Tiếng gào xé họng của Cần như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào bầu không khí vừa mới chớm rạng rỡ sau chiến thắng hộ đê. Mặt đê cống Vực vốn đang râm ran những tiếng thở phào nhẹ nhõm thoắt cái chìm vào một khoảng lặng chết chóc. Hàng trăm con người, bùn đất bết dính từ đầu đến chân, đồng loạt sững sờ quay phắt lại nhìn về phía chân dốc đê.
Ở đó, Cần nằm sóng soài dưới lớp bùn nhão nhoét, chiếc áo bảo hộ rách tơi tả dính chặt vào da thịt, hai bàn tay run rẩy bấu chặt lấy cỏ lác. Gương mặt người thủ kho trẻ tuổi tái mét không còn một hột máu, đôi mắt trợn trừng vì hoảng loạn tột cùng.
“Đầm Lội... sập mái kho rồi thật sao chú Cần?”
Một xã viên đứng gần đó lắp bắp hỏi lại, giọng run rẩy như không dám tin vào tai mình.
“Thật mà! Tôi vừa chạy thục mạng từ đằng ấy sang đây!” Cần nghẹn ngào, nước mắt hòa lẫn bùn đất giàn giụa trên má. “Lốc xoáy quật gãy ngang cây xà cừ cổ thụ cạnh bờ ao, thân cây đổ ập xuống giật toang hoác hai gian mái ngói bên chái tây. Nước từ bờ vùng Đầm Lội bị sóng vỗ tràn bờ, đổ dồn vào ngập trắng cả nền kho rồi! Bao sắn lát với ngô giống tập thể... chìm trong nước cả rồi các bác ơi!”
Một tiếng “oái” thất thanh bật ra từ miệng Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát. Người đàn ông trung niên vốn luôn giữ vẻ bệ vệ, đạo mạo thường ngày thoắt cái mềm oặt người, nếu không có hai người dân quân bên cạnh nhanh tay đỡ lấy nách thì ông đã ngã chúi lủi xuống vũng nước bùn. Chiếc bút máy Kim Tinh vỏ nhựa xanh giắt ở túi áo ngực tuột ra rơi tõm xuống đất, ông ta cũng chẳng màng cúi xuống nhặt.
“Trời ơi là trời... Thế là xong! Thế là mất trắng thật rồi!” Ông Khoát ôm lấy đầu, giọng méo xệch đi trong sự tuyệt vọng. “Cả thảy ba tấn sắn lát phơi giòn dự trữ giáp hạt cho xã, lại thêm gần bốn tấn ngô giống lai cấp một huyện vừa phân bổ về tuần trước để chuẩn bị cho vụ đông... Ngâm nước lũ thế này thì còn giống má gì nữa! Huyện mà về kiểm tra thì tôi biết ăn nói làm sao? Mất chức... mất trắng danh hiệu đơn vị thi đua quyết thắng rồi!”
An đứng sững bên bậu cửa lán dã chiến, trái tim cô thắt lại. Là một kỹ sư công nghệ chế biến và bảo quản nông sản, cô hiểu rõ hơn bất kỳ ai tính chất nguy hại của tai họa này. Sắn lát đã sấy khô khi ngậm nước mưa sẽ trương nở cực nhanh, tạo môi trường yếm khí thuận lợi cho các bào tử nấm mốc đen và vi khuẩn lên men chua tấn sinh chỉ sau mười hai đến hai mươi tư giờ. Nếu không xử lý ngay, toàn bộ số sắn đó sẽ thối rữa, sinh ra độc tố nấm mốc nguy hiểm, đến lợn cũng không thể ăn nổi. Còn ngô giống, lớp vỏ hạt một khi hút no nước phù sa sẽ bị k*ch th*ch phôi mầm non hoặc bị nghẹt khí làm thối nhũn tế bào mầm. Toàn bộ nguồn lương thực sống còn của hàng trăm gia đình trong mùa đông đói kém sắp tới đang nằm trên bờ vực tiêu tán.
“Bác Khoát! Giờ không phải lúc ngồi than khóc đổ lỗi cho trời!”
Một giọng nói trầm khàn nhưng đanh thép bỗng vang lên bên cạnh An. Trần Bình gạt phắt bàn tay An đang định giữ anh lại, nén cơn đau buốt xé thịt ở bắp chân, chống một thanh cọc tre gãy gượng gạo đứng thẳng dậy. Toàn thân anh vẫn còn hâm hấp nóng vì cơn sốt, nhưng ánh mắt người lính trinh sát Tây Nam đã lấy lại vẻ sắc lạnh, kiên định lạ thường.
“Kho nằm ở vùng trũng, nước ngập sâu bao nhiêu rồi?” Bình nhìn thẳng vào Cần, gặng hỏi dồn dập.
Cần nuốt nước bọt cái ực, run rẩy đáp: “Dạ... lúc tôi chạy đi thì nước ngập ngang đầu gối, chừng bốn mươi phân. Mấy bao sắn kê ở bục gỗ tầng dưới cùng đã chìm nghỉm, bao bên trên bị nước mưa từ lỗ thủng dột xối xả xuống!”
“Đồng chí Bình nói phải đấy, nhưng... nhưng giờ thì làm được gì nữa?” Ông Khoát xua tay một cách bất lực, giọng lộ rõ ý buông xuôi. “Đê sông Đáy tuy giữ được nhưng trời vẫn mù mịt thế này, lấy đâu ra nắng mà phơi ba bốn tấn nông sản ướt? Sân kho thì lênh láng bùn. Bây giờ chỉ còn nước lập biên bản hiện trường, quy vào thiệt hại do thiên tai bão lốc bất khả kháng, rồi tôi tức tốc đạp xe lên huyện xin cứu trợ khẩn cấp...”
“Xin cứu trợ?” An không kìm được nữa, cất tiếng cắt ngang lời vị Chủ nhiệm. Giọng cô trong trẻo nhưng rành rọt, từng câu từng chữ như găm vào tâm trí mọi người: “Bác Khoát, bác nghĩ cấp trên lấy đâu ra hàng tấn ngô giống và lương thực để cấp bù cho xã ta ngay lúc này? Trận bão này quét qua cả vùng đồng bằng Bắc Bộ, các huyện bạn ven sông Nhuệ, sông Đáy đâu đâu cũng ngập úng. Sau chiến tranh, kho tàng quốc gia đang kiệt quệ, từng lạng gạo góc ngô còn phải chắt chiu gửi ra đảo, gửi lên biên giới. Huyện lấy đâu ra mà trợ cấp? Chúng ta ngồi chờ huyện thì dân làng An Hòa mùa đông này ăn bằng cái gì để sống?”
Mấy chục xã viên Đội 3 đứng xung quanh nghe An nói liền xôn xao gật đầu. Chị Đượm bước lên một bước, quệt vạt áo nâu ướt sũng lau mặt, phụ họa ngay:
“Cô An nói chí phải đấy bác Chủ nhiệm! Chờ được vạ thì má đã sưng, chờ huyện duyệt hồ sơ cứu trợ thì con cái chúng tôi chết đói rã ruột cả rồi! Phải cứu lấy kho giống thôi!”
Ông Khoát bị một cô gái trẻ tuổi độp lại trước mặt đông đảo quần chúng thì mặt đỏ gay, nhưng đuối lý không cãi được, chỉ hậm hực:
“Cứu? Cô nói mồm thì hay lắm! Cứu bằng cách nào? Ngô giống ngậm nước một ngày là hỏng phôi, sắn lát chua lòm mốc xanh mốc đỏ thì cứu vào mắt à? Cô định quạt nan cho khô mấy tấn hàng chắc?”
“Cháu không dùng quạt nan, nhưng cháu có cách làm khô toàn bộ số ngô và sắn lát đó trong vòng hai mươi tư giờ tới!” An ngẩng cao đầu, ánh mắt sáng quắc nhìn thẳng vào vị Chủ nhiệm già. “Trưng dụng lò gạch cũ của xã ngoài bãi Soi! Chúng ta sẽ biến nó thành trạm sấy nông sản gián tiếp!”
Cả mặt đê bỗng chốc im bặt. Mọi người trố mắt nhìn An như thể cô vừa thốt ra một điều hoang đường nhất trần đời.
Lò gạch cũ ở bãi Soi vốn là công trình nung gạch thủ công của hợp tác xã xây dựng từ năm ngoái, nằm trên một gò đất cao ráo không bao giờ ngập nước. Đợt nung ngói vừa kết thúc cách đây ba ngày, vỏ lò bằng gạch chỉ dày cộp vẫn còn giữ lại hơi ấm âm ỉ, nhưng bên trong thì trống trơn.
“Cô... cô điên rồi à An?” Ông Khoát lắp bắp, hai con mắt trợn tròn. “Lò gạch là để nung đất sét thành gạch ngói, nhiệt độ hàng trăm độ, cô đem ngô giống với sắn lát nhét vào đấy thì thành bỏng ngô với tro than hết à? Lại còn cháy nổ rụi cả công trình tập thể thì ai chịu tội?”
“Không nung trực tiếp, mà là sấy đối lưu nhiệt gián tiếp!” An bình tĩnh giải thích, giọng điệu dứt khoát mang theo sức nặng của kiến thức chuyên môn vững vàng mà cô cố gắng diễn đạt bằng ngôn từ mộc mạc nhất: “Vỏ lò gạch dày, giữ nhiệt cực tốt và cách ẩm tuyệt đối. Dưới hầm lò có sẵn hệ thống rãnh dẫn lửa và ống khói hút gió tự nhiên. Chúng ta không đốt lửa to, chỉ đốt than củi âm ỉ ở cửa lò ngoài, dùng quạt thông gió đẩy luồng khí nóng gián tiếp chạy qua rãnh ngầm dưới đáy. Phía trên miệng hầm, ta bắc giàn dát tre, rải một lớp tro bếp khô dày để lọc muội than và điều hòa nhiệt, sau đó mới rải ngô giống và sắn lát lên trên. Gió nóng đi từ dưới lên mang theo hơi ẩm thoát thẳng ra ngoài cửa ống khói trên nóc lò. Nhiệt độ chỉ giữ ở mức hơi ấm như trưa hè tháng Năm, phôi ngô tuyệt đối không bị chín ép mà hạt lại khô giòn!”
Nghe An nói một tràng vanh vách, khúc chiết và chặt chẽ, ông Khoát đực mặt ra, cái đầu hói lắc lư không biết nên tin hay bác bỏ. Những thuật ngữ như “đối lưu nhiệt”, “sấy gián tiếp” hoàn toàn xa lạ với tư duy cán bộ hành chính của ông, nhưng cái viễn cảnh cứu được số nông sản quý giá kia lại như một chiếc phao cứu sinh níu lấy tâm can ông ta.
“Kinh nghiệm này... cô học ở đâu ra? Lại là mẹo của cánh lái xe Trường Sơn à?” Ông Khoát dò xét hỏi.
“Thời ở binh trạm ngã ba Đồng Lộc, bom thả hỏng hết kho tàng, bộ đội công binh toàn dùng hầm địa đạo cải tiến làm lò sấy củi mục và lương thực ướt để nuôi quân đánh giặc!” An đáp ngay tắp lự, đôi mắt không hề chớp. “Chiến trường làm được, tại sao hậu phương chúng ta lại chịu bó tay? Bác Khoát, nước lũ đang rút dần nhưng rỉ nước ở kho Đầm Lội sẽ làm ngô chua từng phút một. Cứ chần chừ thêm một giờ, chúng ta sẽ mất thêm vài tạ giống!”
Bình đứng bên cạnh, nhìn sâu vào đôi mắt kiên định của An. Trong khoảnh khắc ấy, anh không hề thấy một chút sợ hãi hay nao núng nào ở người con gái mảnh mai này. Chỉ có một niềm tin sắt đá và một sự am tường kỳ lạ, như thể mọi quy luật của hạt lúa, hạt ngô đều nằm trọn trong lòng bàn tay cô.
Bình dộng mạnh cây gậy tre xuống đất, dõng dạc tuyên bố:
“Bác Khoát! Tôi lấy tư cách Đội trưởng Đội 3 và danh dự của một người đảng viên ra bảo lãnh cho phương án của cô An! Nếu hỏng một cân giống, nếu lò gạch có mệnh hệ gì, tôi xin chịu kỷ luật cách chức, đem toàn bộ một ngàn hai trăm công điểm của gia đình tôi ra bồi hoàn cho hợp tác xã! Nhưng lúc này, không thể khoanh tay đứng nhìn mồ hôi nước mắt của dân trôi theo dòng nước lũ!”
Anh quay ngoắt sang phía hàng chục đội viên dân quân và thanh niên Đội 3 đang đứng đợi lệnh:
“Tất cả anh chị em Đội 3! Ai còn sức thì vác đòn gánh, đẩy xe cải tiến theo tôi chạy về Đầm Lội! Các chị em phụ nữ chạy ra bãi Soi dọn dẹp lò gạch, chặt tre làm giàn sấy theo chỉ dẫn của cô An! Xuất quân!”
“Rõ!”
Tiếng hô đồng thanh vang dội cả một khúc đê. Khí thế hừng hực bừng lên xua tan đi sự mệt mỏi rã rời sau một đêm vật lộn với sóng dữ. Dưới sự dẫn dắt của Bình, dòng người cuồn cuộn lao đi trong màn mưa phùn, hướng thẳng về phía kho dự trữ Đầm Lội.
*
Khi An cùng nhóm phụ nữ và người già chạy đến khu kho Đầm Lội, một cảnh tượng xót xa hiện ra trước mắt.
Một góc tường hoa bị nứt toác, hai gian mái ngói bên chái tây sụp đổ tan tành, rui mè gãy vụn cắm ngập vào đống bao tải ngổn ngang. Nước lũ từ bờ vùng Đầm Lội tràn qua con mương thủy lợi, cuồn cuộn đổ vào sân kho rồi dâng ngập quá đầu gối bên trong gian chứa. Mùi ngô ngâm nước ẩm mốc bắt đầu bốc lên ngai ngái, quyện với mùi bùn non tanh nồng. Hàng chục bao tải gai đựng sắn lát bị bục chỉ, những lát sắn trắng phau giờ ngả sang màu xám xịt, trôi lềnh bềnh trên mặt nước đục ngầu.
“Mau lên! Đừng để bao ngập sâu dưới đáy!” Bình gầm lên một tiếng, dù chân tập tễnh nhưng anh là người đầu tiên nhảy ào xuống dòng nước ngập ngang đùi trong kho.
Vết thương ở bắp chân vừa được An băng bó kỹ lưỡng khi nãy lập tức bị nước bùn lạnh ngắt thốc vào. Một cơn đau buốt nhói chạy dọc sống lưng khiến Bình lảo đảo, mặt biến sắc, mồ hôi hột túa ra trán dù gió sớm đang thổi lạnh buốt. Nhưng anh cắn chặt môi đến suýt bật máu, hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc ôm trọn lấy một bao ngô nặng trịch nước, gồng mình nhấc bổng lên vai rồi bước từng bước nặng nề ra cửa.
“Anh Bình! Đặt xuống xe cải tiến mau, để anh em vác cho!” An hét lên, lao tới đỡ lấy một góc bao tải. Bàn tay cô chạm vào bắp tay anh, cảm nhận được từng thớ thịt đang run lên bần bật vì gắng gượng quá sức và cơn sốt đang bốc hỏa bên trong cơ thể.
“Tôi không sao... còn khỏe chán!” Bình th* d*c, giọng khàn đặc nhưng ánh mắt rực lửa. “Một bao ngô này cứu đói được mấy chục miệng ăn đấy An... Cứ phân loại đi, bao nào ướt sũng để riêng, bao nào chỉ ẩm ngoài vỏ thì chuyển đi trước!”
Nhìn bóng lưng cao lớn hơi khập khiễng của anh lầm lũi quay lại làn nước ngập, lồng ngực An nhói buốt một cảm giác xót xa khôn tả. Người đàn ông này, dù trong lửa đạn chiến trường hay giữa cơn hoạn nạn quê hương, lúc nào cũng lấy thân mình làm lá chắn chở che cho mọi người.
Gạt phắt giọt nước mắt chực trào, An xắn cao ống quần quá đầu gối, trực tiếp lội xuống phụ dỡ hàng. Cô cất tiếng chỉ huy rành rọt:
“Chị Đượm! Cho người rải bạt ra sân gạch trước cổng kho! Những bao sắn lát bị bục phải vớt ngay vào rổ xảo, tuyệt đối không được bóp nát! Ngô giống ngập nước phải để róc nước tự nhiên, không được dùng gậy chọc làm rách vỏ hạt! Xe cải tiến chở ngô đi trước, sắn đi sau!”
Dưới sự chỉ đạo khoa học và bình tĩnh của An, sự hỗn loạn ban đầu nhanh chóng biến thành một dây chuyền làm việc nhịp nhàng, khẩn trương. Đàn ông khỏe mạnh lội nước vác bao, thanh niên đẩy xe cải tiến vượt qua những đoạn đường làng trơn như đổ mỡ, phụ nữ và người già dùng rổ tre vớt từng lát sắn nổi. Hơn sáu tấn nông sản ướt sũng dần dần được di tản khỏi vùng ngập úng, đưa thẳng lên gò bãi Soi.
Tại lò gạch cũ, không khí lao động cũng căng thẳng không kém một công trường thời chiến.
An chạy đôn chạy đáo khắp trong ngoài lò gạch, chiếc áo sơ mi bảo hộ màu cỏ úa ướt đẫm mồ hôi và nước mưa, bết chặt vào lưng. Cô trực tiếp trèo lên kiểm tra các cửa vòm và ống khói của lò gạch.
Lò gạch này xây theo kiểu lò đứng thủ công, có bốn cửa đốt bên dưới và hai tầng vòm thoáng khí dẫn lên ống khói cao vút. Lớp tường gạch dày tới bốn mươi phân vẫn còn lưu giữ nhiệt lượng âm ỉ từ đợt nung trước, sờ tay vào thấy ấm ran. Đây chính là lợi thế trời cho!
“Bác Mẫn! Nhờ các bà các mẹ gom hết rơm khô, lõi ngô và vỏ trấu khô quanh xóm mang lại đây!” An lớn tiếng gọi. “Bác thợ mộc Cả, chặt nứa bánh tẻ bắc giàn dát tre cách mặt sàn lò tám mươi phân! Phải chằng buộc thật chắc chắn, kẻo sức nặng của ngô làm sập giàn!”
“Có ngay đây cô An ơi!” Bác Cả thợ mộc cùng đám thanh niên thoăn thoắt vung rựa chặt nứa, tiếng búa gõ cọc càn cạch vang rộn rã. Chỉ trong vòng chưa đầy hai tiếng đồng hồ, một hệ thống giàn sấy ba tầng bằng tre nứa vững chãi đã được dựng xong bên trong lòng lò gạch rộng lớn.
Khi mẻ ngô ướt đầu tiên được chở tới, An yêu cầu không đổ đống mà phải dùng rá tre xúc từng lớp mỏng, rải đều trên mặt giàn nứa đã lót sẵn những tấm cót đan thưa.
“Rải dày tối đa ba đốt ngón tay thôi!” An cẩn thận cúi xuống, dùng bàn tay vuốt phẳng lớp hạt ngô còn ướt sũng phù sa. “Rải dày quá nhiệt không thấu, hạt ở giữa sẽ bị hấp hơi thối mầm. Lớp sắn lát thì xếp ở tầng giàn cao nhất, nơi nhiệt độ cao hơn một chút!”
Khâu quan trọng nhất và mang tính quyết định sống còn chính là kỹ thuật nhóm lửa và điều tiết nhiệt độ. Đây là điều khiến mọi người lo lắng nhất.
Dưới cửa hầm đốt, một đống than củi gáo dừa và củi nghiến được chất lên. Khi ngọn lửa bùng lên, khói đen bắt đầu cuộn lại trong hầm.
“Chết rồi, khói thế này thì ám hết vào ngô, hạt giống mất phôi mà sắn thì khét lẹt ăn sao nổi!” Ông Khoát vừa chạy đến nơi, thấy khói bốc lên liền la toáng lên.
“Bác Khoát bình tĩnh!” An bước nhanh xuống cửa lò, tay cầm một chiếc xẻng sắt. “Đưa tro bếp khô lại đây cho cháu!”Cô trực tiếp xúc từng xẻng tro bếp trộn lẫn trấu khô, rải thành một lớp dày chừng năm phân phủ kín lên bề mặt đống than hồng đang cháy rực. Ngay lập tức, ngọn lửa đỏ bị dìm xuống, chỉ còn lại những đốm than đỏ rực âm ỉ cháy kỵ khí bên dưới. Lớp tro bếp đóng vai trò như một màng lọc tự nhiên khổng lồ, giữ lại toàn bộ muội than và khói đen, chỉ cho luồng nhiệt tinh khiết, khô ráo bốc lên. Đồng thời, An chỉ đạo mở hé hai cửa thông gió đối lưu ở hai bên sườn lò để hút không khí tươi từ bên ngoài vào, tạo thành một dòng khí đối lưu tự nhiên cực mạnh cuốn theo hơi nóng đi xuyên qua các tầng giàn sấy rồi thoát thẳng lên ống khói nóc lò.
Đứng trên tầng giàn sấy, chị Đượm reo lên kinh ngạc:
“Kỳ lạ chưa kìa! Hơi nóng bốc lên ngùn ngụt mà không hề có tí khói nào cay mắt cả! Hơi nước từ đống ngô đang bốc lên nghi ngút như nồi xôi mở vung vậy!”
Mọi người ùa vào xem, ai nấy đều trầm trồ thán phục. Luồng nhiệt ấm áp, khô ráo len lỏi qua từng kẽ nứa, ve vuốt những hạt ngô ướt sũng. Hơi nước ngưng tụ thành những làn sương trắng mờ ảo bị luồng gió đối lưu hút thốc l*n đ*nh ống khói, phả ra ngoài trời một mùi ngô non ngai ngái xen lẫn mùi ngọt thanh của tinh bột sắn đang khô dần.
An không rời mắt khỏi lò sấy dù chỉ nửa bước. Cô không có nhiệt kế cơ học của thế kỷ hai mươi mốt, mọi sự đo đạc đều phải dựa vào kinh nghiệm cảm quan tinh vi của một chuyên gia sinh học. Cô liên tục cắm một thanh tre tươi vào giữa lớp ngô giống, rút ra rồi áp mu bàn tay vào thanh tre để cảm nhận độ nóng.
“Nhiệt độ này chừng bốn mươi lăm độ C, vừa chuẩn!” An lẩm bẩm trong miệng. Ở mức nhiệt này, các phân tử nước tự do trong phôi hạt sẽ bốc hơi nhanh chóng mà các chuỗi protein và enzym mầm sống không bị biến tính hay phá hủy. Còn ở tầng trên cùng, nơi sắn lát đang nằm, nhiệt độ đạt khoảng năm mươi lăm đến sáu mươi độ, đủ để làm khô kiệt các lát sắn trước khi nấm mốc kịp sinh sôi.
“Cứ ba mươi phút phải đảo hạt một lần!” An dặn dò kíp trực sấy. “Dùng cào gỗ đảo thật nhẹ tay từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài để hạt khô đều!”
*
Đêm dần buông xuống trên bãi Soi.
Gió mùa sau bão vẫn rít từng cơn lạnh buốt qua những rặng chuối ven sông, nhưng bên trong lòng lò gạch cũ, không khí lại hầm hập một sức sống kỳ diệu. Ánh lửa than đỏ rực hắt ra từ cửa lò in bóng những con người đang miệt mài làm việc thâu đêm.
Trần Bình ngồi trên một khúc gỗ bạch đàn kê sát cửa lò, bàn tay gân guốc cầm thanh cời sắt chốc chốc lại nhẹ nhàng gạt bớt lớp tro tàn, tiếp thêm từng vốc trấu khô vào đống than ủ.
Khuôn mặt anh hốc hác hẳn đi sau một ngày một đêm thức trắng vật lộn từ mặt đê về đến kho thóc. Chiếc quần bộ đội xắn quá gối để lộ bắp chân trái sưng húp, dù An đã rửa sạch phù sa và rắc thêm bột sulfamid nhưng vết rách sâu vẫn tấy đỏ, giật từng cơn theo nhịp mạch đập. Cơn sốt khiến hai gò má anh ửng hồng bất thường, đôi môi khô nẻ bong tróc từng mảng da.
Một bóng người mảnh khảnh khẽ bước đến bên cạnh anh, mang theo làn gió nhẹ thoang thoảng mùi xà phòng bồ kết mộc mạc.
An ngồi xuống bên cạnh Bình, đặt một chiếc bát sành đựng nước sắc củ sả, lá tía tô và gừng già còn bốc khói xuống thanh gỗ. Cô không nói không rằng, cúi xuống kiểm tra mảnh vải dù quấn quanh chân anh. Thấy vệt máu loãng đã khô lại, không có dịch mủ vàng ứa ra, cô mới khẽ thở phào một cái, nhưng mày liễu vẫn nhíu chặt lại đầy vẻ trách móc.
“Uống hết bát nước lá này đi cho hạ sốt.” Giọng An nhỏ nhẹ nhưng mang theo một uy quyền không thể chối từ. “Anh có biết bắp chân anh nóng như hòn than không? Người ta bảo anh về trạm xá xã nằm nghỉ từ chiều, sao cứ trơ trơ ra như cột đá ở đây thế?”
Bình quay sang nhìn cô. Trong ánh lửa than bập bùng nhảy múa, gương mặt An lấm lem vài vệt tro đen ở bên má, mái tóc tết bím lệch buông lơi vài sợi tóc mai bết dính mồ hôi bên thái dương. Đôi mắt cô trong veo, phản chiếu ánh lửa đỏ rực, vừa tràn đầy sự kiên định vừa đong đầy nỗi xót xa kín đáo dành cho anh.
Khóe môi Bình khẽ run rẩy, một nụ cười hiền từ, đầm ấm nở ra trên khuôn mặt sương gió:
“Tôi về trạm xá nằm sao yên được, khi cả cơ nghiệp của Đội 3 đang nằm cả ở đây... Huống hồ, cô An thức trắng cả đêm chỉ huy ở đây, tôi là đàn ông, là đội trưởng, nằm đắp chăn một mình thì mặt mũi nào nhìn anh em?”
“Anh lúc nào cũng chỉ biết có tập thể, có anh em...” An khẽ trách, nhưng bàn tay lại ân cần đưa bát nước thuốc đến tận tay anh. “Cái chân này mà nhiễm trùng, uốn ván hay hoại tử thì anh tính sao? Anh có biết một khi đã sốt cao mà còn ngâm nước bẩn thì nguy hiểm đến mức nào không?”
Bình đón lấy chiếc bát sành, những ngón tay thô ráp, chai sần vì cầm súng và cầm cày vô tình chạm vào những ngón tay thon thả nhưng rắn rỏi của An. Một luồng điện ấm áp dường như truyền qua da thịt, khiến cả hai người cùng khẽ giật mình, nhưng không ai vội vàng rụt tay lại.
Bình hớp một ngụm nước gừng cay nồng, hơi ấm lan tỏa khắp lồng ngực, xua tan đi cái lạnh thấu xương đang chực chờ quật ngã anh. Anh nhìn vào đống than hồng đang âm ỉ cháy, trầm ngâm một lúc rồi cất giọng trầm thấp, đều đều như đang rút ruột gan ra tâm sự:
“Năm bảy mươi hai, ở chiến trường Quảng Trị... đơn vị tôi bị địch vây ráp ở một cao điểm suốt mười hai ngày đêm. Tiếp tế bị cắt đứt hoàn toàn, nước không có uống, chỉ có một túi ngô rang nghiền vụn chia nhau từng nhúm nhỏ cầm hơi. Khi ấy, một nắm ngô khô quý hơn cả vàng bạc, ngọc ngà... Nó là mạng sống của cả một trung đội, là sức lực để anh em cầm súng giữ từng tấc đất. Từ ngày ấy, tôi đã thề với lòng mình, hòa bình rồi, về làng làm ruộng, tôi không bao giờ để một hạt thóc, hạt ngô nào của bà con phải rơi rụng hoang phí. Hạt giống này không chỉ là cái ăn cho mùa đông tới đâu An ạ... Nó là máu, là mồ hôi của bao nhiêu con người gom góp lại đấy.”
An ngồi lặng đi, lắng nghe từng lời nói gan ruột của người lính. Trái tim cô vốn dĩ mang theo sự dè dặt, cảnh giác của một tâm hồn đến từ bốn thập kỷ sau, bỗng chốc rung lên những nhịp đập thổn thức, xao xuyến lạ kỳ. Người đàn ông trước mặt cô không có học hàm học vị cao siêu, không biết đến những lý thuyết kinh tế vĩ mô hoa mỹ, nhưng anh mang một nhân cách lớn lao, thuần khiết và kiên cường như rễ cây cổ thụ bám chặt vào lòng đất mẹ. Ở bên anh, giữa cái đói nghèo, thiếu thốn trăm bề của thời bao cấp khắc nghiệt này, cô chưa bao giờ cảm thấy cô độc hay sợ hãi.
“Em hiểu mà...” An khẽ thì thào, tiếng “em” buột ra một cách tự nhiên từ sâu thẳm đáy lòng mà chính cô cũng không hề nhận ra. “Nên em mới dốc hết sức để giữ bằng được số giống này cho anh, cho bà con...”
Bình sững người lại một thoáng khi nghe tiếng “em” dịu dàng như gió thoảng ấy. Trái tim người lính từng xông pha trận mạc bỗng đập loạn nhịp trong lồng ngực. Anh quay sang nhìn An, ánh mắt chan chứa một tình cảm sâu thẳm, nồng nàn mà bấy lâu nay anh luôn cố nén chặt dưới vẻ ngoài trầm mặc, khắc khổ. Anh khẽ siết nhẹ chiếc bát sành trong tay, muốn nói một điều gì đó thiêng liêng từ tận đáy lòng, nhưng tiếng gọi giật giọng từ trên giàn sấy đã kéo cả hai trở về với thực tại căng thẳng:
“Cô An ơi! Mẻ sắn tầng trên cùng bẻ gãy nghe rôm rốp rồi này! Mau lên xem thử xem đạt chưa!”
An giật mình đứng dậy, vội vã đưa tay vuốt lại lọn tóc mai, quay sang nhìn Bình:
“Anh uống hết nước thuốc rồi ngồi yên đấy nhé! Em lên kiểm tra ngay đây!”
Bình nhìn theo bóng dáng thoăn thoắt của cô trèo lên thang tre, nơi khóe mắt ánh lên một nụ cười rạng rỡ và một niềm tin yêu vô bờ bến.
*
Khi những vệt sáng đầu tiên của ngày mới nhọc nhằn xuyên qua lớp sương mù dày đặc trên dòng sông Đáy, một luồng ánh sáng bình minh màu hồng nhạt bắt đầu rọi xuống gò bãi Soi. Gió bão đã lặng hẳn, bầu trời sau cơn giông bão trở nên quang đãng, cao vút một màu xanh biếc.
Bên trong lò gạch cũ, mẻ nông sản cuối cùng đã được hoàn tất việc hong sấy.
Tiếng cười nói rộn rã, tiếng reo hò vang dậy cả một góc trời xé toạc sự tĩnh mịch của buổi sớm mai.
“Khô rồi! Khô cong queo rồi các bác ơi!”
Chị Đượm hai tay bưng một chiếc mẹt tre đựng đầy những lát sắn trắng muốt, chạy ùa ra sân gạch trước cửa lò. Chị cầm một lát sắn dày cộp, dùng hai ngón tay bẻ mạnh một cái. Một tiếng “tách” giòn tan vang lên đanh gọn. Mặt gãy bên trong trắng phau, bột mịn tưng ra, không hề có một vệt thâm đen hay một sợi tơ mốc nào bám dính. Chị đưa lên mũi hít hà một hơi thật sâu rồi reo to:
“Thơm phức mùi bột sắn mới! Không chua một tí nào! Khô giòn thế này thì để qua giêng hai năm sau cũng không sợ mọt!”
Lúc này, Chủ nhiệm Bùi Đắc Khoát cùng ban quản trị hợp tác xã cũng lục tục kéo đến. Trên tay ông Khoát vẫn cầm cuốn sổ tay bọc bìa da màu đen và chiếc bút máy Kim Tinh đã được lau sạch bùn đất. Gương mặt ông ta đầy vẻ căng thẳng, âu lo, dường như đã chuẩn bị sẵn tinh thần để nghe báo cáo về những con số thiệt hại thê thảm.
“Thế nào rồi?” Ông Khoát bước vội vào sân, giọng ngập ngừng, e dè. “Cứu vãn được mấy phần trăm? Có... có vớt vát được chút nào cho lợn ăn không?”
Không ai trả lời câu hỏi của ông bằng lời nói.
Trần Bình, với bắp chân đã được băng bó gọn gàng và chiếc gậy tre chống bên sườn, bước từng bước vững chãi từ trong lòng lò gạch đi ra. Trên hai bàn tay vạm vỡ, nứt nẻ của anh là một chiếc rá tre lớn chất đầy những hạt ngô vàng óng ả.
Bình dừng lại trước mặt Chủ nhiệm Khoát, từ từ hạ chiếc rá tre xuống.
Ánh nắng ban mai rực rỡ chiếu rọi vào lòng rá ngô. Hàng ngàn hạt ngô căng mẩy, vàng ruộm như những hạt ngọc, khô ráo hoàn toàn và phát ra những tiếng kêu lách tách vui tai khi cọ xát vào nhau.
Ông Khoát sững sờ. Đôi mắt ti hí của ông ta mở to hết cỡ, chiếc bút máy kẹp ở ngón tay suýt chút nữa lại rơi xuống đất một lần nữa. Ông ta run rẩy quỳ một chân xuống, vục cả hai bàn tay vào rá ngô, múc lên một vốc đầy rồi đưa sát lên mắt soi xét từng li từng tí.
Hạt ngô cứng cáp, vỏ bóng loáng, khô kiệt nước phù sa nhưng không hề có dấu hiệu bị teo tóp hay chín ép vì quá nhiệt. Ông Khoát dùng móng tay cái bấm mạnh vào một hạt ngô để kiểm tra phôi mầm. Lớp mày hạt bật ra, lộ ra mầm ngô bên trong trắng ngà, dẻo quánh và tràn đầy sức sống. Phôi mầm vẫn còn sống nguyên vẹn!
“Trời... đất ơi...” Ông Khoát lẩm bẩm, giọng run bần bật vì kinh ngạc đến mức không thốt nên lời. “Khô ráo... khô sạch sẽ... Phôi mầm nguyên vẹn không sứt mẻ một ly nào!”
Cần thủ kho từ phía sau chạy ùa tới, ôm lấy một chiếc cân bàn đặt ở góc sân, vừa cân vừa ghi chép số liệu tổng kết rồi hét toáng lên trong niềm hân hoan tột đỉnh:
“Báo cáo Ban quản trị! Báo cáo đồng chí Chủ nhiệm! Chúng ta đã cứu được hai tấn tám sắn lát khô và hơn ba tấn hai ngô giống! Tỷ lệ hao hụt chỉ chưa đầy mười lăm phần trăm do rơi vãi và dập nát lúc sập mái kho! Hơn tám mươi phần trăm ngô giống loại một đã được bảo toàn tuyệt đối!”
Một tràng pháo tay rầm rộ kèm theo những tiếng hò reo vang dội bùng nổ khắp bãi Soi. Những người nông dân lam lũ, những xã viên Đội 3 sau một ngày hai đêm không ngủ, kiệt sức vì vật lộn với sóng dữ và ngọn lửa lò sấy, bỗng chốc ôm chầm lấy nhau mà khóc ròng trong niềm hạnh phúc tột cùng. Mùa đông này họ sẽ không phải chịu cảnh đứt bữa, vụ chiêm xuân tới đồng đất An Hòa sẽ lại phủ kín những mầm ngô xanh mướt mượt mà.
Ông Bùi Đắc Khoát đứng bật dậy, hai bàn tay vẫn còn dính đầy phấn ngô vàng óng. Ông ta nhìn Trần Bình, rồi quay sang nhìn Nguyễn Hoài An đang đứng lặng lẽ bên cạnh giàn nứa. Người cán bộ quản lý vốn hay dùng những khẩu hiệu to tát, khô khan bỗng chốc nghẹn ngào, chiếc bút Kim Tinh trong tay run run:
“Đồng chí Bình... Cô An... Tôi... tôi thay mặt Ban quản trị hợp tác xã, thay mặt cho toàn thể bà con An Hòa... ghi nhận công lao to lớn này của Đội 3! Sáng kiến kỹ thuật lò sấy đối lưu này... tôi sẽ đích thân làm báo cáo điển hình gửi thẳng lên Huyện ủy và Ty Nông nghiệp! Thật là kỳ tích... một kỳ tích chưa từng có!”
Giữa những tiếng reo hò rộn rã và những lời tán tụng không ngớt của mọi người, An chỉ mỉm cười hiền hậu. Cô đưa tay áo quẹt vệt tro than còn vương trên trán, hít một hơi thật sâu bầu không khí trong lành, ngát hương đất trời sau cơn mưa bão. Gánh nặng ngàn cân đè nặng lên vai cô suốt mấy ngày qua cuối cùng đã được trút bỏ hoàn toàn.
Đúng lúc ấy, An cảm nhận được một ánh nhìn nồng ấm đang hướng về phía mình.
Cô khẽ ngẩng đầu lên. Cách đó vài bước chân, Trần Bình đang đứng tựa vào chiếc cọc tre, lặng lẽ nhìn cô. Ánh nắng ban mai rực rỡ dát vàng lên v*m ng*c rộng, lên bờ vai sương gió và gương mặt cương trực của người lính. Trong đôi mắt đen lánh, sâu thẳm của anh lúc này không chỉ có niềm vui thắng lợi, mà còn rực sáng một niềm tin yêu, sự thấu hiểu và lòng ngưỡng mộ vô bờ bến dành riêng cho cô.
Bốn mắt nhìn nhau giữa sân kho ngập tràn sắc vàng của hạt ngô mới. Không cần một lời nói hoa mỹ, không cần một cử chỉ phô trương, sự giao cảm kỳ diệu giữa hai tâm hồn đã vượt qua bao gian nan, thử thách, bền chặt và nảy nở như mầm sống kiên cường vừa được cứu thoát khỏi làn nước lũ.