Sương mai tháng Tám âm lịch bảng lảng trôi trên những rặng tre bao quanh xóm trại. Gió sớm đưa hơi nước lành lạnh từ dòng sông Đáy phả vào ngõ xóm, xua đi cái oi nồng sót lại của mùa hè, thấm đẫm mùi phù sa ngai ngái hòa lẫn hương rơm rạ mục sau trận lụt lịch sử.
Hoài An khẽ cựa mình trên chiếc giường tre ọt ẹt. Bàn tay cô bất giác đưa lên mái tóc, chạm vào vật kim loại mát lạnh cài nghiêng nơi bím tóc dày. Những đường chạm khắc hoa mai tỉ mỉ, gồ ghề dưới đầu ngón tay nhắc nhở cô rằng tất cả những gì diễn ra đêm qua bên bến đò Cốc không phải là một giấc chiêm bao. Chiếc kẹp tóc gọt giũa từ mảnh vỏ đạn pháo sáng sông Thạch Hãn vẫn ở đây, tỏa ra một luồng sinh khí ấm áp lạ lùng, xua tan đi cảm giác bơ vơ của một kẻ tha hương trôi dạt từ bốn mươi năm sau trở về.
Dưới bếp, tiếng que củi gãy lách tách cùng mùi khói rạ ngai ngái quen thuộc đã lan tỏa khắp gian nhà. An ngồi dậy, chải lại mái tóc đen nhánh, cẩn thận gài lại chiếc kẹp đồng rồi bước xuống hiên.
Bà Khiêm đang ngồi lom khom bên bếp trấu, chiếc quạt nan phe phẩy nhóm lửa nấu nồi cháo hoa độn khoai lang đỏ. Thấy con gái bước ra, bà ngước đôi mắt kèm nhèm nhìn lên, ánh nhìn thoáng dừng lại trên vật lấp lánh nơi mái tóc An. Khóe môi già nua của bà khẽ mỉm cười ý nhị, nhưng bà không hỏi, chỉ cất giọng hiền từ:
“Dậy rồi đấy hả con? Đêm qua trăng sáng, sương xuống nhiều, u cứ sợ con lại cảm lạnh. Nước nóng u ủ trong ấm tích đấy, múc ra mà rửa mặt cho tỉnh táo.”
“Con phụ u một tay.” An ngồi xuống bên cạnh mẹ, đón lấy chiếc quạt nan.
Cô vừa chụm thêm mấy thanh củi khô vào bếp thì ngoài cổng ngõ rào dâm bụt bỗng vang lên tiếng bước chân quen thuộc. Dù người đi đã cố ý bước thật nhẹ, nhưng nhịp điệu một chân hơi nặng do di chứng vết thương đạn sượt ở chiến trường Tây Nam vẫn không lẫn vào đâu được.
An ngẩng đầu nhìn ra. Trái tim cô bỗng đập rộn lên một nhịp.
Trần Bình bước vào ngõ. Sáng nay, anh không mặc chiếc áo cánh nâu bạc phếch lấm lem bùn đất như mọi bận đi làm đồng. Anh khoác lên mình bộ quân phục Tô Châu màu cỏ úa đã sờn mép cổ nhưng được giặt giũ sạch sẽ, là phẳng phiu bằng chiếc bàn ủi than con gà. Mái tóc cắt cao gọn gàng làm nổi bật khuôn mặt chữ điền cương nghị, sạm màu sương gió. Trên tay anh là một chiếc khay gỗ mộc sơn then đã sứt vài góc, bên trên phủ mảnh vải điều đỏ tươi. Đặt ngay ngắn trên mảnh vải là một cơi trầu têm cánh phượng khéo léo cùng gói chè Ba Đình nhãn giấy xanh – phần thưởng tiêu chuẩn mà Ty Nông nghiệp trao tặng cho anh hôm đón cờ thi đua.
Thấy Bình đàng hoàng đĩnh đạc bước vào sân, bà Khiêm vội buông thanh củi, đứng dậy xoa xoa hai bàn tay vào mép áo cánh, gương mặt lộ rõ vẻ bối rối xen lẫn mừng vui.
Cụ giáo Khiêm trong nhà nghe tiếng động cũng chống chiếc gậy mây bước ra bậu cửa. Căn bệnh ho lao nhờ có nguồn rau xanh đủ chất từ mảnh vườn năm phần trăm và những chén nước thuốc bàng tươi của An đã thuyên giảm nhiều, sắc mặt cụ bớt đi vẻ nhợt nhạt, chỉ còn những cơn húng hắng nhẹ khi trời chuyển gió.
Bình dừng lại trước bậc tam cấp, hạ khay gỗ xuống ngang ngực, đứng nghiêm cẩn cúi đầu chào theo đúng lễ nghi phép tắc của người làng xưa:
“Cháu kính chào thầy, chào u ạ. Cháu mạn phép sang sớm, làm phiền giấc nghỉ của hai cụ.”
Cụ Khiêm nhìn chàng thanh niên đứng trước mặt mình. Ánh mắt cụ lướt qua bộ quân phục chỉnh tề, dừng lại ở cơi trầu têm cánh phượng và gói chè còn nguyên niêm phong, rồi chuyển sang nhìn con gái mình đang e ấp đứng bên bậc cửa. Cụ gật đầu, chòm râu bạc khẽ rung rung, cất giọng trầm ấm:
“Anh Bình đấy à. Khách khí làm gì, mau vào nhà đi con. Sương sớm ngoài trời còn lạnh lắm.”
Gian nhà ba gian đơn sơ bỗng như sáng bừng lên. Nắng sớm rọi qua khe liếp nứa, chiếu những vệt vàng óng ả lên chiếc bàn gỗ mộc mạc đặt giữa nhà. Bình bước vào, cẩn trọng đặt chiếc khay gỗ lên mặt bàn, nơi chiếc điếu bát bằng gốm Thổ Hà đã được lau chùi sạch sẽ.
An khẽ khàng đi ra góc nhà, lấy chiếc ấm tích bọc trong giỏ giăng rơm bổi, rót ra bốn bát nước chè xanh. Nước chè om từ lá chè tươi hái ngoài bờ giậu, xanh trong văn vắt và đặc sánh màu mật ong non, bốc khói nghi ngút, tỏa ra hương thơm chát ngọt làm ấm cả gian phòng.
Cô bưng bát nước chè đầu tiên kính cẩn đặt trước mặt cha, bát thứ hai dâng lên mẹ, rồi mới nhẹ nhàng đặt một bát trước mặt Bình. Khi ngón tay cô lướt qua mép bàn, Bình ngước lên nhìn cô, ánh mắt anh chan chứa sự ấm áp, đầm đầm và vững chãi như núi non, khiến An thoáng đỏ bừng đôi má, vội vã lui về ngồi bên cạnh mẹ mình.
Bình hít một hơi thật sâu, hai bàn tay thô ráp đặt ngay ngắn trên đầu gối. Anh nhìn thẳng vào cụ giáo Khiêm, giọng nói trầm vang, rõ ràng từng lời từng chữ nhưng chứa đựng sự run rẩy xúc động không giấu giếm:
“Thưa thầy, thưa u. Cháu với cô An quen biết nhau từ ngày cô ấy phục viên trở về địa phương, lại cùng công tác trong Đội sản xuất số 3. Qua những ngày tháng cùng bà con lội bùn chống hạn, rồi trận lũ vừa qua cùng nhau hộ đê cứu lúa, cháu càng thấu hiểu nết ăn nết ở, tấm lòng thơm thảo và đức tính kiên trinh của cô ấy. Đêm qua, dưới bóng trăng rằm, cháu đã mạn phép thưa chuyện riêng cùng cô An và được cô ấy mở lòng chấp thuận.”
Bình đứng dậy, hai tay nâng cơi trầu têm cánh phượng lên ngang trán, hướng về phía hai bậc phụ mẫu:
“Hôm nay, cháu mang cơi trầu cay cùng chút hương trà thơm sang đây, trước là kính lễ gia tiên, sau là dập đầu thưa với thầy u. Cháu xin phép hai cụ cho cháu được chính thức đi lại trong gia đình, được nhận gánh vác cùng cô An những nhọc nhằn phía trước, và xin thầy u cho phép chúng cháu tiến tới chuyện trầu cau, làm bạn đời trọn kiếp trọn đời. Cháu là người lính trận trở về, chữ nghĩa không bằng ai, chân tay mang thương tật, nhà cửa lại neo đơn chỉ có mẹ già, nhưng cháu xin lấy danh dự người lính Cụ Hồ và tư cách người Đảng viên ra thề: cả đời này, cháu nguyện đem tấm thân này che chở cho cô An, không để cô ấy phải chịu nửa phần tủi nhục.”
Những lời bộc bạch mộc mạc, chất phác mà nặng tựa thái sơn rơi vào gian nhà tĩnh lặng. Từng giọt sương đọng trên mái rạ khẽ rơi tõm xuống chum nước ngoài sân.
Bà Khiêm không kìm được xúc động, vội kéo vạt áo nâu lên chấm nước mắt nơi khóe mi. Đời người con gái thời loạn lạc, qua bao năm thanh niên xung phong bom đạn dập dồn, nay trở về giữa cảnh đói cơm rách áo, tìm được một người đàn ông trung hậu, gan góc và một lòng một dạ chở che như thế này, bậc làm cha làm mẹ còn mong mỏi gì hơn?
Cụ giáo Khiêm im lặng hồi lâu. Cụ nâng bát nước chè xanh lên, nhấp một ngụm nhỏ, để vị chát đắng đọng lại nơi đầu lưỡi rồi dần chuyển thành vị ngọt hậu sâu lắng nơi cổ họng. Đôi mắt từng trải qua mấy thời kỳ binh lửa của cụ nhìn chăm chú vào Bình, nhìn vào vết sẹo dài kéo từ thái dương xuống gò má và dáng đứng nghiêm trang của người lính.
Cụ đặt bát nước xuống, khẽ thở dài một tiếng, nhưng là tiếng thở dài trút bỏ gánh nặng ngàn cân trong lòng:
“Anh Bình này. Tôi với bà nó ở cái làng An Hòa này từ thuở còn tóc để chỏm. Dòng họ Trần nhà anh bao đời nay sống phúc đức, ăn ở ngay thẳng, làng trên xóm dưới ai cũng trọng. Bản thân anh đi chiến trường, đổ máu vì đất nước trở về, lại vì dân vì xóm Đội 3 mà ngày đêm lăn lộn, tấm lòng ấy trời đất đều soi thấu.”
Cụ Khiêm dừng lại, đưa mắt nhìn lên bàn thờ gia tiên ở gian giữa. Nơi ấy, bên cạnh bát nhang bằng sành thô mộc là một khung ảnh gỗ đã ố màu thời gian. Trong ảnh là một chàng trai trẻ măng, mặc quân phục giải phóng quân, nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời. Đó là anh Hoài Nam – người con trai cả của gia đình, người anh ruột mà An chỉ còn giữ lại ký ức qua những mảnh hồi ức mơ hồ của thân xác này.
Giọng cụ Khiêm bỗng chùng xuống, nghẹn ngào:
“Thằng Nam nhà tôi… nó nhập ngũ năm bảy mốt, vào chiến trường Tây Nguyên đánh trận Đắk Tô – Tân Cảnh rồi hy sinh ở Kon Tum năm bảy hai. Giấy báo tử gửi về làng giữa mùa gặt, mẹ nó ngất lên ngất xuống. Đến nay đất nước thống nhất đã hơn hai năm, mà nắm xương tàn của nó nằm ở cánh rừng nào, ngọn đồi nào nơi chiến Tr**ng X* xôi, vợ chồng tôi vẫn chưa lần nào tìm được…”
Cụ Khiêm ho khù khụ, bờ vai gầy run lên bần bật. An vội bước tới, vòng tay xoa nhẹ lưng cho cha, mắt cô rưng rưng ngấn lệ. Nỗi đau mất người thân thời chiến tranh là vết thương rỉ máu âm ỉ trong lòng biết bao gia đình miền Bắc thời bấy giờ, và nhà cụ Khiêm cũng không ngoại lệ.
Chờ cơn ho dứt, cụ Khiêm ngước nhìn Bình, ánh mắt găm sâu niềm tin cậy tuyệt đối:
“Cái An nó là giọt máu còn lại của tôi. Nó đi thanh niên xung phong gian khổ trở về, tính nết nó lầm lì nhưng thương người, hiểu biết sâu sắc. Nay anh thương nó, muốn cùng nó nên duyên cầm sắt, vợ chồng tôi mừng lắm, không có điều chi ngăn cản. Tôi chỉ có một tâm nguyện này gửi gắm nơi anh… Mai này, cuộc sống có yên ổn hơn, thóc gạo có đủ ăn, nếu có cơ duyên, anh hãy cùng con An đi một chuyến vào rừng núi Kon Tum, dò la đồng đội cũ, tìm kiếm phần mộ thằng Nam đem về quê cha đất tổ cho nó khỏi lạnh lẽo… Được như thế, thân già này dưới suối vàng mới nhắm mắt xuôi tay.”
Bình bước lên một bước, đứng thẳng người trước bàn thờ người liệt sĩ trẻ tuổi. Anh giơ tay lên vành mũ theo điều lệnh quân đội, rồi cúi rạp người trước mặt cụ giáo Khiêm:
“Thưa thầy! Anh Hoài Nam ngã xuống nơi chiến trường là người anh hùng của non sông, cũng là người anh ruột thịt của cháu. Cháu xin hứa trước anh linh anh Nam và trước hai cụ: Ngày nào chưa tìm thấy phần mộ anh đưa về đất mẹ, lòng dạ cháu ngày ấy chưa yên. Đời này kiếp này, cháu xin nguyện làm con của thầy u, gánh vác mọi nhọc nhằn thay anh Nam phụng dưỡng hai cụ đến lúc trăm tuổi già.”
Bà Khiêm khóc nấc lên vì xúc động. An nắm chặt lấy tay mẹ, lòng dâng lên một niềm cảm phục và biết ơn vô hạn đối với người đàn ông trước mặt. Anh không hứa hẹn những điều viển vông, xa hoa; mỗi lời anh thốt ra đều nặng như đinh đóng cột, chạm vào nơi sâu kín và thiêng liêng nhất trong tâm khảm gia đình cô.
Cụ Khiêm run run đỡ Bình đứng dậy, bàn tay gầy gò chai sạn của người thầy giáo già vỗ nhẹ lên bờ vai vạm vỡ của anh:
“Tốt lắm… Tốt lắm con ạ. Uống nước đi con. Bát nước chè xanh hôm nay ngọt lắm.”
Buổi thưa chuyện diễn ra trong không khí đầm ấm, mộc mạc và trang trọng. Cụ Khiêm bảo An lấy trầu cau ra têm thêm để biếu bà cụ Mẫn, rồi giục Bình đưa An về bên nhà ra mắt mẹ anh. Đạo lý làng quê ngàn đời nay vẫn thế: xong bên ngoại thì phải sang bên nội, để người mẹ già nơi căn nhà ba gian bên xóm Đông được tỏ tường niềm vui của con trẻ.
*
Con đường đất đỏ chạy dọc bờ kênh dẫn nước từ xóm Chùa sang xóm Đông rợp bóng những rặng tre ngà. Nắng thu đã lên cao, rải một màu vàng hanh hao, trong trẻo như hổ phách xuống những thửa ruộng vừa cày ải chuẩn bị cho vụ đông.
Bình đi bên cạnh An, cố ý đi chậm lại nửa bước để sánh cùng nhịp chân cô. Chiếc kẹp tóc bằng vỏ đạn pháo sáng trên đầu An thỉnh thoảng lại bắt nắng, lấp lánh sắc vàng ấm áp. Mỗi lần có xã viên đi làm đồng ngang qua cất tiếng chào, Bình đều đĩnh đạc mỉm cười đáp lễ, trong mắt không giấu nổi vẻ hãnh diện, tự hào.
“Anh đi đứng cẩn thận, vết thương ở bắp chân mới lên da non, đừng ráng sức quá,” An khẽ nhắc, giọng nói nhỏ nhẹ chỉ đủ hai người nghe.
Bình quay sang nhìn cô, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng khuôn mặt cương nghị sạm màu sương gió:
“Có em chăm thuốc bữa trước, chân anh khỏi hẳn rồi. Giờ bảo anh vác bao thóc năm mươi cân chạy phăng phăng trên đê cũng được.”
“Khéo lại nói khoác,” An lườm anh một cái sắc lẹm nhưng chan chứa ý cười. “Bác sĩ dặn vết rách cơ ngâm nước bùn lâu ngày phải kiêng mang vác nặng ít nhất một tháng. Chiều nay ra đồng, anh mà đụng vào đòn xóc là em mách u đấy.”
Nghe An tự nhiên xưng “u” ngọt xớt, lồng ngực Bình bỗng trào dâng một cảm giác lâng lâng khó tả. Anh khẽ đưa tay sang, chạm nhẹ vào những ngón tay mềm mại của cô, rồi siết chặt lấy. An hơi giật mình, ngượng ngùng liếc nhìn xung quanh xem có ai trông thấy không, nhưng cô không rút tay về, mặc cho hơi ấm thô ráp, nồng đượm từ bàn tay người lính truyền sang da thịt mình.
Căn nhà ba gian của mẹ con Bình nằm nép dưới bóng mát của rặng nhãn cổ thụ ở cuối xóm Đông. Ngôi nhà lợp mái rạ đã ngả màu xám đen vì sương gió, tường trát đất trộn rơm băm mịn màng, sân gạch đỏ rêu phong được quét tước sạch bong không một cọng rác. Trước sân, vài con gà mái tơ đang cặm cụi bới giun bên gốc mít.Bà cụ Mẫn đang ngồi trên chiếc chõng tre kê dưới bóng râm thềm nhà, cặm cụi dùng chiếc nia rách sảy những hạt thóc lép cuối cùng sót lại sau đợt lũ. Mái tóc bà đã bạc hoa râm quá nửa, vấn gọn gàng trong chiếc khăn nhung đen cũ kỹ. Chiếc áo cánh vá vai đôi chỗ làm lộ ra tấm lưng hơi còng xuống vì bao năm gánh gồng nuôi con.
“U ơi, chúng con về rồi đây ạ,” Bình cất tiếng gọi từ đầu ngõ, giọng nói tràn ngập niềm vui.
Bà cụ Mẫn ngừng tay sảy, ngẩng đầu lên. Nhìn thấy con trai đi cùng An, lại thấy trên tay An xách chiếc giỏ mây đựng trầu cau têm cánh phượng và nải chuối tiêu chín cuống, người mẹ già bỗng chốc hiểu ra tất cả. Đôi bàn tay nhăn nheo, gầy guộc của bà run lên bần bật, bà lập cập đặt chiếc nia xuống chõng, đứng dậy đón hai người.
“Dạ, cháu chào u ạ,” An bước lên thềm, lễ phép cúi đầu.
“Kìa… con An… mau vào đây con, vào đây ngồi cho mát,” bà cụ Mẫn xúc động đến nghẹn lời, vội kéo vạt áo lau vội đôi bàn tay chai sần rồi nắm lấy bàn tay An. Bàn tay người già ấm áp, khô ráp và run rẩy. Bà nhìn An từ đầu đến chân, nhìn đôi mắt sáng thông minh, nhìn gương mặt thanh tú đượm màu nắng gió và chiếc kẹp tóc bằng đồng sáng bóng trên đầu cô, khóe mắt già nua ứa ra hai giọt lệ mừng.
Bình bước vào hiên, đỡ mẹ ngồi xuống chõng tre rồi quỳ một gối xuống bên cạnh bà, cất giọng trầm ấm:
“U à… Sáng nay con đã sang thưa chuyện với thầy u bên nhà. Hai cụ đã bằng lòng cho con và cô An được tìm hiểu, tính chuyện trăm năm. Nay con đưa An về đây, kính thưa với u một lời, mong u tác thành cho chúng con.”
Bà cụ Mẫn nhìn con trai, rồi lại nhìn An. Đã bao nhiêu năm rồi, kể từ ngày Bình trúng tuyển lên đường vào Nam chiến đấu, rồi ngày anh chống gậy tập tễnh trở về với vết thương trên thân thể và nỗi dằn vặt khôn nguôi về những đồng đội nằm lại chiến trường, bà chưa từng thấy mắt con trai mình sáng và tràn đầy sức sống như ngày hôm nay. Bà biết ơn An, không chỉ vì cô là một cô gái nết na, tháo vát, có công cứu vãn cả kho giống của làng, mà quan trọng hơn cả, An chính là ngọn lửa sưởi ấm lại trái tim cằn cỗi, tổn thương của đứa con trai duy nhất của bà.
“Tốt quá… Bồ Tát phù hộ, phúc đức tổ tiên để lại…” Bà cụ Mẫn sụt sịt, đưa tay xoa nhẹ lên mái tóc An. “Thằng Bình nhà u nó thô kệch, tính nết lại ít nói, chỉ biết hùng hục làm lụng. Con về làm dâu nhà này, cùng nó gánh vác, u mừng không kể xiết. Nhà mình nghèo, chẳng có mâm cao cỗ đầy, chỉ có tấm lòng thơm thảo của mẹ con u thôi con ạ.”
“U đừng nói vậy,” An ngồi xuống bên cạnh bà cụ, nhẹ nhàng nắm lấy đôi bàn tay nhăn nheo ấy. “Anh Bình là người đàn ông cương trực, trượng nghĩa, có trách nhiệm nhất mà con từng gặp. Được về làm con của u, cùng anh ấy san sẻ ngọt bùi, đó là phúc phần của con.”
Bà cụ Mẫn gật đầu lia lịa, nước mắt lăn dài trên những nếp nhăn đuôi mắt. Bà đứng dậy, bảo An ngồi đợi rồi run rẩy bước vào gian buồng trong tăm tối. Một lát sau, bà quay trở ra, hai tay cẩn trọng nâng niu một chiếc hộp sắt tây đựng bánh quy Liên Xô đã rỉ sét bốn góc.
Bà mở nắp hộp, bên trong lót một mảnh lụa điều đã phai màu. Dưới lớp lụa là một chiếc vòng tay bằng bạc sáng lấp lánh, chạm khắc hoa văn hoa chanh chìm tinh xảo theo lối cổ truyền.
“Cái này… là kỷ vật của bà ngoại thằng Bình để lại cho u ngày u về làm dâu họ Trần,” bà cụ Mẫn cất giọng run run, nâng chiếc vòng bạc lên. “Mấy năm đói kém, giáp hạt triền miên, rồi những năm giặc Mỹ ném bom ác liệt, u dù có phải nhịn ăn nhịn mặc cũng quyết giữ lại chiếc vòng này, để dành ngày thằng Bình đón dâu mới đem ra trao lại. Hôm nay, u trao chiếc vòng này cho con. Từ nay con chính thức là con dâu nhà này, là dâu họ Trần, con nhé…”
An xúc động nhìn chiếc vòng bạc hoa xòe cổ kính. Trong thời buổi bao cấp ngặt nghèo này, một chiếc vòng bạc gia truyền quý giá hơn bất cứ thứ tài sản nào. Nó không chỉ là giá trị vật chất tích cóp qua mấy thế hệ, mà còn là sự thừa nhận danh phận, là tình mẫu tử thiêng liêng mà người mẹ dành trọn cho cô.
An đưa cổ tay ra, để bà cụ Mẫn run run lồng chiếc vòng bạc vào. Vòng bạc chạm vào da thịt man mát, vừa vặn như in.
“Con đội ơn u. Con xin hứa sẽ giữ gìn chiếc vòng này thật cẩn thận, làm tròn bổn phận dâu hiền, cùng anh Bình phụng dưỡng u chu đáo.”
Bình ngồi bên cạnh, nhìn mẹ và An quấn quýt bên nhau, lồng ngực anh như vỡ òa trong niềm hạnh phúc ngập tràn. Nỗi mặc cảm về thương tật, về cảnh nhà neo đơn bấy lâu nay hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho một quyết tâm mãnh liệt: anh phải dựng xây mái ấm này thật vững chãi, phải biến mảnh đất cằn cỗi này thành nơi no ấm cho mẹ và người phụ nữ anh yêu.
*
Đến trưa, sau khi bà cụ Mẫn vào bếp nấu nồi canh rau tập tàng nấu với chút tóp mỡ dự trữ để thết đãi con dâu tương lai, Bình và An dắt nhau ra mé bờ hiên nhìn ra mảnh vườn năm phần trăm và dải bãi bồi ven sông Đáy phía xa xa.
Gió thu thổi lồng lộng qua ngọn rặng nhãn. Dòng sông Đáy sau trận lũ lớn đã rút nước về lòng mẹ, để lại một dải bãi bồi bãi Soi rộng hơn mười lăm mẫu phù sa đỏ au, phì nhiêu và hoang sơ trải dài tít tắp.
Bình chống hai tay lên bờ giậu nứa, ánh mắt xa xăm nhìn về dải đất bãi bồi, lông mày anh khẽ nhíu lại trong sự trăn trở:
“An này, sáng nay lúc đi qua trụ sở hợp tác, anh nghe mấy ông bên Đội 1 và Đội 2 bàn tán chuyện vụ đông. Huyện vừa có chỉ thị giao chỉ tiêu gieo trồng cây màu vụ đông năm nay tăng ba mươi phần trăm so với năm ngoái để bù vào phần diện tích lúa mùa bị ngập lụt. Nhưng các đội đều bàn lùi. Họ sợ sương muối, sợ rét hại đầu mùa làm chết cây non, lại thêm vụ trước thiếu giống nên muốn xin huyện cho bỏ hoang toàn bộ mười lăm mẫu đất bãi Soi, chỉ tập trung làm mấy mẫu ruộng màu trong đồng thôi.”
An nghe vậy, ánh mắt bỗng sáng rực lên. Là một kỹ sư công nghệ sinh học và chế biến nông sản, cô hiểu rõ hơn ai hết giá trị vô giá của dải đất phù sa sau lũ.
“Bỏ hoang bãi Soi ư? Thế thì lãng phí quá anh ạ!” An bước lại gần Bình, hào hứng phân tích: “Anh nhìn xem, lớp phù sa sông Đáy sau trận lũ đọng lại dày đến gang tay. Đất phù sa mới này cực kỳ giàu kali, phốt pho và các khoáng chất tự nhiên, tơi xốp vô cùng, giữ ẩm cực tốt. Nếu bỏ hoang để cỏ dại mọc lút đầu gối qua mùa đông thì đất sẽ bị chai cứng, cỏ dại hút hết dinh dưỡng.”
Bình quay sang nhìn cô, trong mắt lộ rõ vẻ thán phục nhưng vẫn còn chút băn khoăn thực tế:
“Anh cũng xót ruột lắm chứ. Đất tốt như thế mà không cấy trồng thì có tội với trời đất. Nhưng bà con mình ngại cái rét Nàng Bân đến sớm, rét đậm rét hại thì cây ngô non táp lá hết. Chưa kể, giống ngô phục vụ vụ đông giờ đào đâu ra số lượng lớn như thế?”
An mỉm cười, đôi mắt lấp lánh sự tự tin của một nhà khoa học:
“Về giống, anh quên là đợt lũ vừa rồi Đội 3 chúng ta đã cứu sấy thành công hơn ba tấn ngô giống lai ở lò gạch cũ sao? Em đã kiểm tra tỷ lệ nảy mầm hôm qua rồi, phôi mầm còn nguyên vẹn, sức nảy mầm đạt trên chín mươi phần trăm! Số ngô giống ấy thừa sức phủ kín mười lăm mẫu bãi Soi. Còn về sương muối và giá rét…”
An ngắt một nhánh cỏ may bên bờ hiên, dùng cọng cỏ vạch những đường thẳng song song lên nền đất ẩm trước mặt hai người:
“Em tính thế này anh xem có thuận không nhé. Ta sẽ không trồng ngô đơn thuần theo lối cũ bấy lâu nay. Ta sẽ áp dụng mô hình xen canh ngô hạt với đậu tương vụ đông!”
“Xen canh ngô với đậu tương?” Bình chăm chú nhìn những đường vạch của An, ánh mắt lộ vẻ tò mò.
“Đúng vậy anh,” An kiên nhẫn giải thích, khéo léo dùng những thuật ngữ dân dã để che giấu nguyên lý vi sinh học cố định đạm hiện đại. “Cây đậu tương là loại cây họ đậu, dưới rễ của nó có những nốt sần đặc biệt. Người xưa hay gọi là 'mụn rễ', thực chất những mụn rễ ấy biết 'hút khí trời' để biến thành chất màu nuôi đất, gọi là chất đạm tự nhiên. Ta gieo ngô theo luống đôi, khoảng cách giữa hai hàng ngô sẽ trồng xen một luống đậu tương. Đậu tương lớn nhanh, lá xòe rộng sẽ che phủ mặt đất, giữ ẩm cho đất không bị bốc hơi trong những ngày hanh heo, đồng thời rễ đậu nhả màu nuôi cây ngô. Khi mùa đông sương muối ập xuống, thảm lá đậu tương sẽ bảo vệ cổ rễ ngô không bị buốt lạnh!”
Bình sững sờ. Đôi mắt người lính mở to, nhìn chằm chằm vào mô hình luống đôi luống đơn mà An vừa phác thảo trên nền đất. Là một người nông dân gắn bó với ruộng đồng từ thuở nhỏ, lại trải qua bao năm làm Đội trưởng sản xuất, anh nhạy bén nhận ra ngay tính khả thi và sự ưu việt phi thường của phương pháp này.
“Nghĩa là… ta vừa thu được ngô hạt, lại vừa thu được đậu tương, mà đất bãi bồi lại không bị bạc màu, không cần tốn một cân phân hóa học nào của nhà nước?” Bình thốt lên, giọng run run vì phấn khích.
“Không những thế,” An tiếp lời, nụ cười càng thêm rạng rỡ. “Thân cây đậu tương và lá ngô già sau khi thu hoạch sẽ là nguồn thức ăn thô xanh tuyệt vời để ủ ấm cho đàn trâu bò của hợp tác trong những ngày đông giá rét, hoặc đem ủ kỵ khí làm phân hữu cơ cho vụ chiêm xuân năm sau. Một công mà ba bốn việc lợi!”
Bình nhìn An, cảm giác khâm phục trong lòng anh trào dâng mãnh liệt. Người con gái mảnh mai đứng trước mặt anh dường như chứa đựng cả một kho tàng tri thức vô tận. Cô không chỉ là người bạn đời dịu hiền mà anh hằng ao ước, mà còn là một vì sao dẫn đường, thắp lên hy vọng cho cả Đội sản xuất số 3 giữa những năm tháng cơ cực, thiếu thốn này.
“Hay lắm! Tuyệt vời lắm An ạ!” Bình phấn chấn nắm chặt lấy bả vai cô. “Đội 3 chúng ta có hơn bốn mươi lao động khỏe mạnh. Nếu ta vận động xã viên, lấy công điểm thỏa đáng và chia diện tích chăm sóc theo từng tổ đổi công, chắc chắn bà con sẽ đồng lòng làm theo. Chiều nay trong cuộc họp Ban quản trị, anh sẽ mang đề án này ra bảo vệ trước Chủ nhiệm Khoát!”
Hai người nhìn nhau, ánh mắt giao hòa giữa tình yêu lứa đôi nồng thượm và lý tưởng chung cao đẹp. Họ đang cùng nhau vạch ra một con đường mới, một lối thoát thực sự khỏi cái đói dai dẳng của cơ chế bao cấp xơ cứng.
Thế nhưng, niềm vui vừa chớm nở thì bỗng nhiên, từ ngoài đường liên thôn vang lên tiếng chuông xe đạp bấm dồn dập, gấp gáp như báo động:
“Reng… reng… reng! Kính coong… kính coong!”
Tiếng phanh xe sít sàn sạt trên con đường rải đá dăm, kéo theo tiếng thở hồng hộc. An và Bình cùng giật mình quay phắt ra cổng ngõ.
Chiếc xe đạp Phượng Hoàng màu cánh chả cũ kỹ quẹo gấp vào sân, bánh sau trượt một vệt dài làm bụi đất bay mù mịt. Người ngồi trên xe không phải ai khác, chính là Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát!
Ông Khoát mặc chiếc áo sơ mi bốn túi cộc tay ướt đẫm mồ hôi sau lưng, chiếc bút máy Kim Tinh cài trên túi áo lắc lư chực rơi. Khuôn mặt tròn trĩnh của ông đỏ gay gắt, trán bóng nhẫy mồ hôi, hai mắt mở to đầy vẻ hốt hoảng. Ông thậm chí còn chưa kịp dựng chân chống xe, cứ thế vứt chiếc xe đạp tựa vào gốc mít rồi thở không ra hơi, vừa hổn hển vừa gọi to:
“Đồng chí Bình! Cô An! Có nhà không? Nguy to rồi… gay go to chuyện rồi!”
Bình vội bước nhanh xuống sân, đỡ lấy tay vị Chủ nhiệm:
“Báo cáo Chủ nhiệm, có chuyện gì mà chú vội vã thế ạ? Mời chú lên hiên uống bát nước chè đã.”
“Nước non gì lúc này nữa!” Ông Khoát xua tay lia lịa, rút chiếc khăn mùi xoa cáu bẩn ra lau mồ hôi trán, giọng lạc hẳn đi vì gấp gáp: “Huyện ủy vừa đánh điện khẩn về ban nãy! Chiều nay, đúng một giờ ba mươi, đồng chí Bí thư Huyện ủy và Trưởng phòng Nông nghiệp huyện sẽ đích thân về xã ta kiểm tra và bắt toàn xã phải nộp báo cáo phương án sản xuất vụ đông ngay lập tức! Trong khi đó, các ông Đội trưởng Đội 1 và Đội 2 đang làm ầm ĩ lên ở trụ sở ủy ban, họ kiên quyết đòi ký biên bản bỏ hoang toàn bộ mười lăm mẫu bãi Soi vì sợ rét hại mất giống! Họ bảo nếu xã ép làm bãi bồi, thất thu thì Ban quản trị phải chịu trách nhiệm trước pháp luật! Các ông ấy đang kéo xã viên lên gây sức ép với tôi kia kìa!”