Sau buổi đầu giờ chiều căng thẳng nghẹt thở, chiếc xe U-oát phủ đầy bụi đỏ của đoàn cán bộ Huyện ủy rời khỏi cổng đình An Hòa trong tiếng máy gầm giòn giã. Bản báo cáo đề án xen canh ngô và đậu tương trên mười lăm mẫu bãi Soi do chính Hoài An trình bày — với từng thông số tính toán tỉ mỉ, mô hình luống đôi chống úng rét và minh chứng sống động từ những mầm ngô lai khỏe khoắn nảy mầm sau lò sấy — đã hoàn toàn thuyết phục được đồng chí Bí thư Huyện ủy. Quyết định phê duyệt nóng ngay tại chỗ không chỉ đập tan những e dè, toan tính bàn lùi của Đội 1 và Đội 2, mà còn trao trọn quyền chủ động canh tác vụ đông cho Đội sản xuất số 3.
Thế nhưng, khi làn khói xăng mỏng manh vừa tan vào triền đê sông Đáy, một cuộc chiến khác, âm thầm nhưng gay gắt không kém, đã lập tức bủa vây lấy An và Trần Bình. Lời đe dọa cay nghiệt của bà Phó Tươi trước gốc gạo cổ thụ vẫn còn như nhát chém chém vào không khí. Không chần chừ, Bình quyết định dắt An sang ngay bộ phận Hộ tịch - Tư pháp của xã để nộp hồ sơ xin đăng ký kết hôn, quyết tâm hợp thức hóa danh phận trước khi bước vào chiến dịch gieo cấy đầu đông.
Gió heo may cuối thu thổi thốc qua rặng xoan đầu làng, cuốn theo những chiếc lá vàng khô lạo xạo trên mặt đường đất thịt. Nắng hanh vàng như mật mía trải dài trên những mái rạ bạc phếch và triền đê, nhưng cái hanh hao của đất trời miền Bắc độ tháng Chín âm lịch năm 1977 không làm vơi bớt không khí ngột ngạt đang đặc quánh lại bên trong trụ sở ba gian của Ủy ban Hành chính xã.
Nơi góc bàn gỗ lim mòn vẹt vì hàng chục năm tiếp dân, Hoài An ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế băng thô mộc. Trước mặt cô là hai tờ giấy bã mía màu vàng ngà, mép giấy hơi xơ tơ do cắt thủ công bằng thước kẻ và dao lam. Đó là bản “Tờ khai lý lịch ba đời xin kết hôn” do chính tay Bình và cô cặm cụi nắn nót viết suốt hai đêm bên ngọn đèn hoa kỳ leo lét. Từng dòng chữ mực tím Cửu Long thẳng tắp, đều đặn, ghi rõ từ thành phần cốt cán bần cố nông của nhà họ Trần, đến truyền thống Nho học nghèo sạch của cụ giáo Khiêm, cùng toàn bộ quá trình tòng quân chiến đấu của Bình và những năm tháng phục vụ hỏa tuyến của An trong lực lượng thanh niên xung phong.
Trần Bình ngồi cạnh cô, vai thẳng tắp như cột nhà cháy. Chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa đã sờn cổ nhưng được anh vuốt phẳng phiu, cài khuy cẩn thận đến tận cổ áo. Bàn tay to bè, chằng chịt vết chai sạn vì báng súng và chuôi cuốc của anh đặt ngay ngắn trên đầu gối, chốc chốc lại khẽ nghiêng sang, dùng mu bàn tay chạm nhẹ vào gấu áo bà ba nâu của An như một lời trấn an thầm lặng.
Đối diện với hai người qua chiếc bàn làm việc chất đầy công văn đóng tập bằng dây chuối là ông Trương Văn Bản — cán bộ phụ trách tư pháp và hộ tịch kiêm Ủy viên Thường vụ Đảng ủy xã. Ông Bản trạc năm mươi, khóe mắt sâu hoắm, cặp kính lão một bên gọng đã gãy phải quấn dây chỉ cước trắng quanh vành tai. Ông cầm xấp giấy lý lịch lên, đưa sát lại gần cặp kính, lật từng trang chậm rãi đến mức chỉ nghe thấy tiếng sột soạt khô khốc của giấy rơm và tiếng rít thuốc lào từ chiếc điếu bát đặt dưới chân bàn.
“Đồng chí Trần Bình, thương binh hạng ba, phục viên cuối năm 1975, Đảng viên chính thức, Đội trưởng Đội sản xuất số 3... Lý lịch gia đình bần nông, u Mẫn là hội viên Hội mẹ chiến sĩ, ba đời trong sạch, không vướng bận nợ máu hay liên quan tề ngụy.” Ông Bản lẩm bẩm đọc, khẽ gật đầu vẻ hài lòng. Nhưng khi mắt ông dừng lại ở tờ khai của An, đôi lông mày hoa râm chợt nhíu chặt lại.
“Nguyễn Hoài An... Sinh năm 1955, cựu thanh niên xung phong Đoàn 559, phục viên cuối năm 1976. Thành phần gia đình: Trí thức tiểu tư sản cũ, bố là giáo viên trường làng... Chỗ này này.” Ngón tay trỏ vàng khè vì khói thuốc của ông Bản gõ nhẹ lên mặt giấy bã mía. “Thành phần gia đình trí thức, tuy cụ giáo Khiêm có tham gia dạy bình dân học vụ sau Cách mạng tháng Tám, nhưng trước năm 1954 cụ từng dạy chữ Nho và chữ Pháp cho con em hương hào trong tổng. Về mặt nguyên tắc xét duyệt kết hôn cho cán bộ, Đảng viên, khâu thẩm tra lý lịch chính trị phải tuyệt đối chặt chẽ. Chưa kể...”
Ông Bản dừng lại, ngước nhìn An qua tròng kính lão lem nhem vết ố:
“Cách đây một tiếng, bên Hội Phụ nữ xã đã gửi giấy sang. Đồng chí Phó Tươi đại diện Ban Chấp hành Phụ nữ có ý kiến bảo lưu bằng văn bản, đề nghị tạm hoãn việc chứng thực chữ ký của đồng chí An để đưa ra kiểm điểm, bình xét tác phong lối sống và tư tưởng kinh tế trong buổi sinh hoạt toàn thể chiều nay.”
Bình nghe vậy, sắc mặt đanh lại như thép nguội. Anh chống tay xuống mép bàn gỗ lim, giọng trầm vang rành rọt:
“Báo cáo đồng chí Bản! Tôi với cô An đến đây nộp đơn theo đúng quy định của Nhà nước về luật hôn nhân và gia đình. Về lý lịch, gia đình cụ giáo Khiêm cả làng An Hòa này ai cũng biết là nhà nho thanh bạch, anh trai cô An là liệt sĩ Hoài Nam hy sinh ở mặt trận Đắk Tô năm 1972, bản thân cô An có ba năm cống hiến thanh xuân nơi bom đạn tuyến lửa đường Trường Sơn, đã nhận Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Những cống hiến bằng xương máu ấy chẳng lẽ chưa đủ chứng minh lòng trung thành với chế độ hay sao? Còn chuyện tác phong lối sống, đội viên Đội 3 chúng tôi ăn chung một nồi, cày chung một thửa ruộng, cô An sống chan hòa, chí công vô tư thế nào ai cũng rõ. Đồng chí Phó Tươi lấy tư cách gì mà đòi ngăn chặn quyền kết hôn chính đáng của chúng tôi?”
Ông Bản thở dài một tiếng, đặt xấp hồ sơ xuống mặt bàn gỗ, giọng chùng xuống có phần thông cảm nhưng đầy tính nguyên tắc của một cán bộ quen nếp quản lý thời chiến:
“Đồng chí Bình, cậu nóng tính quá. Cậu là Đảng viên, từng là Trung đội trưởng trên chiến trường, cậu phải hiểu cái lý của tổ chức. Nước mình vừa thống nhất chưa lâu, tình hình muôn mặt còn bộn bề, tàn dư tư tưởng cũ chưa quét sạch, mà đất nước lại bước vào giai đoạn cách mạng mới. Chi bộ Đảng xã An Hòa quản lý cán bộ phải gương mẫu từ ngọn rau tấc đất cho đến chuyện vợ chồng. Hội Phụ nữ là một tổ chức đoàn thể nòng cốt. Họ có quyền và có trách nhiệm giám sát hội viên của mình. Nếu đồng chí Phó Tươi đã có ý kiến chính thức bằng văn bản, Ủy ban không thể nhắm mắt đóng dấu ngay được. Muốn hồ sơ này được Chi bộ và Ủy ban thông qua trong buổi họp tối nay, chiều nay đồng chí An bắt buộc phải qua được cửa ải bình xét của Hội Phụ nữ.”
An khẽ kéo nhẹ tay áo Bình, ra hiệu cho anh nén giận. Cô ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt ông Bản, ánh mắt trong trẻo, điềm tĩnh không chút gợn sóng:
“Cháu hiểu rồi ạ. Cảm ơn chú Bản đã giải thích cặn kẽ. Việc tổ chức thẩm tra, xem xét hạnh kiểm đoàn viên là quy trình tập thể cần thiết. Chiều nay cháu sẽ có mặt ở nhà kho Hợp tác xã dự buổi sinh hoạt phụ nữ để nghe ý kiến đóng góp của các dì, các chị.”
Ông Bản nhìn nét mặt bình thản, chững chạc lạ thường của cô gái trẻ, trong lòng thầm nể nang một phần. Ông khẽ gật đầu:
“Được thế thì tốt. Cậu mợ cứ về chuẩn bị tư tưởng. Nhớ là phải bình tĩnh, dĩ hòa vi quý, đừng để xảy ra xô xát làm mất tình đoàn kết nội bộ.”
*
Đầu giờ chiều, khoảng sân gạch trước nhà kho lớn của Hợp tác xã An Hòa chật kín bóng áo nâu sồng và nón lá. Đây là buổi sinh hoạt định kỳ của Hội Phụ nữ xã kết hợp với việc bình xét công điểm nữ công quý ba. Hơn bốn mươi phụ nữ từ ba đội sản xuất ngồi túm tụm trên những đống rơm khô hoặc những chiếc đòn gánh đặt ngang, người cầm kim đan len sợi phế phẩm, người tranh thủ se từng sợi đay làm dây thừng, tiếng rì rầm bàn tán rộn rã như vỡ tổ ong.
Ở gian giữa nhà kho, dưới tấm khẩu hiệu bằng vải đỏ căng ngang mang dòng chữ quét vôi trắng: “Phụ nữ ba đảm đang — Vững tay cày, chắc tay súng, thi đua sản xuất giỏi”, bà Phó Tươi đã ngồi sẵn bên chiếc bàn con kê tạm. Bà ta mặc chiếc áo cánh màu mỡ gà mới giặt còn nguyên nếp gấp, tóc vấn trần để lộ đôi hoa tai bằng đồng mắt cua. Trước mặt bà ta là cuốn sổ bìa cứng bọc giấy nhật trình cũ kỹ và một chiếc bút máy Trường Sơn cắm ngập trong lọ mực Cửu Long.
Khi An bước vào sân kho, tiếng ồn ào bỗng chốc lắng xuống. Hàng chục ánh mắt đổ dồn về phía cô gái mảnh mai trong bộ quần áo lao động màu xanh công nhân bạc màu, mái tóc tết lệch buông lơi bên bờ vai gầy. An điềm đạm bước đến chào các bà, các chị lớn tuổi rồi chọn một góc mép thềm gạch ngồi xuống cạnh chị Đặng Thị Đượm.
Chị Đượm vội vàng kéo An ngồi sát vào lòng mình, bàn tay mũm mĩm đầy vết nứt nẻ vì ngâm nước ruộng bấm mạnh vào bắp tay An, thì thào đầy lo lắng:
“Mày cẩn thận đấy An ạ. Trưa nay tao đi gánh phân qua ngõ nhà mụ Tươi, thấy mụ ấy ngồi với mấy mụ đàn bà bên Đội 1 to nhỏ cay cú lắm. Mụ ấy bảo phen này quyết bẻ gãy cái nanh sắc của mày, cho mày biết thế nào là lộng quyền qua mặt cán bộ. Mày có cần tao đỡ lời cho không?”
An khẽ lắc đầu, mỉm cười kín đáo:
“Chị cứ để em. Em không làm gì khuất tất, cây ngay không sợ chết đứng đâu chị.”
“E hèm!”
Một tiếng hắng giọng thật to vang lên từ phía bàn chủ tọa cắt đứt mọi lời xì xào. Bà Phó Tươi đứng dậy, cầm chiếc thước kẻ gỗ gõ côm cốp xuống mặt bàn, đảo mắt một vòng khắp lượt rồi dừng lại trừng trừng vào mặt An.
“Các chị em trật tự để hội nghị bắt đầu!” Giọng bà Phó Tươi the thé, the thé như tiếng kéo rỉ sét miết trên tôn rách. “Hôm nay, sau khi phổ biến chỉ thị của Huyện hội về phong trào thi đua tiết kiệm lương thực chuẩn bị cho vụ đông, chúng ta có một việc hệ trọng liên quan đến công tác tư tưởng và đạo đức lối sống của cán bộ, đội viên nữ. Đó là việc xét duyệt tư cách đạo đức và hạnh kiểm của cô Nguyễn Hoài An, đội viên Đội sản xuất số 3, trước khi Ban Chấp hành Hội Phụ nữ có ý kiến gửi lên Đảng ủy và Ủy ban xã về lá đơn xin đăng ký kết hôn với đồng chí Đội trưởng Trần Bình!”
Tiếng xì xào lại rộ lên râm ran. Mấy bà có tuổi ở Đội 2 chép miệng:
“Gớm, con bé An nó ngoan ngoãn, lại giỏi giang thế, cứu cả kho thóc giống hôm bão lũ, vừa trưa nay còn được Huyện ủy khen ngợi nức nở, có cái gì mà phải đem ra bêu riếu giữa bàn dân thiên hạ thế này?”
Bà Phó Tươi quắc mắt nhìn về phía góc vừa phát ra tiếng nói, lập tức dập tắt những lời dị nghị. Bà ta lật giở cuốn sổ tay, hất hàm nhổ toẹt bãi nước trầu đỏ lòm ra góc sân, rồi cao giọng:
“Tập thể chúng ta không phủ nhận công lao của bất kỳ ai, nhưng công là công, mà tội là tội! Phong cách của người phụ nữ xã hội chủ nghĩa là phải chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị, tuyệt đối không được có tư tưởng làm ăn cá thể, đầu cơ tích trữ hay dựa dẫm vào cán bộ để mưu cầu tư lợi! Thế mà thời gian qua, cô An đây đã có những biểu hiện hết sức lệch lạc về mặt tư tưởng!”
Bà Phó Tươi chỉ thẳng ngón tay trỏ đeo chiếc nhẫn đồng bóng loáng vào trán An:
“Thứ nhất! Trong đợt bão lũ vừa rồi, toàn xã đang tập trung sức người sức của để hộ đê, cô An lại tự tiện đem số lượng lớn vôi bột và đặc biệt là bột kháng sinh Sulfamid màu trắng ra để băng bó vết thương cho đồng chí Bình và xử lý mầm bệnh kho giống. Tôi hỏi cô: Thời buổi chiến tranh vừa dứt, thuốc men của Nhà nước còn quý hơn vàng, một viên Clorocid trạm xá xã còn phải chia đôi cho người ốm nặng uống, lấy đâu ra cả bọc bột Sulfamid nguyên chất như thế cho cô dùng tùy tiện? Có phải cô đã cậy thế từng là thanh niên xung phong, bớt xén tiêu chuẩn quân y của đơn vị mang về làm của riêng hay không? Đây là hành vi chiếm đoạt tài sản công hay là đầu cơ buôn lậu thuốc tây?”
Một gáo nước lạnh tạt thẳng vào danh dự khiến cả sân kho nín bặt. Tội danh “bớt xén quân nhu” hay “buôn lậu thuốc tây” thời kỳ này là cực kỳ nghiêm trọng, nhẹ thì bị tước quyền công dân đưa đi cải tạo, nặng thì bị truy tố trước tòa án quân sự.
Chưa dừng lại ở đó, bà Phó Tươi thừa thắng xông lên, giọng càng lúc càng gay gắt, the thé:
“Thứ hai! Đội 3 các người vừa rồi tự ý đào mương, đắp luống ở chân bãi Soi, lại còn bày trò ủ trấu mục, gom phân trâu phân bò khắp đường làng ngõ xóm về chứa đầy góc vườn nhà mình. Ban ngày làm việc cho hợp tác xã thì uể oải, chiều tối lại thậm thụt rủ rê nhau ra ruộng phần trăm tăng gia, biến đất đai công cộng thành của riêng! Cô An chưa về làm dâu nhà người ta mà tối nào cũng sang nhà đồng chí Bình đến tận khuya khoắt mới về, lén la lén lút trao đổi cái gì? Đó là tác phong gì? Đó là tư tưởng làm ăn tự do vô tổ chức, có dấu hiệu hồi phục lối sống cá thể của giai cấp tiểu tư sản! Một người có tư tưởng và lối sống mập mờ như thế, Hội Phụ nữ chúng tôi làm sao dám đặt bút chứng nhận tư cách đạo đức để cô bước chân vào hàng ngũ dâu thảo rể hiền của dòng họ cách mạng như nhà đồng chí Bình?”
Những lời lẽ quy chụp cay độc, hiểm hóc tuôn ra như tên bắn khiến bầu không khí trong sân kho ngột ngạt đến nghẹt thở. Vài ba cán bộ nữ thân tín của bà Phó Tươi bắt đầu gật gù phụ họa, buông ra những lời bóng gió mỉa mai.
Hoài An vẫn ngồi thẳng lưng trên mép thềm gạch. Đôi bàn tay cô đặt ngay ngắn trên vạt áo, từng ngón tay thon dài đan vào nhau ghì chặt để kiềm chế cơn giận dữ đang dâng trào trong lồng ngực. Cô hít sâu một hơi, mùi bùn non ngai ngái từ lòng sông Đáy theo gió đưa vào khoang mũi giúp cô lấy lại sự tỉnh táo tuyệt đối của một người từng trải qua hàng chục hội đồng khoa học thế kỷ 21.
Cô hiểu rất rõ, đối mặt với những kẻ giáo điều và ghen ăn tức ở như bà Phó Tươi, nổi nóng là tự sát. Phải dùng lý lẽ thép, chứng cứ thật và đánh trúng vào lòng trắc ẩn của số đông mới có thể lật ngược thế cờ.
An thong thả đứng dậy, bước lên một bước trước hàng chục ánh mắt đang nín thở chờ đợi. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào đôi mắt ti hí của bà Phó Tươi, không hề né tránh, giọng nói vang lên trong trẻo, khúc chiết, từng câu từng chữ rành rẽ lọt vào tai từng người:
“Báo cáo đồng chí Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ xã. Báo cáo toàn thể các bà, các mẹ, các chị em.”
Cô hơi cúi đầu chào tập thể một cách mực thước rồi tiếp tục:“Trước hết, về số bột sát trùng Sulfamid mà đồng chí Tươi thắc mắc. Tôi xin báo cáo rõ ràng trước tập thể: Giai đoạn 1972 đến 1975, khi đơn vị Thanh niên xung phong hỏa tuyến C812 của tôi làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông và vận chuyển quân lương trên tuyến đường Trường Sơn thuộc Đoàn 559, chúng tôi phụ trách các trọng điểm bom đạn ác liệt vùng Khu Bốn. Đến giữa năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, đơn vị làm thủ tục phục viên cho chị em. Mỗi đội viên xuất ngũ đều được đồng chí Đại đội trưởng ký phát một gói tiêu chuẩn cứu thương cá nhân bao gồm bông băng tiệt trùng, một lọ cồn đỏ và hai lạng bột Sulfamid chống nhiễm trùng vết thương hở. Tất cả đều có phiếu xuất kho quân y của Binh đoàn cấp, có chữ ký của Thủ trưởng đơn vị đóng dấu đỏ mực tươi. Suốt hai năm về quê, gia đình tôi dù nghèo khó, ốm đau cũng chưa từng dám đụng đến một hạt, gói kỹ trong ba lớp nilon bọc kín dưới đáy hòm gỗ cất giữ như một kỷ vật xương máu của đời người lính.”
An đưa mắt nhìn khắp lượt các mẹ, các chị, giọng cô chùng xuống, rưng rưng nhưng đầy sức nặng:
“Đêm bão lũ vừa qua, đê cống Vực bị nứt toác, tính mạng của cả làng An Hòa ngàn cân treo sợi tóc. Đồng chí Trần Bình là Đội trưởng, lao mình xuống dòng nước xoáy để dìm rồng rơm giữ chân đê, bị cọc tre nhọn đâm toạc bắp chân dài gần một gang tay, máu chảy xối xả nhuộm đỏ cả bùn phù sa. Nếu không rắc ngay bột sát khuẩn để khống chế vết thương, chỉ cần nửa ngày ngâm nước lũ là hoại tử, phải cưa chân, thậm chí uốn ván mà mất mạng! Tôi hỏi đồng chí Tươi, hỏi các chị em ở đây: Thấy một người thương binh, một người đồng chí hy sinh thân mình vì làng xóm mà lâm nguy như thế, tôi có thể đứng trơ mắt nhìn, ôm giữ cái kỷ vật cứu thương cá nhân ấy trong đáy hòm cho riêng mình được không? Tôi đem thuốc ra cứu một người con của xã An Hòa, cứu người chỉ huy đang giữ đê cho bà con, đó là bớt xén quân nhu hay là tinh thần đồng chí, đồng đội thời hậu chiến?”
Lời nói vừa dứt, dưới sân kho đã có tiếng sụt sịt. Mấy bà mẹ có con đi bộ đội rơm rớm nước mắt gật đầu lia lịa:
“Con bé nó nói đúng quá! Cứu người như cứu hỏa, huống chi là cứu thằng Bình thương binh!”
An quay lại nhìn thẳng vào bà Phó Tươi, ánh mắt sắc bén, điềm tĩnh:
“Còn về vấn đề cải tạo đất và tận dụng rơm rác, phân chuồng. Xã ta chuẩn bị bước vào vụ đông, đất bãi Soi là đất cát pha cằn cỗi sau trận ngập lụt, nếu không dùng phân hữu cơ ủ hoai kỵ khí để tạo mùn và hạ chua, thì mười lăm mẫu đất ấy lấy gì mà nuôi ngô, nuôi đậu? Tôi hướng dẫn Đội 3 quét dọn phân trâu, vớt bèo hoa dâu ủ với men vi sinh từ trấu mục, vừa làm sạch đường làng ngõ xóm, vừa có nguồn phân bón không tốn một xu của Nhà nước hay Hợp tác xã! Việc làm ấy diễn ra công khai giữa thanh thiên bạch nhật, Đội 3 làm xong đều ghi chép nhật ký sản xuất nộp cho Ban Quản trị. Ban nãy, chính đồng chí Bí thư Huyện ủy cũng đã biểu dương cách làm này trước toàn thể cán bộ xã! Còn chuyện tôi sang nhà đồng chí Bình buổi tối, là để cùng u Mẫn và anh Bình tính toán lịch gieo cấy hạt giống ngô lai vừa cứu được từ lò sấy, hoàn toàn có sự chứng kiến của u Mẫn suốt từ đầu đến cuối! Cớ sao đồng chí Tươi lại dùng những từ ngữ như ‘thậm thụt’, ‘mập mờ’, ‘lối sống cá thể’ để bôi nhọ thanh danh của một cựu thanh niên xung phong và một gia đình liệt sĩ?”
Bà Phó Tươi bị An phản bác từng điểm một cách khúc chiết, mặt mũi đỏ bừng như gấc chín. Bà ta lắp bắp, vội vàng đập tay xuống bàn:
“Cô... cô khéo mồm khéo miệng ngụy biện! Dù cô có nói hươu nói vượn thì cái thói tự do cá nhân, chưa cưới xin mà đã...”
“Bà Tươi! Bà im cái mồm độc địa của bà đi!”
Một tiếng thét vang như sấm dậy cắt ngang lời bà Phó Tươi. Từ giữa đám đông, chị Đặng Thị Đượm đứng phắt dậy, đá văng chiếc đòn gánh sang một bên. Thân hình đẫy đà, phốp pháp của chị sừng sững bước ra giữa sân kho, hai tay chống nạnh, đôi mắt tròn xoe nảy lửa nhìn thẳng vào mặt vị cán bộ phụ nữ xã.
“Chị Đượm! Chị định làm loạn giữa buổi sinh hoạt đoàn thể đấy à?” Bà Phó Tươi giật thót mình, quát lên nhưng giọng đã bắt đầu run rẩy.
“Làm loạn cái con khỉ mốc!” Chị Đượm nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống nền đất, giọng sang sảng át cả tiếng gió heo may: “Tôi nhịn bà từ trưa đến giờ rồi nhé bà Tươi! Cả cái xã An Hòa này ai mà chẳng biết bụng dạ bà nông sâu ra sao! Năm ngoái, bà cậy chân cán bộ phụ nữ, năm lần bảy lượt sang gạ gẫm u Mẫn gả thằng Bình cho con cháu gái ruột đui mù thọt chân của bà ở bên xóm Thượng để ăn miếng ruộng phần trăm bãi bồi! Thằng Bình nó từ chối thẳng thừng vì nó không có tình cảm, thế là bà ôm hận trong lòng, nhìn ngó săm soi nhà người ta từng ly từng tí!”
Cả sân kho ồ lên kinh ngạc. Những tiếng cười khúc khích, những lời xì xào bàn tán nổi lên như sóng cồn. Mặt bà Phó Tươi từ đỏ chuyển sang tím tái, tay chân run lẩy bẩy:
“Chị... chị Đượm! Chị ăn nói hàm hồ, vu khống cán bộ! Tôi... tôi sẽ báo cáo Chi bộ kỷ luật chị!”
“Bà cứ việc báo cáo! Tôi là con nông dân ba đời, rễ tre đâm thủng mắt cũng chẳng sợ!” Chị Đượm tiến sát lại gần chiếc bàn con, chỉ tay thẳng vào cuốn sổ ghi chép của bà Tươi: “Đêm bão lũ, nhà kho Đầm Lội sập mái, sắn lát với ngô giống ngập chìm trong nước bùn, cán bộ phụ nữ như bà trùm chăn kỹ trong buồng ấm ngủ kỹ, có vác mặt ra vớt nổi một củ sắn cho tập thể không? Con An nó dầm mưa suốt đêm, hai bàn chân lạnh ngắt như ngâm đá, nghĩ ra cách biến cái lò gạch nát thành trạm sấy cứu được hơn sáu tấn lương thực cho cả xã! Nếu không có con An với thằng Bình, vụ đông này cả làng này nhai rơm rạ mà sống à? Người ta có công cứu đói cho cả xã, cứu chân cho thương binh, bà không biểu dương khen thưởng thì thôi, lại còn ngồi đây đặt điều bôi tro trát trấu vào mặt người ta để trả thù riêng! Các bà các mẹ ở đây trông xem: Người ta đẹp như đũa có đôi, vừa có đức vừa có tài, bà lấy quyền gì mà cản trở giấy kết hôn của người ta? Bà có giỏi thì ra đê mà cản nước sông Đáy ấy!”
Lời chị Đượm nói như trút hết nỗi ấm ức bấy lâu nay của những người phụ nữ chân lấm tay bùn trước sự hách dịch, quan liêu của một bộ phận cán bộ xã. Lập tức, bà cụ Thược ở xóm Dưới đập đùi đánh đét một cái, đứng dậy hưởng ứng:
“Chị Đượm nó nói chí phải! Con An nó ngoan ngoãn, chịu thương chịu khó, thằng Bình lại là rể quý của cả làng. Bọn già này mắt chưa mù, tai chưa điếc. Chúng tôi biểu quyết ủng hộ cho cái An và thằng Bình lấy nhau!”
“Đúng đấy! Biểu quyết đi! Ai đồng ý cho cô An lấy chú Bình thì giơ tay!”
“Tôi đồng ý!”
“Tôi cũng giơ cả hai tay!”
Rào rào như một trận mưa rào mùa hạ, hàng chục cánh tay gầy guộc, đen sạm vì nắng gió đồng ruộng đồng loạt giơ cao lên giữa sân kho. Tiếng reo hò, tiếng cười nói ủng hộ vang dội cả một góc làng.
Bà Phó Tươi đứng chết trân bên chiếc bàn làm việc, mặt cắt không còn hột máu. Cuốn sổ tay trên bàn bị gió thổi lật phành phạch. Nhìn hàng chục ánh mắt nghiêm khắc và phẫn nộ của bà con lối xóm đang vây quanh, bà ta biết mình đã hoàn toàn đại bại. Chiếc thước kẻ gỗ trên tay bà ta rơi cạch xuống mặt bàn, bà ta xấu hổ cúi gầm mặt, vội vã vơ lấy chiếc làn mây rồi lủi thủi lách qua đám đông trốn biệt ra cổng phụ nhà kho.
Chị Đượm quay sang nhìn An, nháy mắt một cái thật hóm hỉnh rồi phá lên cười giòn tan:
“Thế nào hả cô kỹ sư? Chị mày ra tay một mồi lửa là thiêu rụi cái thói ghen ăn tức ở ngay!”
An xúc động nhìn chị Đượm, rồi nhìn những bàn tay chai sần của các bà, các mẹ vẫn đang giơ cao ủng hộ mình. Sống mũi cô cay xè, một dòng nhiệt lưu ấm áp chảy tràn trong huyết quản. Ở thế giới cũ, tri thức là vũ khí để thăng tiến; nhưng ở mảnh đất nghèo khó thập niên 70 này, tri thức gắn liền với mồ hôi và lòng chân thành mới chính là sợi dây bền chặt nhất nối kết tình người.
*
Tối hôm ấy, sương mù buông dày đặc trên các ngọn tre làng An Hòa. An theo Bình lên trụ sở Đảng ủy xã. Vì chưa phải là Đảng viên, An lặng lẽ ngồi chờ anh ngoài dãy hành lang lát gạch vồ rêu phong, dưới ánh đèn măng-sông màu vàng vọt hắt ra qua những khe cửa sổ chớp gỗ.
Gió đêm mùa thu luồn qua kẽ lá bàng rơi lộp bộp trên mái ngói rêu phong. Bên trong căn phòng họp ba gian, cuộc họp liên tịch giữa Chi bộ Đảng ủy và Ban Quản trị Hợp tác xã diễn ra trong không khí trang nghiêm. Dù ngồi bên ngoài, An vẫn nghe thấy tiếng rì rầm trao đổi dứt khoát. Tiếng đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đọc bản tường trình kết quả buổi sinh hoạt phụ nữ chiều nay, nơi toàn thể hội viên đã đồng thanh biểu quyết ủng hộ hạnh kiểm của cô. Tiếp đó là giọng nói sang sảng, quen thuộc của Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát:
“...Đồng chí Trần Bình là hạt nhân lãnh đạo của Đội 3, đồng chí Hoài An là cán bộ kỹ thuật nòng cốt có tư duy sáng tạo xuất sắc. Hai đồng chí thành gia lập thất không chỉ là hạnh phúc lứa đôi mà còn tạo ra sự ổn định vững chắc để Đội 3 gánh vác trọn vẹn mười lăm mẫu đất vụ đông ở bãi Soi. Chi bộ và Ban Quản trị hoàn toàn nhất trí, đề nghị Ủy ban làm thủ tục chứng nhận ngay trong đêm nay!”
Tiếng vỗ tay giòn giã vang lên từ bên trong, xua tan hoàn toàn cái lạnh của màn sương đêm.
Gần mười giờ đêm, cánh cửa gỗ lim kêu kẽo kẹt mở ra. Bình bước ra hành lang, vóc dáng cao lớn vững chãi nổi bật dưới ánh đèn hắt ra từ phòng họp. Trên gương mặt cương nghị sạm đen sương gió của anh rạng rỡ một nụ cười ấm áp hiếm thấy. Anh tiến nhanh lại phía An, khẽ giơ tờ giấy gấp đôi trong tay lên, giọng thì thầm đầy xúc động:
“Xong xuôi hết rồi An ạ. Toàn bộ Chi bộ và Ủy ban đã nhất trí thông qua. Không ai còn dị nghị gì nữa.”
Hai người sóng đôi bước ra khỏi trụ sở Ủy ban xã. Đêm cuối thu tĩnh mịch, vầng trăng khuyết treo lơ lửng trên ngọn cây đa cổ thụ, rắc những vệt sáng bàng bạc xuống mặt đường đê phẳng lặng. Tiếng côn trùng rỉ rả dưới những bụi cỏ may hòa cùng tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân bến đò Cốc xa xa.
Dưới bóng râm của hàng phi lao ven đê, Bình dừng bước. Anh quay người lại, trân trọng mở tờ giấy chứng nhận kết hôn được in trên loại giấy hồng điều mỏng manh ra trước mắt An. Giữa tờ giấy, con dấu đồng tròn trĩnh của Ủy ban Hành chính Xã An Hòa in mực son đỏ chói lọi, tươi rói như một bông hoa lửa, kèm theo chữ ký nắn nót, dứt khoát của Chủ tịch xã.
Bình nhìn sâu vào mắt An dưới ánh trăng. Bàn tay to lớn, ấm áp của người cựu chiến binh khẽ vươn ra, run rẩy nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của cô gái, rồi siết chặt lại. Sự tiếp xúc da thịt công khai đầu tiên không còn phải lén lút hay e ngại ánh nhìn của người đời.
“An này...” Giọng Bình trầm khàn, nghẹn ngào vì xúc động khôn xiết. “Từ giờ phút này, trước Đảng, trước chính quyền và xóm làng, em đã thực sự là vợ của anh rồi.”
An ngước nhìn anh, cảm nhận được hơi ấm tin cậy truyền qua từng ngón tay thô ráp. Khẽ mỉm cười, cô nghiêng đầu tựa nhẹ vào bờ vai vững chãi của anh, ngửi thấy mùi nắng hanh quyện với mùi mồ hôi mộc mạc và hương lá thuốc lào quen thuộc trên áo anh:
“Vâng, em nghe mình ạ. Từ nay mình với em cùng gánh vác.”
Bình nâng tờ giấy chứng nhận kết hôn lên, ngắm nhìn vết mực son còn chưa khô hẳn, ánh mắt lấp lánh niềm kiêu hãnh và hạnh phúc vô bờ. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Khi An đưa mắt nhìn xuống tờ giấy giới thiệu đính kèm phía sau — giấy giới thiệu của Ủy ban xã cấp cho đôi tân hôn để đến Cửa hàng Mua bán Bách hóa huyện Chương Mỹ mua hàng phân phối theo tiêu chuẩn nếp sống mới — cô nhận ra bàn tay Bình đang nắm tay mình bỗng chốc siết chặt lại, các khớp ngón tay gồ lên cứng đờ.
An nhìn theo hướng mắt anh, thấy một tia lo âu trĩu nặng bất chợt phủ bóng trong ánh mắt người lính.
Dưới ánh trăng mờ bàng bạc, dòng chữ viết tay bằng mực tím của cô mậu dịch viên ghi chú nguệch ngoạc bên lề tờ phiếu mua hàng hiện ra rõ mồn một từng chữ:
“Hạn mức vải phin trắng và bông dệt quý ba của Cửa hàng Mua bán huyện đã cạn kiệt theo chỉ tiêu phân phối trên giao. Tạm thời ngừng cung cấp vải may chăn màn và đệm cưới cho diện ưu tiên cho đến hết tháng Mười một.”
An khẽ thở dài, bàn tay cô nhẹ nhàng lật úp lại, nắm lấy những ngón tay đang căng cứng của Bình. Gió đông bắc bắt đầu thổi từng cơn lạnh buốt qua triền đê sông Đáy. Mùa đông năm nay được dự báo là đợt rét kỷ lục, mà chiếc giường cưới trong gian nhà vách đất ba gian của họ đến lúc này vẫn chỉ trơ trọi manh chiếu cói rách rưới, không có lấy một thước vải phin lành lặn để may chiếc chăn bông ấm che chở cho tổ ấm mới trước cái rét thấu xương sắp tràn về.