Cơn lũ dữ đầu tháng Tám cuồn cuộn đổ về từ thượng nguồn cuối cùng cũng chịu rút lui, trả lại cho dòng sông Đáy vẻ hiền hòa muôn thuở. Nước rút đến đâu, lớp phù sa đỏ quạch, mịn màng và màu mỡ đọng lại đến đó, phủ lên những triền bãi ven sông một tấm thảm phù sa dày dặn, nồng nặc mùi bùn non và ngai ngái hương cỏ dại hồi sinh.
Trên bãi Soi, dấu tích của những ngày vật lộn sinh tử với thần lũ vẫn còn hằn rõ trên thân những gốc dâu, bụi chuối rạp mình. Nhưng không khí ảm đạm, thắt ruột thắt gan của những ngày trước đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho sự hối hả, rộn rã của một vụ gieo cấy mới. Kỳ tích cứu vãn hơn ba tấn ngô giống lai và gần ba tấn sắn lát khô từ lòng chiếc lò gạch cũ không chỉ cứu Đội sản xuất số 3 thoát khỏi một phen tán gia bại sản, mà còn chấn động đến tận cơ quan đầu não của huyện Chương Mỹ.
Hai ngày sau cơn lũ, đích thân đồng chí Phó bí thư Huyện ủy cùng cán bộ Ty Nông nghiệp tỉnh Hà Sơn Bình đã đạp xe cuốc vượt gần hai chục cây số đường đất lầy lội về tận thôn An Hòa. Giữa sân kho hợp tác xã, trước sự chứng kiến của đông đảo bà con xã viên đang đứng chật ních, lá cờ thi đua đỏ thắm cùng giấy khen của Ủy ban Hành chính huyện đã được trang trọng trao cho Đội sản xuất số 3. Bản thân Hoài An và Trần Bình còn được huyện đặc cách biểu dương bằng một phần thưởng vô cùng thiết thực giữa thời buổi thắt lưng buộc bụng: mỗi người được cấp thêm tiêu chuẩn mua một sấp vải thô Nam Định sáu mét cùng hai tút thuốc lá Tam Đảo dành cho thương binh phục viên.
Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát mấy ngày nay nở mày nở mặt. Đi đâu ông cũng kẹp khư khư chiếc bút máy Kim Tinh nơi ngực áo, giọng sang sảng nhắc đến “tinh thần chủ động, sáng tạo của cơ sở” và “sáng kiến kỹ thuật lò sấy đối lưu nhiệt tận dụng phế liệu”. Sự nghi kỵ, lạnh nhạt ban đầu của ông đối với An dường như đã tạm thời lắng xuống, thay vào đó là sự nể trọng lộ rõ mỗi khi giáp mặt cô kỹ sư trẻ tuổi đội lốt cô thanh niên xung phong phục viên.
Thế nhưng, đối với Hoài An, những lời tán dương hay tấm giấy khen lồng khung kính kia không làm cô bận lòng bằng việc chăm sóc vết thương cho Bình. Nhờ được sát trùng cẩn thận bằng cồn i-ốt pha loãng cùng bột sulfamid rắc kịp thời, vết rách sâu hoắm ở bắp chân anh không hề có dấu hiệu mưng mủ hay hoại tử. Sau hơn một tuần được cô rửa vết thương và thay băng hằng ngày, miệng vết thương đã bắt đầu kéo da non, chỉ còn lại một vệt sẹo dài đỏ ửng bên cạnh vết sẹo cũ thời chiến trường. Anh đã bỏ được chiếc gậy tre, bước đi tuy vẫn còn hơi gượng nhưng nét mặt đã rạng rỡ, hồng hào trở lại.
Thời gian thấm thoắt trôi, tiết trời miền Bắc chuyển mình sang thu lúc nào không hay. Không khí oi nồng, ngột ngạt của mùa hạ bị xua tan bởi những đợt gió heo may nhè nhẹ mang theo hơi sương lành lạnh từ mặt sông thổi vào.
Đêm nay là rằm tháng Tám.
Tết Trung thu năm 1977 ở làng quê Bắc Bộ đạm bạc đến xót xa nhưng lại đượm một vẻ thanh bình, ấm cúng lạ kỳ. Không có đèn lồng điện tử sặc sỡ, không có những hộp bánh nướng bánh dẻo ngũ vị bọc giấy bóng kính sang trọng như ở thế kỷ hai mươi mốt mà An từng biết. Lũ trẻ con trong xóm Đồi chỉ có những chiếc đèn ông sao vụng về vót bằng nan nứa dán giấy bản nhuộm phẩm đỏ, hoặc độc đáo hơn là những chiếc đèn kéo quân làm từ vỏ lon sữa đặc bò đực đục lỗ li ti, bên trong cắm một mẩu nến hạt đỗ.
Từ chập tối, tiếng trống ếch bập bùng cắc tùng cắc xen lẫn tiếng cười giòn tan của con trẻ đã vang vọng khắp đường dong ngõ xóm. Mâm cỗ trông trăng của các gia đình chỉ đơn sơ vài múi bưởi đào rôn rốt chua, đĩa hồng ngâm giòn ngọt hái từ cây đầu ngõ và mấy phong kẹo dồi, kẹo lạc mua bằng phiếu phân phối của hợp tác xã.
Cụ giáo Khiêm ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc kê ngoài hiên, nhấp một ngụm trà xanh bốc khói nghi ngút, mắt nhìn theo bóng trăng đang từ từ nhô lên khỏi rặng tre xóm Đoài. Ông khẽ ho một tiếng, quay sang nhìn cô con gái thứ hai đang cặm cụi ngồi khâu lại đường chỉ chiếc áo bà ba màu cỏ úa dưới ánh đèn dầu.
“An này,” cụ Khiêm cất giọng trầm ấm, đôi mắt sau cặp kính lão dày cộp ánh lên nét hiền từ. “Ban nãy u mày bảo anh Bình bên Đội 3 có ghé qua gửi biếu thầy nải chuối ngự với dăm quả bưởi bãi. Thầy thấy anh ấy ngập ngừng đứng ngoài cổng mãi, hỏi han bâng quơ vài câu rồi dặn bảo tối nay trăng sáng, nếu con rỗi thì ra ngoài bến đò hóng gió một lát.”
Đôi tay đang thoăn thoắt đưa kim của An bỗng khựng lại. Một thoáng bối rối vụt qua gò má hơi rám nắng của cô, làm ửng lên sắc hồng phơn phớt dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hỏa. Cô khẽ cắn môi, giấu đi nụ cười mỉm đang chớm nở:
“Thầy... anh ấy sang lúc nào thế ạ? Con ở dưới bếp nấu nước lá xông cho u nên chẳng hay.”
Cụ Khiêm mỉm cười, nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại đầy vẻ bao dung và từng trải của một người cha đã đi qua gần trọn một đời giông bão:
“Lúc chập choạng tối. Cái thằng nom cục mịch, ít nói thế mà chu đáo, có trước có sau. Đợt bão lũ vừa rồi, nếu không có nó đứng mũi chịu sào bảo lãnh, lại thêm con hiểu biết việc đồng áng cứu kho thóc, thì cả làng này phen này khốn đốn. Đi đi con, giặt giũ vá víu cả ngày rồi, ra ngoài hít thở chút khí trời cho khuây khỏa. Đừng để người ta đợi lâu dưới sương lạnh.”
Lời thúc giục kín đáo của người cha khiến trái tim An khẽ rung lên những nhịp đập xốn xang. Cô buông chiếc áo xuống rổ khâu, dạ khẽ một tiếng rồi đứng dậy đi vào buồng trong.
Đứng trước tấm gương tròn nhỏ bằng bàn tay đã bị ố thủy ngân ở góc chạn, An lặng lẽ ngắm nhìn mình. Thân xác hai mươi hai tuổi này mang một nét đẹp mộc mạc, khỏe khoắn của người con gái lao động: đôi mắt hai mí đen lánh sáng ngời tri thức, sống mũi thon gọn và mái tóc đen nhánh, dày dặn buông dài quá thắt lưng. Cô với chiếc lược bí chải lại mái tóc cho mượt mà, cẩn thận tết thành một bím lệch vắt qua vai, rồi thay chiếc áo sơ mi cộc tay bằng vải thô màu xanh công nhân đã được giặt sạch sẽ, phẳng phiu.
Bước chân An nhẹ tênh trên con đường mòn quen thuộc dẫn ra triền đê sông Đáy.
Đêm rằm, vầng trăng tròn vành vạnh như một chiếc đĩa bạc khổng lồ treo lơ lửng giữa nền trời đêm trong vắt không một gợn mây. Ánh trăng mùa thu sáng đến độ dường như có thể nhặt được từng cây kim rơi trên cỏ. Cả triền đê trải dài ngút tầm mắt ngập tràn trong ánh sáng bàng bạc, lung linh như dát ngọc. Gió thu từ lòng sông Đáy thổi lên lồng lộng, mang theo hơi nước mát rượi và hương thơm thanh khiết của hoa sen tàn cuối mùa quyện với mùi cỏ mật, xua tan đi tất cả những nhọc nhằn, bức bối của những ngày lao động cật lực trên đồng bãi.
Xa xa dưới chân đê, bến đò Cốc cũ kỹ nằm im lìm dưới bóng những rặng phi lao cao vút. Cây đa cổ thụ bên bến đò buông những chùm rễ phụ dài thòng lọng đung đưa theo từng cơn gió thoảng, bóng đổ dài ngoẵng trên mặt đất loang lổ ánh trăng.
Từ đằng xa, An đã nhận ra bóng dáng quen thuộc của Trần Bình.
Anh đang ngồi trên một tảng đá xanh nhẵn thín bên mép nước, nơi người ta vẫn thường dùng để neo dây buộc đò. Dáng người cao lớn, vạm vỡ của người lính in đậm trên nền nước lấp lánh ánh trăng. Anh mặc chiếc áo sơ mi bộ đội bạc màu đã sờn mép cổ, hai ống tay áo xắn cao để lộ đôi cánh tay rắn chắc cuồn cuộn gân guốc. Anh ngồi bất động, đôi mắt trầm ngâm dõi nhìn theo những dòng xoáy lững lờ của con nước đêm, chiếc bóng đổ dài xuống triền cát mịn.
Tiếng bước chân giẫm lên lớp lá phi lao khô lạo xạo khẽ khàng báo hiệu. Bình giật mình quay ngoắt lại. Khi nhìn thấy bóng dáng mảnh dẻo của An đang bước xuống dốc đê, ánh mắt cương nghị của người đàn ông từng vào sinh ra tử nơi chiến trường bỗng chốc trở nên luống cuống, lúng túng như một cậu thiếu niên mới lớn.
Anh vội vã đứng bật dậy, chiếc chân bị thương khẽ nhói lên một nhịp khiến người anh hơi nghiêng đi, nhưng anh nhanh chóng đứng thẳng lại, hai bàn tay chùi vội vào ống quần bộ đội một cách vô thức.
“An... em... em ra rồi đấy à?” Bình cất giọng, âm thanh khàn khàn, trầm ấm nhưng ngập ngừng đến lạ lùng. Cách xưng hô “em” vốn chỉ buột miệng thốt ra trong đêm sốt mê man bên lò gạch, nay được anh chủ động gọi giữa không gian thanh vắng bỗng mang một sức nặng ngàn cân, khiến không gian xung quanh dường như ngừng đọng lại.
An bước tới gần, dừng lại cách anh chừng hai bước chân. Đứng dưới bóng trăng rằm, nhìn thấy vẻ lúng túng hiếm hoi của người đội trưởng sản xuất vốn nổi tiếng là gan góc, quả quyết trước hàng trăm xã viên, trong lòng cô dâng lên một niềm thương cảm và ngọt ngào khó tả.
“Vết thương ở bắp chân anh còn đau không mà lại đứng phơi gió đêm thế này?” An khẽ hỏi, ánh mắt dừng lại nơi gấu quần anh, giọng trách móc nhưng chứa chan sự quan tâm dịu dàng. “Chiều nay u bảo anh sang nhà gửi bưởi, sao không vào chơi mà lại đứng ngoài ngõ?”
Bình gãi đầu, một nụ cười hiền lành, chất phác nở trên khuôn mặt sạm đen sương gió. Dưới ánh trăng, hàm răng trắng đều của anh ánh lên vẻ khỏe khoắn, đôn hậu:
“Chân anh khỏi hẳn rồi, chỉ còn hơi ngứa chỗ lên da non thôi. Thuốc của em tốt thật đấy... Chiều nay anh thấy cụ giáo đang dở tay chấm bài cho lớp bình dân học vụ, lại thấy em đang bận dưới bếp nên anh không dám vào làm phiền. Với lại... với lại anh muốn...”
Anh ấp úng, câu nói bị ngắt quãng giữa chừng. Gió đêm lại thổi qua rặng phi lao, tạo nên những tiếng vi vu, rì rào như tiếng đàn tranh giữa đồng vắng.
“Anh muốn hẹn riêng em ra đây có phải không?” An mỉm cười, đôi mắt lấp lánh phản chiếu ánh trăng nhìn thẳng vào mắt anh. Cô không muốn người đàn ông thật thà này phải khổ sở tìm cớ thêm nữa.
Bình nhìn sâu vào đôi mắt trong veo, thông tuệ của An. Trước sự thẳng thắn nhưng đầy ý nhị ấy, sự e dè ban đầu trong anh dần tan biến, nhường chỗ cho sự chân thành, mộc mạc vốn là bản chất của người lính. Anh khẽ gật đầu, bước lại gần tảng đá xanh, đưa bàn tay to bản phủi sạch lớp cát mỏng rồi chỉ nhẹ:
“Em ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân. Đứng mãi sương đêm ngấm lạnh đấy.”
An ngoan ngoãn ngồi xuống mép đá. Bình không ngồi cạnh mà chọn một mỏm đá thấp hơn ở phía trước, nửa như ngồi, nửa như che chắn cho cô khỏi hướng gió thốc từ mặt sông lên. Vóc dáng cao lớn, vững chãi của anh như một bức tường thành kiên cố, mang lại cho cô cảm giác an toàn tuyệt đối – điều mà từ khi đặt chân đến thời đại thiếu thốn, kham khổ này, cô chưa từng cảm nhận được ở bất kỳ ai.
Hai người ngồi lặng yên bên nhau một hồi lâu. Không ai lên tiếng phá vỡ sự tĩnh mị tuyệt đối của đêm trăng. Dưới chân họ, dòng sông Đáy êm ả vỗ những con sóng nhỏ lăn tăn vào bờ cát, phát ra những tiếng bì bõm thì thầm. Phía bên kia sông, bãi ngô non mới gieo sau lũ đã bắt đầu nhú những mầm xanh tơ, vươn mình trong ánh trăng thu mát rượi.
“An này...” Bình bỗng lên tiếng, mắt vẫn nhìn ra xa xăm phía dòng sông bạc. “Nhiều lúc anh cứ ngỡ tất cả những chuyện vừa qua như một giấc chiêm bao.”
“Sao anh lại nghĩ thế?” An khẽ nghiêng đầu hỏi.
“Ngày anh từ chiến trường miền Tây Nam trở về, chân mang thương tật, đơn vị giải ngũ, anh chỉ nghĩ đời mình thế là hết những ngày xông pha. Về làng, nhìn mẹ già còng lưng bên cối xay, nhìn bà con Đội 3 bữa đói bữa no, hạt thóc củ sắn chia nhau từng lạng mà lòng anh thắt lại. Anh nhận chức Đội trưởng, cố hết sức làm việc, cày bừa thâu đêm suốt sáng để kiếm công điểm nuôi mẹ, nhưng nhiều đêm nằm nghe tiếng bụng đói của lũ trẻ con trong xóm khóc, anh thấy mình bất lực quá.”
Giọng Bình chùng xuống, chất chứa những trăn trở, dằn vặt của một người đàn ông luôn gánh trên vai trách nhiệm với gia đình và xóm làng:“Anh từng nghĩ, cuộc đời mình cứ thế trôi đi trong lặng lẽ, cùng lắm là gom góp công điểm, cày cuốc đến khi già yếu. Cho đến khi... cho đến khi em trở về làng, rồi những chuyện xảy ra ở kho giống, ở hố phân bèo bồng mảnh đất năm phần trăm, và trận lũ vừa rồi...”
Bình quay người lại, ngước nhìn An. Ánh mắt anh lúc này nồng nàn, cháy bỏng và kiên định hơn bao giờ hết:
“Em thông minh, hiểu biết rộng rãi, cái gì cũng rành rẽ. Đứng trước em, đôi lúc anh thấy mình thô thiển, vụng về, chẳng có chữ nghĩa gì nhiều ngoài mấy năm cầm súng đánh giặc và mấy ngón nghề cày bừa thô kệch. Nhưng An à, những ngày cùng em lăn lộn ở bãi Soi, nhìn em thức trắng đêm bên lò sấy, mặt lem luốc tro than mà mắt vẫn sáng ngời... anh nhận ra một điều.”
Anh hít một hơi thật sâu, lồng ngực vạm vỡ phập phồng:
“Anh không thể để mất em được. Cả đời này, anh muốn được ở bên cạnh, che chở cho em.”
Trái tim Hoài An thắt lại, rồi đập rộn ràng như có đàn bướm bay lượn trong lồng ngực. Là một nữ kỹ sư ở thế kỷ hai mươi mốt từng dành trọn tuổi thanh xuân trong phòng thí nghiệm và những trang giáo trình khô khan, cô chưa từng trải qua một mối tình nào sâu sắc. Khi bất ngờ xuyên không về thân xác cô gái nghèo khổ thời bao cấp, đối mặt với cái đói, sự nghi kỵ tư tưởng và cơ chế gò bó, cô đã tự dựng lên quanh mình một bức tường phòng thủ kiên cố. Cô chỉ tâm niệm dùng kiến thức khoa học để sinh tồn, để không bị dòng đời vùi dập.
Thế nhưng, sự chân thành, mộc mạc và chở che đầy trách nhiệm của người lính này đã từng bước, từng bước phá vỡ lớp vỏ bọc lạnh lùng ấy. Từ cái cách anh lao xuống dòng nước lũ cứu đê, việc anh đem cả một nghìn hai trăm công điểm mồ hôi nước mắt ra bảo lãnh cho cô, cho đến cái dáng ngồi chắn gió cho cô đêm nay... tất cả đều chân thật, ấm áp đến mức khiến sống mũi cô cay cay.
Bình khẽ cử động. Bàn tay to lớn, thô ráp đầy những vết chai sần vì cầm súng và cầm cày của anh run run thò vào túi ngực chiếc áo bộ đội. Anh cẩn thận rút ra một gói nhỏ được bọc kỹ càng bằng một mảnh vải dù hoa pháo sáng màu trắng ngà – chính là mảnh vải dù anh từng dùng để buộc vết thương cho cô bên bờ đê hôm nào.
Những ngón tay vụng về của người lính mở từng lớp nếp gấp của mảnh vải dù.
Dưới ánh trăng rằm vằng vặc, một vật thể bằng kim loại ánh lên sắc vàng thau rực rỡ, lấp lánh như một tia sáng ấm áp hiện ra trước mắt An.
Đó là một chiếc kẹp tóc.
Nhưng nó không phải là loại kẹp tóc bằng nhựa rẻ tiền hay kẹp ba lá sắt mạ kền thường bán ở cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Chiếc kẹp được gò giũa tỉ mỉ từ vỏ đồng của một viên đạn pháo sáng chiến trường. Thân kẹp thon dài, uốn lượn mềm mại hình một chiếc lá tre cách điệu. Bề mặt đồng được mài nhẵn thín, bóng loáng đến mức có thể soi gương được, không còn một chút tì vết xù xì hay gỉ sét nào của khói lửa chiến tranh. Ở phần đầu chiếc kẹp, một bông hoa mai năm cánh nhỏ nhắn được chạm khắc nổi bằng những đường đục tinh xảo, từng cánh hoa uốn cong nhẹ nhàng, sống động như thật.
An sững sờ nhìn chiếc kẹp tóc trong lòng bàn tay anh. Một sự chấn động mạnh mẽ chạy dọc sống lưng cô. Để mài giũa được một miếng đồng đạn pháo dày cộp, cứng như đá thành một chiếc kẹp tóc thanh mảnh, tinh tế và bóng loáng nhường này bằng những công cụ thô sơ nơi thôn quê, người làm ra nó phải bỏ ra biết bao nhiêu công sức, bao nhiêu đêm thức trắng, kiên nhẫn mài từng mi-li-mét trên đá mài và giấy ráp?
“Cái này...” Bình ngập ngừng, đưa hai bàn tay nâng chiếc kẹp tóc lên trước mặt cô, giọng run run vì xúc động. “Hồi ở chiến trường Quảng Trị năm bảy hai, đơn vị anh đóng quân bên bờ sông Thạch Hãn. Sau một trận pháo sáng của địch, anh nhặt được vỏ quả đạn này, giữ mãi trong ba lô như một kỷ vật sống sót qua làn mưa bom bão đạn. Mấy tháng nay... những đêm đi tuần tra gác kho hợp tác xã, anh ngồi bên ngọn đèn dầu, lấy đá mài dao gọt giũa từng chút một...”
Anh ngước nhìn cô, trong mắt chứa chan một nỗi âu lo xen lẫn niềm hy vọng tha thiết:
“Anh vụng về, làm mãi mới được thế này. Anh biết thời buổi này khó khăn, người ta cưới xin hay tặng nhau chậu thau men, phích nước Rạng Đông hay vải vóc quý giá. Anh... anh nghèo lắm, chỉ có mấy sào ruộng khoán với mấy trăm công điểm, chẳng có đồ đạc gì sang trọng để tặng em. Anh chỉ có chiếc kẹp tóc làm từ vỏ đạn này... Viên đạn này từng mang lại ánh sáng xé toạc màn đêm chiến tranh cứu sống đồng đội anh, nay anh mài nó thành hình chiếc lá, mong nó mang lại bình yên cho em.”
Bình dừng lại một nhịp, nuốt khan một ngụm nước bọt, giọng anh trầm xuống, chân thành đến tận đáy lòng:
“Anh không dám hứa sẽ cho em một cuộc sống giàu sang, nhung lụa... Nhưng anh hứa, chừng nào Trần Bình này còn thở, còn sức lực, anh sẽ là chỗ dựa vững chắc nhất cho em. Sẽ không để ai ức h**p em, không để em phải chịu đói, chịu khổ một ngày nào. Cả đời này, vui buồn sướng khổ, anh nguyện cùng em gánh vác, chia ngọt sẻ bùi... Em có bằng lòng... làm vợ anh không, An?”
Lời cầu hôn mộc mạc, không hoa mỹ, không thề non hẹn biển nhưng nặng tựa ngàn cân rơi vào không gian tĩnh lặng của đêm trăng.
Gió thu ngừng thổi, sóng sông Đáy như ngừng vỗ. Toàn bộ thế giới xung quanh dường như biến mất, chỉ còn lại ánh trăng bàng bạc soi rọi gương mặt cương trực, đầy ắp chân tình của người lính và đôi bàn tay đang run rẩy nâng niu kỷ vật bằng đồng.
Những giọt nước mắt ấm nóng từ khóe mi Hoài An bất giác trào ra, lăn dài trên gò má mịn màng. Đó không phải là nước mắt của sự yếu đuối hay tủi thân, mà là sự vỡ òa của niềm hạnh phúc ngập tràn.
Ở thế giới hiện đại xa xôi kia, cô từng chứng kiến bao nhiêu cuộc tình chóng vánh, thực dụng, nơi người ta đong đếm tình cảm bằng nhà lầu, xe hơi và tài khoản ngân hàng. Ai có thể ngờ rằng, giữa một làng quê nghèo nàn thời hậu chiến của những năm bảy mươi, giữa bữa cơm độn sắn và manh áo vá, cô lại tìm thấy một tình yêu thuần khiết, nguyên sơ và son sắt đến nhường này? Một tình yêu bắt rễ từ sự đồng cam cộng khổ, được trui rèn qua bão lũ và khói lửa chiến tranh, giản dị như hạt lúa củ khoai nhưng bền chặt hơn bất cứ thứ vàng ngọc nào trên đời.
Bức tường phòng thủ cuối cùng trong tâm hồn An hoàn toàn sụp đổ. Cô không còn là một kẻ lữ hành cô độc trôi dạt từ tương lai về quá khứ nữa. Mảnh đất này, con người này đã thực sự trở thành bến đỗ, thành gia đình, thành nơi chốn bình yên mà cả đời này cô muốn gắn bó.
An đưa bàn tay mềm mại nhưng đã chớm những vết chai lao động ra, nhẹ nhàng đặt lên bàn tay thô ráp của Bình. Cảm nhận được hơi ấm nóng hổi từ da thịt cô, bàn tay Bình khẽ run lên một nhịp.
Cô mỉm cười, nụ cười rạng rỡ như hoa nở trong sương sớm, nước mắt vẫn còn lấp lánh nơi khóe mi:
“Anh ngốc lắm... Em cần gì chậu thau men hay phích nước rạng đông chứ? Đối với em, chiếc kẹp tóc này là thứ quý giá nhất trên đời rồi.”
Nói rồi, An nhấc chiếc kẹp bằng vỏ đạn pháo lên khỏi mảnh vải dù. Kim loại mát lạnh ban đầu nhanh chóng hấp thu hơi ấm từ những ngón tay cô. Cô nghiêng đầu, đưa tay gỡ chiếc kẹp tóc bằng nan tre cũ kỹ trên bím tóc mình xuống, rồi đưa chiếc kẹp đồng cho Bình, giọng nói nhỏ nhẹ, ngọt ngào như rót mật vào tai anh:
“Anh... cài lên tóc cho em đi.”
Bình như không tin vào tai mình. Niềm hạnh phúc tột cùng ập đến bất ngờ khiến người lính từng xông pha trận mạc bỗng chốc đờ đẫn mất vài giây. Rồi một nụ cười rạng rỡ, ngập tràn ánh sáng bừng lên trên khuôn mặt sạm đen của anh.
“Được... được... để anh cài cho em!”
Bình đứng dậy, bước lại gần sau lưng An. Đôi bàn tay vốn chỉ quen bóp cò súng trường, vung búa đập đá và cầm cày xới đất giờ đây run rẩy, cẩn trọng đến tột cùng. Anh nín thở, nhẹ nhàng nâng lọn tóc đen nhánh, dày dặn và thơm ngát hương hoa bưởi của cô lên, khéo léo lách chiếc kẹp đồng vào nếp tóc, bấm nhẹ một tiếng “tách” giòn tan.
Chiếc kẹp bằng vỏ đạn pháo sáng bóng nổi bật trên nền tóc đen tuyền của An, ánh lên sắc vàng vương giả dưới ánh trăng rằm.
An khẽ đưa tay lên chạm vào chiếc kẹp tóc, cảm nhận được từng đường chạm khắc hoa mai tinh xảo của anh. Một cảm giác ấm áp, an định lan tỏa khắp cơ thể cô. Cô quay người lại, ngước nhìn người đàn ông đang đứng trước mặt mình. Lần này, không còn sự e ấp, ngập ngừng của hai người đồng chí, đồng đội nữa.
“Anh Bình...” An khẽ gọi, giọng cô mềm mại, tự nhiên chuyển sang xưng hô ngọt ngào mà trước nay cô chưa từng cất lên. “Từ nay về sau, đường đời còn nhiều gian nan, vất vả lắm... Em trao trọn cuộc đời này cho anh đấy.”
Bình xúc động đến nghẹn ngào. Anh không kìm nén được nữa, bước tới một bước, dang đôi cánh tay rộng lớn và rắn chắc như gọng kìm ôm trọn lấy thân hình mảnh mai của An vào lòng.
Vòng tay anh ấm áp lạ lùng, phảng phất mùi mồ hôi mộc mạc của đất cát đồng bãi và hương nắng gió sông Đáy. An khẽ nép đầu vào v*m ng*c vạm vỡ của anh, lắng nghe từng nhịp đập rộn ràng, mạnh mẽ và vững chãi của trái tim người lính. Cô đưa hai tay ôm lấy thắt lưng anh, siết nhẹ, cảm nhận sự trọn vẹn và bình yên chưa từng có trong đời.
Gió thu vẫn vi vu thổi qua rặng phi lao bên triền đê. Dưới chân họ, dòng sông Đáy cuộn sóng êm đềm, dát một dải bạc lấp lánh trải dài vô tận về phía chân trời. Bóng của hai người lồng vào nhau, in đậm trên bờ cát mịn màng bến đò cũ, hòa quyện làm một dưới vầng trăng rằm tháng Tám sáng trong vắt.
Đêm nay, một lời hẹn ước trăm năm đã được khắc ghi bằng kỷ vật từ khói lửa chiến trường. Một chương mới đầy ắp yêu thương và gắn kết đã chính thức mở ra trong cuộc đời họ. Phía trước, mùa đông khắc nghiệt đang dần gõ cửa, những khó khăn của cuộc chiến mưu sinh trên từng tấc đất năm phần trăm và những định kiến khắt khe của cơ chế cũ vẫn đang chực chờ thử thách. Nhưng giờ đây, khi hai bàn tay đã đan chặt vào nhau, khi hai trái tim đã cùng chung một nhịp đập, họ biết rằng không có bất kỳ giông bão nào có thể ngăn nổi mầm sống của tình yêu và niềm hy vọng đơm hoa kết trái trên mảnh đất quê hương này.