Tiếng bánh xe đạp miết trên mặt đường sỏi lạo xạo còn chưa dứt, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đã chùi vội những giọt mồ hôi đang túa ra ròng ròng trên trán. Chiếc áo sơ mi bốn túi màu cỏ úa dán chặt vào lưng ông, ướt đẫm một mảng lớn. Cây bút máy Kim Tinh gài nơi miệng túi lay qua lắc lại theo từng nhịp th* d*c nặng nề.
“Bác Khoát, bác cứ bình tĩnh uống ngụm nước chè đã!” An vội vàng bước tới bên chõng tre, rót một bát nước chè xanh sóng sánh màu mật le rót ra từ chiếc tích ủ trong giỏ bọc rơm, hai tay đưa sang cho vị chủ nhiệm.
Ông Khoát xua tay lia lịa, nhưng cổ họng khát khô cháy bỏng khiến ông không nhịn được, đành bưng bát nước tu một hơi ừng ực. Đặt chiếc bát sứt mép cạch một tiếng xuống mặt chõng, ông giơ mu bàn tay quệt ngang miệng, giọng run rẩy:
“Uống làm sao cho trôi hả cô An! Đồng chí Bí thư Huyện ủy và Trưởng phòng Nông nghiệp huyện đánh điện báo trước cả tuần, chiều nay đúng một giờ ba mươi sẽ về thẳng ủy ban xã. Cấp trên yêu cầu An Hòa phải trình được phương án sản xuất cây màu vụ đông để huyện chọn làm xã điểm toàn vùng tả ngạn sông Đáy. Thế mà lúc trưa trờ trưa trật này, hai ông Cự với ông Thược lại kéo cả ban chỉ huy Đội 1, Đội 2 lên đập bàn đập ghế. Các ông ấy dứt khoát không chịu nhận cày cấy ngoài bãi Soi, bảo đất ấy mùa này sương muối xuống là cháy rụi, gieo ngô chỉ có nước ném công điểm của xã viên xuống sông Đáy!”
Trần Bình đứng bên cạnh, dáng người cao lớn sừng sững như một cây lim già nơi đầu làng. Anh khẽ cau mày, đôi mắt cương nghị nheo lại nhìn về phía bóng nắng gắt gao đang rọi xuống rặng tre ven ngõ. Vết thương nơi bắp chân anh mới kéo da non sau đợt hộ đê cống Vực, dẫu còn đôi chút nhức nhối khi trái gió trở trời nhưng những bước chân đã vững vàng, không còn cần đến chiếc gậy tre chống đỡ.
“Bác Khoát,” Bình trầm giọng, âm sắc bình thản mà dứt khoát, “Đội 1 với Đội 2 ngại khó vì bao năm nay họ chỉ quen cấy lúa nước hai vụ chiêm mùa, chưa từng làm chủ được kỹ thuật trồng màu bãi bồi lúc sang đông. Mười lăm mẫu đất bãi Soi phù sa đợt lũ vừa rồi bồi thêm dày cả gang tay, màu mỡ như thế mà để cỏ lau mọc hoang thì có tội với trời, có lỗi với bát cơm của bà con xã viên. Bác để cháu và An sang trụ sở ngay bây giờ.”
An nhìn Bình, bắt gặp ánh mắt kiên định của anh chiếu sang mình. Trong đáy mắt người đàn ông dạn dày sương gió ấy không có lấy một chút hoang mang, chỉ có niềm tin tuyệt đối dành cho cô và tinh thần dám chịu trách nhiệm của người lính cụ Hồ. Cô khẽ gật đầu, vớ lấy chiếc nón lá treo bên cột hiên, lòng bàn tay bất giác chạm vào chiếc vòng bạc gia truyền mà u Mẫn vừa trao tặng lúc sáng đang nằm gọn nơi cổ tay áo nâu sồng.
“Đi thôi bác Khoát, chúng ta sang đình. Việc đâu còn có đó, có phương án rõ ràng thì cấp trên hay bà con xã viên đều sẽ nghe ra thôi.” Giọng An trong trẻo, điềm tĩnh lạ thường, như một liều thuốc an thần làm dịu bớt vẻ mặt đang tái ngắt vì lo sợ của ông Khoát.
Chiếc xe đạp Phượng Hoàng của chủ nhiệm Khoát lại lục cục lăn bánh dẫn đường. Bình dắt chiếc xe Thống Nhất cũ kỹ chở An bám sát phía sau. Mặt trời trưa đứng bóng rọi xuống con đường liên thôn rải đá dăm, hơi đất ngai ngái bốc lên nồng nặc. Trên các bờ rào râm bụt, tiếng ve sầu muộn màng của cuối thu kêu ra rả, hòa lẫn cùng tiếng kẻng réo rắt báo hiệu giờ nghỉ trưa của các xóm nghèo. Nhưng ở đình An Hòa — nơi đặt văn phòng Ban quản trị Hợp tác xã nông nghiệp — không khí lại sục sôi như một chảo thắng cố đang sôi trào trên bếp than hồng.
Mới bước qua bậc thềm đá xanh rêu phong của cổng đình, An đã nghe thấy tiếng đập bàn chát chúa vang ra từ gian tiền tế.
“... Tôi nói cho các đồng chí biết! Đội 1 chúng tôi năm nay gánh chỉ tiêu lúa mùa nặng nhất xã, sức người có hạn, trâu bò thì gầy trơ xương sau đợt lụt! Mười lăm mẫu bãi Soi ấy đất cát pha, vừa bết bùn lại vừa lạnh buốt chân. Năm ngoái trồng thử hai sào ngô vàng, sương muối tháng Một quét qua một đêm là lá quắt queo như chổi xể, hạt lép kẹp không đủ nuôi đàn gà! Giờ huyện ép chỉ tiêu vụ đông, xã lại muốn đổ lên đầu các đội. Chúng tôi thà chịu phạt thi đua, chứ không để xã viên bỏ công bỏ buổi ra phơi rét rồi cuối vụ lĩnh về toàn rơm rác!”
Đó là tiếng của ông Cự, Đội trưởng Đội 1. Ông Cự trạc ngũ tuần, người gầy gò khắc khổ, đôi mắt sâu hoắm dưới hàng lông mày rậm rạp, trên tay cầm chiếc điếu bát bằng gốm hoa lam cáu bẩn bồ hóng, ngón tay run run vì tức giận.
Ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát cột lim là ông Thược, Đội trưởng Đội 2. Ông Thược béo lùn, mặc chiếc áo trấn thủ rách mép, đang dùng chiếc đóm nứa châm lửa hút thuốc lào sòng sọc, nhả một luồng khói xanh đặc quánh làm mờ cả tấm bảng khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” treo trên tường vách đất.
“Đúng đấy đồng chí Khoát!” Thấy bóng ông Khoát bước vào, ông Thược nhổ toẹt bãi nước đóm xuống nền gạch Bát Tràng, phụ họa ngay: “Đội 2 chúng tôi cũng chung quan điểm. Giống má thì khan hiếm, kho Đầm Lội vừa ngập nước xong, số ngô sấy ở lò gạch cũ nghe đâu chỉ vớt vát được mấy phần, lấy đâu ra giống tốt mà rải khắp mười lăm mẫu? Xã viên người ta đang nhốn nháo đòi chia rơm rạ đan rổ sảo kiếm thêm đồng ra đồng vào độn sắn qua ngày, ai chịu lội bùn bãi sông giữa gió bấc hun hút? Tôi đã làm sẵn biên bản kiến nghị bỏ hoang bãi Soi vụ này rồi, Ban quản trị ký vào để lát nữa báo cáo Huyện ủy, giải trình là do thiên tai lũ lụt khách quan!”
Trong gian đình rộng thênh thang, hơn mười cán bộ chủ chốt của Ban quản trị, từ kế toán, thủ kho, trưởng ban kiểm soát đến các tổ trưởng sản xuất đều ngồi im thin thít. Không khí ngột ngạt đến mức chỉ nghe thấy tiếng rít thuốc lào và tiếng gió thổi xào xạc qua tàn cây đa cổ thụ ngoài sân. Mọi người đều hiểu, nhận vụ đông là nắm dao đằng lưỡi; nếu được mùa thì chẳng ai khen ngợi bao nhiêu, nhưng nếu mất mùa, công điểm bị cào bằng thụt lùi, tiếng chửi rủa của hàng trăm miệng ăn sẽ trút sạch lên đầu Ban quản trị.
Chủ nhiệm Khoát mặt mũi méo xệch, nhìn tờ giấy biên bản kiến nghị viết bằng mực tím lem nhem đặt trên bàn như nhìn thấy một hòn than nóng.
Đúng lúc ấy, một giọng nói trầm hùng, sang sảng cất lên phá tan bầu không khí u ám:
“Các đồng chí Đội 1 và Đội 2 không dám nhận, thì để toàn bộ mười lăm mẫu bãi Soi ấy cho Đội sản xuất số 3 chúng tôi gánh vác!”
Mọi ánh mắt trong đình đồng loạt đổ dồn về phía cửa. Trần Bình sải bước bước qua ngưỡng cửa bức bàn cao bằng gỗ lim. Anh đứng thẳng, vai rộng ngực nở, ánh mắt sắc sảo quét qua một lượt những gương mặt đang lộ vẻ bàng hoàng. Bên cạnh anh, Hoài An lặng lẽ bước vào, chiếc nón lá cầm trên tay để lộ gương mặt thanh tú, đôi mắt sáng ngời toát lên vẻ thông tuệ và tự tin hiếm có.
Ông Cự khựng lại, chiếc tẩu đóm trên tay suýt rơi xuống đất. Ông ta nhíu mày, cười khẩy một tiếng đầy mỉa mai:
“Kìa, đồng chí Đội trưởng Đội 3! Nghe nói chân đồng chí vừa khỏi khập khiễng, Đội 3 lại vừa được nhận cờ thi đua của Ty Nông nghiệp nên hăng hái quá nhỉ? Đồng chí có biết mười lăm mẫu đất bãi bồi nó rộng chừng nào không? Bằng cả nửa diện tích canh tác hoa màu của cả xã An Hòa này đấy! Đội 3 các anh chỉ có hơn bốn chục lao động, trâu cày được ba con dặt dẹo, lấy cái gì mà cày xới, lấy giống ở đâu mà gieo, hay lại tính hô khẩu hiệu suông để rồi đến tháng Chạp cả làng cùng nhau nhai đất sét?”
“Tôi không hô khẩu hiệu!” Bình bước tới trước bàn làm việc, hai tay chống xuống mặt gỗ, nhìn thẳng vào mắt ông Cự. “Là người lính đã từng vào sinh ra tử ở chiến trường, tôi biết tấc đất tấc vàng là như thế nào. Ngày ở Quảng Trị, chúng tôi chia nhau từng nắm cơm mốc, từng hạt ngô rang để giữ chốt. Nay về hậu phương, đất đai màu mỡ phù sa sông Đáy dâng lên tận miệng mà vì sợ rét, sợ cực nhọc rồi bàn nhau ký giấy bỏ hoang, thì mặt mũi nào nhìn vào sự hy sinh của đồng đội, nhìn vào bao nhiêu gia đình liệt sĩ, thương binh đang thiếu ăn từng bữa trong xã này?”
Lời nói đanh thép, chất chứa sự cương trực và uất nghẹn của người lính khiến ông Cự tím mặt, ngắc ngứ không cãi lại được câu nào. Không khí trong đình bỗng chốc chùng xuống. Những cán bộ trẻ tuổi đưa mắt nhìn Bình với vẻ kính nể lộ rõ.
Tuy nhiên, ông Thược vẫn không chịu thua. Vốn là người lọc lõi, tính toán chi ly từng cân thóc công điểm, ông ta nhếch mép hừ một tiếng:
“Đồng chí Bình nói đạo lý thì hay lắm! Nhưng sản xuất nông nghiệp là chuyện hạt thóc củ khoai, là mồ hôi nước mắt chứ không phải ra chiến hào hô xung phong là lúa ngô tự mọc! Anh bảo Đội 3 nhận, tôi hỏi anh: Hạt giống ở đâu ra? Đất bãi cát pha sau lũ rất nhanh khô nứt nẻ nhưng chân dưới lại lạnh ngắt, rễ ngô ăn xuống gặp tầng đất lạnh là thối nhũn. Anh lấy gì chống sương muối? Rồi phân bón ở đâu? Hợp tác xã phân bổ đợt phân đạm U-rê vừa rồi Đội 3 đã dùng hết cho diện tích mạ mùa muộn rồi, đào đâu ra đạm hóa học mà thúc cho mười lăm mẫu ngô bãi bồi? Anh trả lời thông suốt được những điều ấy trước mặt Ban quản trị và đồng chí Bí thư Huyện ủy chiều nay đi rồi hãy nhận bừa!”
Câu hỏi hóc búa của ông Thược đánh trúng vào điểm mấu chốt nhất. Ông Khoát đứng bên cạnh cũng toát mồ hôi hột, ái ngại nhìn Bình. Những khó khăn đó là có thật, tr*n tr** và khắc nghiệt như chính mùa đông đất Bắc.
Bình không vội đáp. Anh quay sang nhìn An, khẽ gật đầu, nhường lại vũ trường tri thức cho người con gái mà anh hết lòng tin cậy.
An bước lên một bước. Cô không hề có vẻ rụt rè của một người con gái nông thôn thường thấy khi đứng trước đám đàn ông cán bộ xã. Động tác của cô khoan thai, mực thước. Cô đặt chiếc nón lá lên góc bàn, đưa mắt nhìn quanh gian đình, rồi dừng lại ở tấm bảng đen dùng để ghi công điểm treo trên cột.
“Thưa Ban chủ nhiệm, thưa các đồng chí Đội trưởng,” giọng An vang lên rõ ràng, mạch lạc, trầm ấm mà đầy sức thuyết phục. “Những lo lắng của bác Cự và chú Thược hoàn toàn có cơ sở thực tế từ những vụ mùa trước đây. Nhưng đó là khi chúng ta canh tác theo lối độc canh cây ngô truyền thống, phó mặc cho thời tiết và trông chờ vào lượng phân hóa học hữu hạn của nhà nước. Vụ đông năm nay, Đội 3 chúng tôi xin đề xuất một phương án hoàn toàn mới: Canh tác xen canh ngô hạt phục hồi kết hợp với đậu tương đông theo mô hình luống đôi, rãnh sâu.”
Cả hội trường xôn xao. Ông Cự trố mắt nhìn An, tặc lưỡi:
“Cô An này, cô đừng có đem mấy cái chữ nghĩa viễn vông ra mà dọa chúng tôi! Đất trồng một cây ngô còn sợ không đủ màu, cô lại đòi nhét thêm cây đậu tương vào tranh ăn với ngô, có mà chết chùm cả lũ!”
An mỉm cười nhẹ nhàng, không hề tỏ ra phật ý trước lời ngắt lời thô lỗ ấy. Cô cầm lấy mẩu phấn trắng cài trên khay bảng, nhanh thoăn thoắt vẽ lên nền bảng đen vài nét vẽ hình học chuẩn xác:
“Bác Cự nói cây đậu tương tranh ăn với ngô, nhưng thực tế đất đai lại vận hành theo quy luật khác. Hồi tôi còn đi thanh niên xung phong ở vùng bãi bồi ven sông, các cụ nông lão giàu kinh nghiệm đã đúc kết: cây họ đậu là giống cây 'trả ơn cho đất'. Các đồng chí nếu nhổ một gốc đậu tương lên rửa sạch bùn đất, sẽ thấy ở chùm rễ của nó có chi chít những nốt sần nhỏ như hạt tấm hạt đỗ. Người xưa gọi là mụn rễ, nhưng thực chất những mụn rễ ấy chứa đựng sự kỳ diệu của đất trời: chúng có khả năng bắt lấy khí đạm tự nhiên trong không khí chuyển hóa thành chất màu bồi bổ trực tiếp cho đất. Cây đậu tương không những không tranh phân của cây ngô, mà rễ của nó còn nhả ra chất đạm tự nhiên để nuôi sống cây ngô bên cạnh!”
An vừa nói vừa dùng phấn vạch rõ khoảng cách từng luống trên bảng đen:
“Chúng ta sẽ lên luống đôi: khoảng cách giữa hai hàng ngô là bảy mươi phân, và ngay giữa hai hàng ngô ấy, chúng ta gieo một hàng đậu tương đông. Giống đậu tương này có chu kỳ sinh trưởng ngắn, chỉ hơn bảy mươi ngày. Khi cây ngô vươn cao cần nhiều chất dinh dưỡng để trổ cờ phun râu, thì rễ đậu tương đã bắt đầu cố định đạm mạnh nhất để cấp dinh dưỡng cho ngô. Như vậy, chúng ta giải quyết được bài toán thiếu phân đạm U-rê mà không tốn một đồng ngân sách nào của hợp tác xã!”
Các cán bộ trong đình bắt đầu xích lại gần bảng đen, mắt dán chặt vào những hình vẽ luống ngô, luống đậu sinh động mà An đang phác họa. Ngay cả ông Thược cũng ngừng rít thuốc lào, chăm chú lắng nghe.
“Thế còn sương muối và cái rét nàng Bân cuối năm thì sao?” Một ủy viên kiểm soát rụt rè cất tiếng hỏi. “Ngô bãi sông sợ nhất là gió bấc lùa thốc từ lòng sông lên làm cháy ngọn.”An quay lại, ánh mắt rạng ngời tự tin:
“Đó chính là tác dụng thứ hai của việc xen canh! Đậu tương là giống cây lá rộng, tán xòe sát mặt đất. Khi sương muối đổ xuống vào ban đêm, thảm lá đậu tương sẽ đóng vai trò như một tấm chăn giữ ấm, che phủ toàn bộ phần gốc và rễ của ngô, ngăn không cho sương giá ngấm sâu làm lạnh buốt cổ rễ. Hơn nữa, thảm lá này giữ cho độ ẩm của đất bãi cát pha không bị gió hanh heo hút cạn vào ban ngày. Đến khi gió bấc tràn về, thân cây ngô vươn cao cứng cáp sẽ chắn gió cho hàng đậu tương bên dưới, còn tán lá đậu lại giữ ấm chân ngô. Đó là sự nương tựa lẫn nhau giữa hai giống cây trồng, biến điều kiện khắc nghiệt thành lợi thế sinh trưởng!”
“Hay… hay quá!” Chủ nhiệm Khoát bất giác buột miệng vỗ đùi đánh đét một cái, mặt mày rạng rỡ hẳn lên.
Nhưng ông Thược vẫn cố vớt vát tìm kẽ hở:
“Thế còn giống? Kho Đầm Lội sập mái ngâm nước cả tuần, ngô giống cứu ra phơi sấy vội vàng ở lò gạch liệu có mọc nổi không, hay gieo xuống rồi thối mầm dưới đất?”
An đưa mắt nhìn Bình, Bình lập tức tiếp lời một cách dõng dạc:
“Báo cáo Ban quản trị, sáng nay trước khi sang đây, tôi và An cùng tổ kỹ thuật của Đội 3 đã tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên mười mẫu ngô giống sấy ở lò gạch cũ. Nhờ phương pháp sấy đối lưu nhiệt gián tiếp và xông khói tro bếp của An chỉ dẫn đêm hôm nọ, toàn bộ phôi mầm của ba tấn hai ngô giống vẫn giữ được nguyên vẹn màu vàng ngà, không hề bị cháy phôi hay thối rữa do lên men. Chúng tôi đã cho ủ thử nghiệm năm bát mầm bằng khăn ẩm bọc tro trấu từ hôm qua, tỷ lệ nứt nanh nảy mầm sáng nay đạt trên chín mươi phần trăm! Hơn ba tấn ngô ấy dư sức gieo kín mười lăm mẫu bãi Soi, thậm chí còn đủ trích ra một phần làm giống dự phòng nếu có diện tích nào bị chuột bọ cắn phá!”
Bình dừng lại một nhịp, đưa mắt nhìn thẳng vào ông Cự và ông Thược, giọng nói vang lên đầy uy lực và trách nhiệm:
“Về sức kéo và nhân lực, Đội 3 chúng tôi không đòi hỏi xã phải cấp thêm trâu cày của Đội 1 hay Đội 2. Đất bãi Soi mới bồi lắng phù sa rất tơi xốp, chúng tôi sẽ dùng phương pháp rạch rãnh tra hạt kết hợp vét đất bùn non phủ luống theo lối thủ công, không cần cày sâu lật đất làm mất tầng ẩm tự nhiên. Toàn bộ bốn mươi hai lao động của Đội 3 đã họp bàn, sẵn sàng chia thành sáu tổ đổi công, cắm cọc nhận khoán từng dải đất, ăn ngủ ngoài bãi sông để làm cho kịp khung thời vụ tốt nhất trước rằm tháng Chín!”
Cả gian đình rơi vào sự im lặng tuyệt đối. Đó không còn là sự im lặng bế tắc, hoang mang như lúc ban đầu, mà là sự chấn động sâu sắc trước một kế hoạch sản xuất quá đỗi chặt chẽ, khoa học và đầy tính khả thi. Từng bài toán hóc búa nhất về giống, phân bón, thời tiết, sức kéo đều đã được giải đáp một cách trôi chảy, thuyết phục bằng những lập luận vững như bàn thạch.
Ông Cự buông chiếc điếu bát xuống bàn, miệng há hốc nhìn cô gái trẻ mảnh mai đứng cạnh người đội trưởng thương binh. Trong lòng ông ta dâng lên một nỗi hổ thẹn khó tả. Mấy chục năm làm lính, rồi về quê làm đội trưởng nông nghiệp, ông ta chỉ quen trông trời trông đất, sợ hãi trước thiên tai và ỷ lại vào chỉ tiêu bao cấp bên trên. Chưa bao giờ ông ta nghĩ rằng hạt ngô, hạt đậu nơi đồng đất quê hương lại có thể kết hợp hài hòa, tinh diệu đến mức ấy.
Đồng hồ quả lắc treo ở gian giữa điểm từng tiếng nặng nề: gõ đúng một giờ trưa. Chỉ còn ba mươi phút nữa là đoàn kiểm tra của Huyện ủy sẽ có mặt.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát đứng bật dậy. Đôi mắt tròn xoe sau cặp kính cận lóe lên những tia sáng phấn chấn chưa từng thấy. Ông vớ lấy chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo, rút nắp bút đánh tách một cái, gạt phăng tờ biên bản xin bỏ hoang đất của Đội 1 và Đội 2 sang một bên.
“Tốt lắm! Quá tuyệt vời!” Ông Khoát cao giọng, nét mặt bừng bừng khí thế: “Các đồng chí thấy chưa? Đây mới là tinh thần tiến công cách mạng trên mặt trận nông nghiệp! Cứ ngồi một chỗ mà sợ rét, sợ khổ thì chỉ có nước kéo nhau đi ăn mày! Ban quản trị Hợp tác xã An Hòa quyết định: Không bỏ hoang một tấc đất nào ở bãi Soi! Giao toàn bộ mười lăm mẫu đất bãi bồi cho Đội sản xuất số 3 làm điểm thí điểm mô hình xen canh ngô - đậu tương vụ đông!”
Ông Khoát quay sang nhìn An và Bình, giọng đầy vẻ ưu ái và tin tưởng:
“Đồng chí Bình, cô An! Hai đồng chí ở lại đây cùng tôi. Lát nữa đồng chí Bí thư Huyện ủy và Trưởng phòng Nông nghiệp huyện về, cô An sẽ trực tiếp dùng sơ đồ này báo cáo đề án trước huyện! Nếu mô hình này thành công, Đội 3 không chỉ cứu đói cho xã ta vụ giáp hạt sang năm, mà còn đưa An Hòa trở thành ngọn cờ đầu về cây màu vụ đông của toàn tỉnh Hà Sơn Bình!”
Tiếng xì xào đồng thuận vang lên khắp gian đình. Các thành viên Ban quản trị lần lượt ký tên vào biên bản giao đất thí điểm trong sự phấn khởi. Ông Cự và ông Thược lặng lẽ nhặt điếu bát, lủi thủi bước ra góc hiên, vừa xấu hổ vì sự hèn nhát bảo thủ của mình, lại vừa ngấm ngầm nể phục bản lĩnh của hai người trẻ tuổi.
Cuộc họp kết thúc nhanh chóng để chuẩn bị đón tiếp đoàn cán bộ huyện. Bình và An cùng bước ra ngoài sân đình hít thở bầu không khí trong lành. Gió heo may từ triền đê sông Đáy thổi về mát rượi, xua tan đi cái ngột ngạt của khói thuốc lào và những tranh cãi nảy lửa vừa qua.
“Em giỏi lắm, An ạ,” Bình bước sóng đôi bên cô, giọng anh trầm ấm, chan chứa niềm tự hào khôn xiết. Anh đưa tay muốn nắm lấy bàn tay mảnh dẻ của cô, nhưng sực nhớ đây là chốn công quyền đông người thời bao cấp, anh đành kìm lại, chỉ khẽ nghiêng người che bớt làn gió lạnh đầu mùa cho cô gái nhỏ.
An ngước nhìn anh, mỉm cười dịu dàng:
“Là nhờ anh dám đứng mũi chịu sào đấy chứ. Nếu anh không lấy tư cách Đội trưởng và uy tín người lính ra nhận lãnh trách nhiệm, em có vẽ ra trăm cái đề án trên giấy thì người ta cũng gạt đi thôi.”
Hai người nhìn nhau, ánh mắt giao hòa ấm áp. Giữa muôn vàn thiếu thốn của thời cuộc, sự thấu hiểu và đồng lòng giữa họ tựa như một mầm cây vững chãi, cắm sâu rễ vào lòng đất mẹ phù sa.
Thế nhưng, niềm vui thanh thản ấy bỗng bị cắt ngang bởi một giọng nói the thé, lạt xạc vang lên từ phía cổng đình:
“Gớm chưa kìa! Đôi lứa xứng đôi, anh tung em hứng nhịp nhàng cứ như phường chèo ấy nhỉ!”
An và Bình cùng giật mình quay lại. Đứng dựa lưng vào gốc cây gạo cổ thụ trước cổng đình là bà Phó Tươi — cán bộ phụ nữ xã kiêm phụ trách công tác phát triển đoàn thể. Bà ta mặc chiếc áo cánh màu mỡ gà cài cúc lệch, tay cắp chiếc làn mây đựng sổ sách, đôi mắt ti hí đảo qua đảo lại nhìn An từ đầu đến chân với vẻ săm soi cay nghiệt. Đôi môi mỏng quẹt trầu đỏ lòm của bà ta trễ xuống thành một nụ cười nửa miệng đầy mỉa mai.
Bình cau mày, tiến lên một bước chắn trước mặt An, giọng nghiêm nghị:
“Đồng chí Phó Tươi! Ở đây là cơ quan hợp tác xã, đồng chí ăn nói cho có chừng mực.”
Bà Phó Tươi bĩu môi dài cả tấc, bước lại gần, chiếc làn mây đung đưa kẹp chặt bên sườn:
“Tôi nói có gì sai nào đồng chí Đội trưởng? Xã này từ xưa tới nay việc cày cấy, phân chia ruộng đất là việc đại sự của đàn ông, của Ban quản trị và các bô lão. Cô An đây dẫu có học hành dăm ba chữ, nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một đội viên sản xuất bình thường, chưa danh chưa phận gì trong cái đất An Hòa này. Chưa cưới xin về làm dâu nhà họ Trần mà đã lộng quyền, dám đứng giữa đình chỉ trỏ, qua mặt cả các ông đội trưởng lão thành để ôm đồm việc công!”
Bà ta tiến sát lại gần An, ánh mắt lóe lên sự ghen ghét và hằn học không thèm che giấu:
“Cô tưởng cứu được mấy bồ thóc lép với vẽ hươu vẽ vượn mấy cái mụn rễ cây là muốn ngồi lên đầu lên cổ ai cũng được đấy à? Để tôi chống mắt lên xem các người lấy gì nuôi mười lăm mẫu đất bãi sông giữa mùa đông rét mướt! Mà này, cô An cứ liệu hồn đấy. Chiều nay tôi sẽ có ý kiến chính thức trong buổi họp liên tịch đoàn thể. Cái thói tự do cá nhân, chưa cưới đã qua lại dính líu kinh tế mờ ám, lộng ngôn can thiệp việc chung của cô, Hội Phụ nữ chúng tôi sẽ phải xem xét lại thật kỹ về mặt tư tưởng và hạnh kiểm lối sống trước khi Chi bộ Đảng và Ủy ban đặt bút chứng nhận giấy đăng ký kết hôn cho hai người!”
Nói xong một tràng cay độc, bà Phó Tươi ngoúng nguẩy quay gót, xách chiếc làn mây sầm sập bước ra đường cái, để lại sau lưng làn bụi đất mỏng manh bốc lên dưới nắng trưa gay gắt.
An đứng lặng, đôi bàn tay khẽ siết chặt lấy vành nón lá. Cô hiểu rất rõ, trong cơ chế bao cấp ngặt nghèo của những năm tháng này, một lời phê bình về "tác phong lối sống" hay "tư tưởng làm ăn cá thể" từ một cán bộ phụ nữ như bà Phó Tươi có sức công phá ghê gớm đến mức nào. Nó không chỉ đe dọa đến lá đơn xin kết hôn của cô và Bình, mà còn có thể biến những nỗ lực lao động chân chính của Đội 3 thành cái gai trong mắt những kẻ giáo điều, cổ hủ.
Một bàn tay to lớn, ấm áp và chai sạn khẽ đặt lên bờ vai mảnh mai của cô. An quay đầu lại, bắt gặp ánh mắt Bình nhìn cô vững chãi như bàn thạch.
“Đừng sợ, An ạ,” Bình nói, từng lời trầm chắc vang lên bên tai cô như một lời thề non hẹn biển. “Cây ngay không sợ chết đứng. Có anh ở đây, không ai có thể bẻ cong được lẽ phải và hạnh phúc của chúng ta.”
Xa xa nơi đầu làng, tiếng còi xe U-oát của đoàn cán bộ Huyện ủy bắt đầu vọng lại, xé tan không gian tĩnh mịch của buổi trưa muộn bên bờ sông Đáy.