vừng rang béo ngậy. Món quà quê mộc mạc ấy, dưới sự tính toán tỉ mỉ của một kỹ sư công nghệ chế biến, bỗng chốc trở thành thứ phong vị độc đáo, thanh tao mà ngay cả những cửa hàng bánh kẹo mậu dịch trên thị xã cũng khó lòng có được.“Úi chà chà! Cái mùi gì mà thơm nức mũi thế này hả cô dâu mới?”

Một giọng nói sang sảng, giòn tan như pháo nổ vang lên ngoài ngõ. Chị Đượm trong bộ quần áo lao động màu chàm, hai ống quần xắn cao tới bắp chân, đầu đội chiếc nón mê rách vành thoăn thoắt bước vào sân. Vừa bước chân vào chái bếp, nhìn thấy hai mẹt mứt bí màu hổ phách cùng thúng bỏng ngô ngào mật lóng lánh, đôi mắt chị Đượm tròn xoe, miệng nuốt nước bọt đánh ực một cái:

“Trời đất ơi! An ơi là An, cô có phép thuật của bà tiên hay sao mà biến củ bí ngô với nắm ngô hạt thành ra thứ bánh mứt sang trọng như chốn cung đình thế này? Tôi sống ở cái đất An Hòa này ngót hai mươi năm, chưa từng thấy ai làm đám cưới mà khéo tay thu vén được như cô!”

An bật cười, bốc một miếng mứt bí còn hơi ấm đưa tận tay chị bạn thân:

“Chị nếm thử xem vừa miệng không. Đám cưới nếp sống mới, tiêu chuẩn kẹo mậu dịch thì ít, em làm thêm món này để các cụ nhấp chén chè cay, còn thanh niên các anh các chị có cái nhấm nháp cho thơm miệng.”

Chị Đượm bỏ tọt miếng mứt vào miệng cắn nhẹ một cái. Vị giòn ngọt thanh tao lan tỏa trên đầu lưỡi, kéo theo hơi ấm sực của gừng làm bừng sáng cả gương mặt tròn trĩnh phúc hậu của chị. Chị vỗ đùi đánh đét một cái, cười ngặt nghẽo:

“Ngon tuyệt đỉnh! Ngon hơn đứt mấy cái kẹo vừng khô khốc của cửa hàng bách hóa huyện bán phân phối! Cứ thế này thì ngày mai cả làng kéo đến ăn cưới cho mà xem. Thôi, cô cứ lo phần bếp núc đi, ngoài sân đội thanh niên chúng tôi đã kéo đến đủ mặt rồi đấy!”

*

Ngoài khoảng sân rộng trước căn nhà ba gian của bà cụ Mẫn bên xóm Đoài, không khí rộn rã tưng bừng tựa như ngày hội đại đoàn kết toàn dân. Gần hai chục nam nữ thanh niên của Đội sản xuất số 3 đã tề tựu đông đủ, ai nấy đều mang theo dụng cụ từ nhà: người ôm bó tre đực già óng ả, người vác cuộn dây mây rừng, người cầm liềm, cầm búa.

Không có vải bạt hoa hay rạp tôn xanh đỏ như thời bình yên xa hoa, nhưng tinh thần tương thân tương ái của những con người thời bao cấp lại sáng rực hơn bất cứ thứ vật chất xa xỉ nào. Bình mặc chiếc áo lót lính bạc màu, mồ hôi nhễ nhại đang cùng cánh đàn ông đóng cọc tre, giằng những đòn tay vững chãi để dựng khung rạp cưới ngay trước khoảng sân đất nện.

“Này các cô các chị! Mau ra triền đê bến đò sông Đáy gom hoa cúc dại mau lên!” Tiếng chị Đượm chỉ huy vang lừng khắp xóm. “Lấy cả những tàu cau khô rụng quanh vườn nhà cụ Trùm nữa nhé, bẹ cau to bản đem về đây tôi dạy cách kết hoa!”

Một đoàn nữ thanh niên ríu rít xách làn mây túa ra triền đê sông Đáy. Gió đông bắc thổi rười rượi trên mặt sóng nước mênh mông, nhưng không ngăn được những tiếng cười trong trẻo rộn rã. Dọc theo triền đê phù sa màu mỡ, những vạt hoa cúc dại mọc hoang bung nở rực rỡ một màu vàng rực và trắng tinh khôi, kiên cường khoe sắc trước ngọn gió đầu đông. Từng ôm hoa cúc tươi rói còn vương hạt sương sớm được ôm trọn vào lòng, mang về chất đầy góc sân.

Chị Đượm cùng mấy cô gái khéo tay dùng dao bài gọt tỉa những bẹ cau khô màu vàng ngà thành những cánh hoa hình cánh quạt, uốn cong mềm mại rồi dùng dây gai bện lại thành những bông hoa lớn viền quanh cổng rạp. Khung rạp cưới bằng tranh tre mộc mạc bỗng chốc bừng sáng rực rỡ bởi hàng trăm đóa hoa cúc dại được c*m v** các ống nứa cưa vát đầu cọc, xếp thành từng hàng rực rỡ sắc màu đồng nội.

Ở chính giữa phông rạp đan bằng nứa tép, đồng chí Bí thư Đoàn xã dùng kéo cắt tỉa từ tờ giấy điều cũ một chữ “HỶ” vuông vức, phía trên gắn khẩu hiệu trang trọng nắn nót bằng phấn trắng: “VUI DUYÊN MỚI KHÔNG QUÊN NHIỆM VỤ SẢN XUẤT”. Một vẻ đẹp mộc mạc, thanh khiết và tràn đầy nhựa sống của một thời kỳ gian lao mà thắm đượm tình người, biến góc sân nghèo nàn trở thành một không gian ấm cúng đến nao lòng.

Đến chập tối, công việc dựng rạp hoàn tất. Bà cụ Mẫn bưng ra một nồi nước vối đặc sánh thơm lừng, còn Bình đem hai bao thuốc lá Tam Đảo ra mời anh em thanh niên. Tiếng cười nói, tiếng trêu đùa cô dâu chú rể râm ran dưới ánh trăng thượng tuần lung linh vằng vặc trên ngọn cau.

*

Đêm trước ngày cưới, sương muối bắt đầu buông dày đặc. Cái rét của đợt gió mùa đông bắc đầu tiên ngấm vào da thịt tê buốt. Xóm làng An Hòa chìm dần vào giấc ngủ tĩnh mịch, chỉ còn tiếng côn trùng rỉ rả trong bờ bụi và tiếng con vạc ăn đêm kêu sương trên mặt đầm xa xăm.

Gian nhà của cụ Khiêm đã tắt đèn dầu, chỉ còn gian buồng nhỏ của An le lói một đốm sáng mờ ảo từ ngọn đèn hột vịt. An ngồi bên chiếc bàn nhỏ, kiểm tra lại lần cuối những hũ sành đựng mứt bí và bỏng ngô đã được bịt kín bằng nhiều lớp lá chuối khô để chống ẩm. Trên móc áo nứa, chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa được giặt phẳng phiu, bên cạnh là chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng màu đồng thau ánh lên tia sáng ấm áp dưới bóng đèn dầu.

Bỗng nhiên, từ ngoài bờ rào dâm bụt vang lên tiếng gõ cửa khẽ khàng, ngập ngừng nhưng rất quen thuộc:

“Cốc… cốc… cốc.”

An khẽ giật mình, vội khoác thêm chiếc áo len mỏng bước ra hiên. Dưới bóng cây bưởi sum sê rợp bóng trăng, vóc dáng cao lớn vững chãi của Trần Bình hiện ra trong màn sương đêm. Anh đứng đó, hai vai áo đã ướt đẫm hơi sương lạnh, gương mặt cương nghị thoáng nét mệt mỏi nhưng ánh mắt nhìn cô lại chan chứa sự dịu dàng vô bờ bến.

“Anh Bình? Sao đêm hôm khuya khoắt thế này mình còn chưa nghỉ ngơi? Mai phải dậy sớm đón dâu mà…” An khẽ thì thầm, bước lại gần anh, đưa tay khẽ phủi những giọt sương đêm đọng trên bờ vai áo anh.

Bình nhìn cô, bàn tay anh vươn ra, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của An, truyền qua đó hơi ấm nồng nàn từ lồng ngực mình. Anh khẽ lắc đầu, giọng trầm khàn và xúc động:

“Anh không ngủ được. Mọi việc ngoài rạp u với anh em Đội 3 đã thu xếp vẹn toàn rồi. Nhưng có một việc này… nếu đêm nay không trao tận tay em, lòng anh day dứt không yên.”

An ngước nhìn anh, nhận ra trong đáy mắt sâu thẳm của người lính dạn dày trận mạc đang dâng lên một nỗi niềm trĩu nặng, thiêng liêng và nghẹn ngào khó tả.

Bình đưa tay vào sâu trong túi áo ngực bên trái — nơi gần trái tim mình nhất. Những ngón tay thô ráp của anh khẽ run rẩy khi rút ra một phong bì thư quân đội đã ố vàng theo năm tháng, bốn góc mép giấy sờn rách và nhăn nhúm vì mồ hôi và mưa rừng chiến trường. Phía trên góc trái phong bì in dòng chữ chìm “Thư Chiến sĩ”, bên ngoài đề tên người gửi là một chiến sĩ thuộc Sư đoàn 10, gửi từ Tây Nguyên xa xôi với dấu nhật ấn mờ nhạt từ tháng trước.

Bình trân trọng đặt phong bì thư vào lòng bàn tay An, ngón tay anh siết nhẹ quanh bàn tay cô, giọng nghẹn lại:

“Thư của thằng Toàn… đồng đội cũ cùng đại đội pháo binh với anh thời ở Quảng Trị. Vừa rồi giải ngũ, nó được điều động vào công tác tại Đội quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Tỉnh đội Kon Tum. Ròng rã suốt nửa năm trời qua, anh nhờ nó lần mò từng trang sổ nhật ký hành quân và hồ sơ chiến dịch…”

Bình ngừng lại một nhịp, hít một hơi thật sâu như để kìm nén cơn xúc động đang dâng lên chẹn ngang cổ họng:

“Toàn nó báo tin… họ đã khoanh vùng được tọa độ chính xác của quả đồi nơi đơn vị anh Hoài Nam chiến đấu trận cuối cùng năm 1972, tại thung lũng Đắk Tô - Tân Cảnh. Khu rừng ấy hiện đã ngừng giao tranh, chuẩn bị đón các đoàn tìm kiếm của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh.”

An sững sờ. Đôi mắt cô mở to, nhìn chằm chằm vào phong bì thư trên tay mình. Cả thân hình cô khẽ run rẩy. Trong ký ức nguyên chủ thân xác này lẫn trong trái tim của An, hình ảnh người anh cả Hoài Nam — người thanh niên hiền lành, giỏi giang mang nụ cười ấm áp đã mãi mãi nằm lại nơi rừng thiêng nước độc mà gia đình chưa một lần tìm thấy nắm xương tàn — luôn là vết thương rỉ máu khôn nguôi trong lòng người cha già bệnh tật và người mẹ tảo tần.

Mấy tháng qua, Bình không hề nhắc một lời nào về việc này. Anh lặng lẽ làm việc, lặng lẽ lao động nơi bãi Soi, nhưng phía sau lưng, anh đã âm thầm dùng tất cả những mối quan hệ quân ngũ, tất cả ân tình của người lính sống sót trở về để thực hiện lời hứa danh dự của mình với gia đình cô.

“Anh Bình…” Giọng An nghẹn ngào, những giọt nước mắt ấm nóng bất giác lăn dài trên gò má rám nắng. Cô ngước nhìn người đàn ông trước mặt mình, thấy hình bóng anh cao lớn như ngọn núi, vững chãi như một bức thành trì chở che cho tất cả những gì yêu thương và thiêng liêng nhất trong cuộc đời cô.

Bình giơ bàn tay thô ráp lên, vụng về lau đi giọt nước mắt trên má An, ánh mắt kiên định và chân thành lay động tận tâm can:

“Đợi vụ đông này xong xuôi, thu hoạch xong mười lăm mẫu ngô bãi Soi và ổn định việc khoán đất cho đội, anh sẽ xin phép Huyện đội cho anh đi một chuyến vào Kon Tum. Dù có phải đào từng tấc đất rừng, lội qua bao nhiêu con suối, anh cũng nhất định sẽ đưa anh Hoài Nam về lại với thầy, với u, về lại với quê hương bản quán An Hòa này.”

Gió mùa đông bắc lại thổi qua rặng tre đầu ngõ, mang theo cái lạnh thấu xương của đêm đông giá rét. Nhưng lúc này đây, nép mình bên cạnh người chiến binh ấy, nắm chặt lá thư phong bì ố vàng sờn mép trong tay, Hoài An cảm thấy một ngọn lửa ấm áp và bất diệt đang bùng cháy rực rỡ trong lồng ngực mình, soi tỏ con đường tương lai gập ghềnh mà họ sắp cùng nhau sóng bước vượt qua.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn