Trần Bình dựng chiếc xe đạp Thống Nhất cũ vào hiên nhà, tháo chiếc xẻng bộ binh đeo bên hông xuống. Nhìn thấy An đang ngồi bệt bên mép hố, một tay ôm lấy cổ tay bên kia khẽ x** n*n, gương mặt thanh tú thoáng vẻ nhăn nhó, bước chân anh lập tức sải dài nhanh hơn. Đôi dép cao su đúc bốn quai bước thình thịch qua khoảng sân gạch mọc đầy rêu xanh.
“Sao thế mình? Cuốc phải đá à?”
Bình quỳ một bên gối xuống nền đất lạnh, giọng nói trầm ấm chất chứa sự xót xa không hề che giấu. Anh vội vã buông chiếc xẻng thép xuống đống cỏ gấu vừa nhổ, đưa bàn tay to bản, thô ráp đầy những vết chai sần đỡ lấy bàn tay mảnh dẻ của An. Những ngón tay cô lạnh ngắt vì gió bấc, lòng bàn tay đỏ rực lên, gân xanh nơi cổ tay vẫn còn giật giật nhè nhẹ vì phản lực kinh người vừa dội lại.
An ngước nhìn chồng, cố nén cơn tê buốt đang chạy dọc sống tay, khẽ mỉm cười trấn an:
“Không phải đá đâu anh. Em vừa bổ nhát cuốc thứ hai xuống để xem tầng đất dưới... Ai ngờ bên dưới lớp tro bếp này là cả một khối đất sét chai cứng như sắt nguội. Lưỡi cuốc bàn bổ xuống nảy đanh tanh tách, suýt nữa thì văng khỏi tay em.”
Bình quay sang nhìn chiếc cuốc bàn nằm chỏng chơ bên cạnh. Đầu lưỡi cuốc bằng sắt rèn đã bị mẻ một mảnh li ti, trên mặt đất chỉ để lại một vệt cào trắng bệch dài chưa đầy nửa đốt ngón tay. Anh nhặt chiếc xẻng bộ binh lên. Đó là chiếc xẻng công binh dã chiến của Liên Xô, cán gỗ sồi ngắn ngủn nhưng lưỡi thép năm góc vát nhọn được tôi luyện đen bóng, mép xẻng mài sắc lẹm từng cùng anh đào công sự, bạt núi khoét hầm suốt những năm tháng khói lửa ở chiến trường miền Đông.
Bình đứng dậy, dồn toàn bộ sức nặng của thân hình vạm vỡ và bờ vai rộng, cắm phập mũi xẻng xuống ngay cạnh vết cuốc của An.
Kịch!
Lưỡi thép tốt như vậy mà cũng chỉ ngập sâu được chừng hai đốt ngón tay rồi khựng lại, phát ra âm thanh tức tối như đâm vào một tấm gỗ lim ngâm bùn trăm năm. Bình nghiến răng, dùng gót ủng dận thêm hai phát thật mạnh, mũi xẻng mới bập sâu thêm được một chút. Anh gồng cơ bắp cuồn cuộn nơi cánh tay, bẩy mạnh một mảng đất lên.
Một tảng đất sét màu xám chì pha lẫn ánh xanh nhờ nhờ của quặng sắt bị khử vỡ ra. Khối đất đặc quánh, mịn lì, không có lấy một bọt khí hay một sợi rễ cỏ nào có thể len lỏi qua nổi.
“Đúng là đất chai rồi,” Bình thở dài, quệt vệt mồ hôi vừa rịn ra trên trán dù gió lạnh đang thổi thốc qua rặng tre. “Mảnh vườn này từ ngày u chuyển về đây sau trận lụt năm bảy mốt hầu như bỏ hoang. Đất thịt phù sa trôi hết ra sông, u chỉ biết cào tro trấu trong bếp đổ ra, dẫm đi dẫm lại bao năm thành ra thế này. Đất thế này thì tra hạt đỗ, hạt ngô nào xuống cũng thối mầm hết thôi mình ạ. Hay là để tôi ra bãi sông gánh đất màu về đổ lên?”
“Gánh đất màu làm sao xuể được hai sào vườn hả anh?” An lắc đầu, ánh mắt sáng lên nét kiên định của người làm khoa học. “Hai sào đất, nếu muốn đổ một lớp đất mặt dày hai mươi phân để rễ cây ăn được thì phải cần đến cả trăm chuyến xe bò, hàng ngàn gánh đất. Sức người có hạn, lại đang giữa vụ đông rét mướt thế này, gánh xong đất thì người cũng kiệt sức.”
Cô đứng dậy, phủi nhẹ bụi đất bám trên gấu quần lụa đen, đưa tay đón lấy tảng đất sét lạnh buốt trên tay Bình, bóp nhẹ:
“Đất rắn đến đâu thì cũng phải chịu thua rễ cây và con giun, con dế. Đây là tầng đế cày bị nén dẽ cực đoan do thiếu chất hữu cơ và bị kiềm hóa vì tro bếp. Càng dùng sức người đập phá cơ học thì đất càng nhanh nát vụn thành bụi chết. Muốn trị nó, ta phải dùng sinh học, lấy mềm buộc chặt.”
Bình tròn mắt nhìn vợ, trong ánh mắt lộ rõ vẻ thán phục lẫn tò mò:
“Dùng sinh học là sao hả mình? Giun dế thì đào đâu ra giữa mùa đông khô khốc thế này?”
An nhoẻn miệng cười, nụ cười rạng rỡ xua tan đi cái ảm đạm của buổi chiều đông xám xịt:
“Thì vợ chồng mình đi tìm chúng về! Em quan sát rồi, rãnh mương dẫn nước thải từ giếng làng chảy qua chân rặng tre sau bến Đầm quanh năm có lá tre mục và bùn ẩm, chỗ ấy chắc chắn có giống trùn quế, giun khoang bản địa đang trú đông. Chúng ta sẽ bắt chúng về, lập một khu ủ mùn sinh học ngay dưới bóng rặng chuối tiêu sau chuồng lợn kia. Có giun cày xới ngày đêm, lại thêm rơm rạ mục và phân chuồng hoai, chỉ vài tháng nữa thôi, chính đàn giun sẽ khoan thủng cái tầng đất sét chai cứng này thành đất xốp như bột bánh khảo!”
Nhìn dáng vẻ tự tin, rành rẽ từng đường đi nước bước của An, bao mệt mỏi và lo âu trong lòng Bình bỗng chốc tan biến. Anh nắm chặt cán xẻng, cười rạng rỡ:
“Được! Miễn là mình tính, việc nặng nhọc cứ để tôi lo. Đi, tôi xách xô mang xẻng đi theo mình bắt giun!”
Hai vợ chồng xắn cao gấu quần quá gối. Bình xách theo chiếc xô tôn gỉ ngoặc và chiếc xẻng bộ binh, An cầm chiếc bay nhỏ và một manh bao tải gai ẩm. Họ men theo bờ rào cúc tần dẫn ra rãnh nước ngầm sau làng.
Gió đông bắc rít từng cơn lạnh buốt qua những ngọn tre gai, nhưng không khí lao động lại nóng lên từng phút. Rãnh mương sau bến Đầm nước cạn trơ đáy, phủ đầy một lớp lá tre rụng dày cộp đã mục nát, bốc lên mùi ngai ngái nồng đậm của mùn hữu cơ tự nhiên. Bình không để An bước xuống bùn lạnh, anh tự mình xắn quần lội xuống rãnh mương ngập tới bắp chân, dùng lưỡi xẻng bộ binh hớt từng mảng bùn lẫn lá mục hất lên bờ đất khô ráo cho cô.
“Kìa anh, chỗ này nhiều lắm!” An reo khẽ, ngồi xổm trên bờ, đôi tay thoăn thoắt bới lớp bùn đen xốp.
Dưới lớp lá tre hoai mục ẩm ướt, từng búi giun khoang màu đỏ tía, thân to bằng cọng rơm, khoanh tròn từng đoạn đang cuộn tròn trốn rét. Đó là giống giun đất bản địa khỏe khoắn, sức ăn tạp vô cùng mãnh liệt. An cẩn thận nhặt từng con thả vào chiếc xô tôn đã lót sẵn một lớp bùn lá ẩm, động tác nâng niu như thể đang thu thập những hạt giống quý giá nhất.
Bình nhìn An tỉ mỉ nhặt từng con sâu đất, không hề có chút e dè hay sợ sệt bẩn thỉu như những cô gái thành thị hay cán bộ trên huyện về thực tế, lòng anh dâng lên một niềm cảm phục và yêu thương vô bờ. Anh hăng hái vung xẻng, bới hết mảng bùn này đến mảng bùn khác. Đến khi bóng chiều bắt đầu ngả sang màu tím thẫm trên dòng sông Đáy, đáy xô tôn đã lúc nhúc hàng ngàn con giun khoang khỏe mạnh, béo múp míp.
Về đến nhà, An lập tức chỉ huy Bình bắt tay vào dựng “ngôi nhà” cho đàn giun. Nơi được chọn là khoảnh đất râm mát quanh năm dưới bóng bụi chuối tiêu rậm rạp sau chuồng lợn cũ. Chuối tiêu tán rộng che chắn gió bấc cực tốt, lại giữ được độ ẩm tự nhiên của đất.
Bình dùng xẻng đào một hố nông dài chừng hai mét, sâu khoảng hai gang tay. An gom những tàu lá chuối khô đã rụng quanh gốc, xé nhỏ ra lót một lớp dày dưới đáy hố để giữ ẩm và ngăn giun bò trốn xuống tầng đất sét bên dưới. Tiếp đó, cô rải một lớp phân lợn cũ đã hoai mục mà u Mẫn gom trong góc chuồng từ năm ngoái, tưới lên một ít nước vo gạo ấm rồi mới cẩn thận trút toàn bộ số giun khoang vừa bắt được vào giữa. Đàn giun gặp môi trường phân hoai và mùn ẩm lập tức ngọ nguậy, nhanh chóng chui sâu vào bên dưới lớp lá. Trên cùng, An phủ thêm một lớp rơm rạ ẩm tơi xốp để giữ nhiệt.
“Thế này là xong tổ ấm cho chúng rồi,” An thở phào, đứng thẳng người vươn vai. “Mỗi ngày chỉ cần tưới chút nước rửa rau, đổ bã vỏ củ sắn hay rơm vụn vào đây, giun sẽ ăn phân và rác mục rồi thải ra loại phân trùn màu mỡ nhất trần đời. Khi đàn giun sinh sôi nảy nở gấp năm, gấp mười lần, ta sẽ đem rải chúng ra từng luống vườn. Chúng sẽ thay chiếc cuốc sắt của anh, tự động cày xới tầng đất sét kia từ sáng đến đêm mà không biết mệt mỏi.”
Bình nhìn khoảnh đất vừa được phủ rơm phẳng phiu dưới gốc chuối, trong mắt lấp lánh niềm hy vọng. Anh gật đầu lia lịa:
“Hay thật đấy mình ạ. Đúng là người có học có khác, biến rác rưởi với mấy con giun đất thành thợ cày thợ cuốc. Nhưng mà này mình, đàn giun này phải mất vài tháng mới cải tạo xong đất, thế còn mùa đông này vườn nhà mình lấy gì mà ăn? Chỉ tiêu lương thực tháng này xã vừa thông báo rồi, mỗi nhân khẩu chỉ được có tám cân rưỡi thôi, lại độn thêm hai phần ba sắn lát mốc.”
Câu hỏi thực tế của Bình chạm đúng vào nỗi trăn trở canh cánh trong lòng An suốt mấy ngày qua. Cô nhìn sang góc sân, nơi đống rơm rạ ướt vớt được từ kho đầm Lội sau đợt lũ tháng Tám đang được dựng thành một cây rơm nhỏ để phơi hanh.
Những cọng rơm này đã bị ngâm nước lũ, tuy đã được phơi khô lại nhưng đã ngả sang màu vàng xỉn của rơm cũ, sợi rơm mềm oặt, đem đun bếp thì nhiều khói mà cho trâu ăn thì trâu chê vì nhạt thếch. Nhưng trong mắt một kỹ sư công nghệ sinh học như An, đây lại là một mỏ vàng dinh dưỡng khổng lồ đang bị bỏ quên.
“Chúng ta sẽ trồng nấm rơm, anh ạ!” An dứt khoát nói.
Bình giật thót mình, mắt trợn tròn:
“Trồng nấm? Nấm rơm ấy à? Xưa nay tôi chỉ nghe người ta đi hái nấm mối, nấm tràm trên rừng hay nấm mọc hoang ở đống rơm mục sau cơn mưa rào mùa hè, chứ nấm mà cũng trồng được như trồng rau ư? Lại còn giữa mùa đông rét căm căm thế này?”
“Trồng được chứ anh!” An mỉm cười giải thích, giọng đầy cuốn hút. “Rơm rạ bản chất là chất xơ xen-lu-lô, chính là thức ăn khoái khẩu của hệ sợi nấm. Đợt lũ vừa rồi làm rơm bị ẩm mục dở dang, sợi rơm đã mềm ra, rất dễ tiêu hóa. Chỉ cần mình biết cách xử lý nhiệt độ và độ ẩm, tạo cho nó một tiểu khí hậu ấm áp thì mùa nào nấm cũng mọc được. Thịt nấm rơm vừa ngọt, vừa giàu đạm chẳng kém gì thịt lợn, lại có thể thu hoạch chỉ sau mười lăm đến hai mươi ngày!”
Đúng lúc đó, cánh cửa liếp mở cọt kẹt, bà cụ Mẫn chống gậy bước ra hiên. Nghe loáng thoáng câu chuyện của hai con, gương mặt già nua đầy những nếp nhăn của bà thoáng vẻ thảng thốt. Bà bước vội xuống sân, đôi bàn tay gầy guộc run run vịn vào vai An:
“Chết thôi con ơi! Sao lại tính chuyện ăn nấm rơm bậy bạ thế? Xưa các cụ bảo nấm mọc ngoài đồng lắm thứ có độc, ăn vào sùi bọt mép, đứt ruột mà chết đấy con! Với lại đống rơm ấy u để dành mùa đông đun bếp nấu cám, sưởi ấm cho lợn, mang ra nghịch nhỡ hỏng hết thì lấy gì nhóm lửa hả con?”
An ân cần nắm lấy bàn tay khô ráp của mẹ chồng, nhẹ nhàng đỡ bà ngồi xuống chiếc ghế đẩu dưới bóng râm:
“U đừng lo. Nấm rơm trắng là loại nấm lành nhất trần đời, thơm ngọt bổ dưỡng lắm u ạ. Con đã học kỹ cách phân biệt và cấy meo nấm thuần chủng rồi, tuyệt đối không có nấm tạp hay nấm độc đâu. Còn rơm đun bếp thì u yên tâm, con chỉ xin u vài gánh rơm cũ đã bị mốc ẩm ở chân đống thôi. Số rơm này sau khi cho nấm ăn xong, nó mủn ra thành mùn mục, con lại đem bón cho luống rau thì tốt gấp mười lần tro bếp đấy u!”
Bình cũng bước lại gần, chen vào đỡ lời vợ:
“U cứ để nhà con làm thử xem sao u ạ. Nhà con học trường lớp bài bản, đợt trước cứu cả kho giống mười mấy tấn cho hợp tác xã, u thấy có sai tí nào đâu. Mình chịu đói mãi sao được, có thêm cây nấm nấu bát canh nóng mùa đông này thì quý hơn vàng đấy u.”
Nhìn ánh mắt kiên định của con trai và nét mặt chân thành, tự tin của cô con dâu hiền thục, bà cụ Mẫn thở dài một tiếng rồi gật đầu, hàm răng đen nhánh khẽ nở một nụ cười bao dung:“Thôi thì... các con tính sao thấy phải thì cứ làm. U già rồi, chả biết chữ nghĩa khoa học là cái giống gì, chỉ mong sao cho cái bếp nhà mình có củi đun, cái nồi có cái ăn qua đợt giáp hạt này là u mừng rớt nước mắt rồi.”
Được sự đồng thuận của cả nhà, An lập tức bắt tay vào việc ngay trong chiều hôm ấy.
Quy trình trồng nấm rơm mùa đông đòi hỏi sự khắt khe về vô trùng và nhiệt độ, không thể làm ẩu như mùa hè. Đầu tiên là khâu khử trùng nguyên liệu. An bảo Bình bê chiếc chum sành đại chuyên dùng để trữ nước mưa ra góc vườn, hòa một bát vôi tôi vào nước lã, khuấy đều lên tạo thành một dung dịch nước vôi trong có độ kiềm nhẹ.
“Nước vôi này có tác dụng gì thế mình?” Bình vừa gánh từng đôi nước đổ vào chum vừa hỏi.
“Nước vôi kiềm tính sẽ tiêu diệt toàn bộ các bào tử nấm mốc tạp, vi khuẩn hoại sinh đang ẩn nấp trong rơm ướt sau đợt lũ,” An vừa thoăn thoắt nhúng từng bó rơm vào chum vừa giải thích. “Đồng thời, chất kiềm nhẹ sẽ làm mềm lớp vỏ sáp bao bọc bên ngoài cọng rơm, giúp sợi nấm sau này dễ dàng đâm xuyên vào hút chất dinh dưỡng. Nếu không có nước vôi xử lý, nấm mốc đen, mốc xanh sẽ mọc tranh hết thức ăn, nấm rơm của mình sẽ bị thối ngay từ trong trứng nước.”
Rơm được ngâm ngập trong nước vôi chừng hai mươi phút cho ngấm đều rồi vớt ra, chất thành một đống cao trên nền đất khô ráo có rãnh thoát nước, dùng bạt rách và bao tải dứa ủ kín lại để kích hoạt quá trình tự sinh nhiệt lên men ban đầu.
Hai ngày sau, khi mở đống ủ ra, một luồng hơi nóng nghi ngút bốc lên, mang theo mùi chua ngọt dễ chịu của rơm rạ đang lên men hiếu khí. An thò tay vào sâu trong đống rơm kiểm tra, nhiệt độ bên trong ước chừng đã đạt khoảng năm mươi độ C — nhiệt độ lý tưởng để thanh trùng tự nhiên.
Công đoạn quan trọng nhất chính là cấy meo nấm. Thời bao cấp không có các bịch meo nấm sản xuất công nghiệp bằng hạt thóc hay mùn cưa như thế kỷ 21. Nhưng An đã có sự chuẩn bị từ trước. Trong những ngày đi thực tế ngoài bãi sông, cô đã nhặt nhạnh những cụm nấm rơm mọc hoang khỏe mạnh ở chân các đống rơm mục ven bờ đê, cẩn thận đem về nuôi cấy nhân giống trên giá thể rơm băm nhỏ trộn với chút cám gạo rang và nước cơm loãng đựng trong những chiếc chai thủy tinh nút bông gòn sạch sẽ. Đến nay, những sợi nấm màu trắng ngà mịn màng như tơ nhện đã bò kín đáy chai, tỏa ra mùi thơm ngát đặc trưng của nấm tươi.
Dưới tán lá râm mát của rặng chuối tiêu, Bình dùng cuốc vun thành từng luống đất cao chừng một gang tay, rộng chừng nửa mét để làm luống nấm. An hướng dẫn anh rải từng lớp rơm đã ủ nóng lên luống, dùng hai bàn chân nén chặt rơm lại thành một khối vững chãi dày khoảng mười phân.
Sau đó, An cẩn thận dùng thìa tre khều từng nhúm meo nấm trắng muốt từ trong chai thủy tinh ra, cấy đều đặn cách mép luống chừng năm phân, mỗi điểm cấy cách nhau một gang tay. Cứ một lớp rơm nén chặt lại rải một lớp meo nấm, xếp thành ba tầng như hình một chiếc mai rùa úp. Trên cùng, cô phủ một lớp rơm khô xốp dày gần một gang tay để vừa che ánh sáng trực tiếp, vừa giữ ấm cho mô nấm trước những đợt gió mùa đông bắc lùa qua.
“Xong rồi đấy anh!” An quẹt vệt bùn trên má, mồ hôi ướt đẫm hai bên tóc mai nhưng ánh mắt rạng ngời niềm vui. “Bây giờ việc của mình là hàng ngày dùng chiếc chổi rơm nhúng vào nước ấm, vẩy nhẹ sương lên mặt luống nấm để duy trì độ ẩm. Tuyệt đối không được tưới đẫm nước lã lạnh ngắt, sợi nấm sẽ bị sốc nhiệt mà chết rét.”
Những ngày sau đó, góc vườn sau chuồng lợn trở thành nơi thu hút sự chú ý đặc biệt của cả gia đình.
Sáng nào cũng vậy, trước khi tiếng kẻng hợp tác xã vang lên báo hiệu giờ ra đồng làm việc, Bình đều xách thùng nước ấm ra cho An chăm sóc các mô nấm. Anh học theo vợ cách kiểm tra nhiệt độ mô nấm bằng cách luồn nhẹ bàn tay vào sâu trong lớp rơm phủ. Khi cảm nhận được luồng hơi ấm áp, ẩm ướt phả vào lòng bàn tay như thể có một sinh linh nhỏ bé đang thở bên trong, lòng người cựu chiến binh lại rộn lên một cảm giác kỳ diệu khó tả. Giữa mùa đông giá rét căm căm, khi vạn vật ngoài đồng đều co ro, héo úa vì sương muối, thì ngay dưới bóng rặng chuối tiêu cằn cỗi này, một dòng chảy sự sống mãnh liệt đang âm thầm sinh sôi.
Bà cụ Mẫn ban đầu vẫn còn bán tín bán nghi. Mỗi lần đi ngang qua đống rơm úp dưới gốc chuối, bà lại dừng lại nhìn ngó, lẩm bẩm cầu trời khấn phật cho hai đứa con không phải chịu cảnh công dã tràng.
Mười ngày trôi qua trong sự chờ đợi thấp thỏm.
Đến ngày thứ mười hai, thời tiết đột ngột trở lạnh đậm. Nhiệt độ ngoài trời giảm sâu xuống dưới mười hai độ C, bầu trời xám xịt như chì, mưa phùn bắt đầu giăng mắc khắp các nẻo đường làng An Hòa. Bữa cơm chiều của gia đình chỉ có độc một đĩa sắn củ thái mỏng luộc độn thêm chút gạo đỏ và một bát canh rau tàu bay nấu suông với muối hạt. Nhìn mẹ chồng nuốt nghẹn từng miếng sắn khô khốc, lòng An thắt lại. Cô biết mình không được phép thất bại.
Sáng sớm ngày thứ mười bốn, khi sương mù còn dày đặc che khuất rặng tre đầu làng, An quàng chiếc khăn len cũ bước ra vườn sau. Cô nhẹ nhàng lật mép lớp rơm khô bên sườn mô nấm lên để kiểm tra độ ẩm.
Một cảnh tượng kỳ diệu đập vào mắt khiến tim An đập rộn ràng liên hồi!
Dưới lớp rơm mục màu nâu xỉn, chằng chịt những mạng sợi tơ nấm màu trắng ngà đan xen như một tấm lưới dệt tinh xảo. Và nổi bật trên nền tơ nấm ấy là hàng trăm, hàng ngàn những búp nấm rơm bé xíu bằng hạt ngô, hạt đậu xanh đang chen chúc nhau nhú lên! Chúng tròn xoe, bóng bẩy, đội từng mảnh vụn rơm rạ mà vươn lên, mang một màu xám bạc khỏe khoắn và tràn đầy sức sống.
“Anh Bình ơi! U ơi! Nấm ra rồi! Nấm ra thật rồi!”
Tiếng gọi reo vui như trẻ thơ của An phá tan bầu không khí tĩnh mịch của buổi sớm mùa đông.
Bình từ trong bếp đang nhóm dở nồi nước lá vội buông thanh củi, lao bổ ra vườn. Bà cụ Mẫn cũng chống gậy lập cập bước theo sau.
Ba người quây quần bên mô rơm dưới gốc chuối tiêu. Khi An cẩn thận dỡ toàn bộ lớp rơm áo che chắn bên ngoài ra, tất cả đều sững sờ không thốt nên lời.
Không chỉ là những mầm nấm li ti, mà ở những góc đón được hơi ấm của hố ủ trùn quế bên cạnh, từng chùm nấm rơm to bằng ngón chân cái, bằng quả trứng chim cút đã bung nở tròn lẳn, mập mạp, trắng muốt như những chiếc cúc áo ngọc bích nằm rải rác khắp mặt luống rơm. Mùi thơm thanh khiết, ngai ngái ngọt ngào của đất mẹ và nấm tươi bốc lên ngào ngạt trong không gian ẩm ướt, át đi cả mùi bùn tanh của chuồng lợn cũ.
Bà cụ Mẫn run rẩy quỳ một bên gối xuống đất, đôi bàn tay gầy gò nhăn nheo khẽ chạm vào một búp nấm rơm tròn trĩnh, mát rượi. Đôi mắt mờ đục của người mẹ già bỗng chốc nhòe lệ:
“Trời phật ơi... Thật này con ơi! Nấm mọc thật rồi! Tròn xoe, trắng trẻo thế này... Cả đời u chưa bao giờ thấy nấm rơm lại mọc dày đặc thành từng chùm như khoai đẻ thế này giữa mùa đông!”
Bà ngước nhìn An, ánh mắt chan chứa sự kinh ngạc lẫn niềm khâm phục và yêu thương vô hạn:
“Con dâu của u giỏi quá... Đúng là tay vàng tay bạc! Thế này thì nhà mình không lo đứt bữa nữa rồi con ơi!”
Bình đứng sững bên cạnh, nhìn những búp nấm mập mạp rồi lại nhìn gương mặt rạng rỡ của vợ dưới ánh sương mai. Lồng ngực anh căng tràn một niềm kiêu hãnh và xúc động khôn tả. Anh cúi xuống, bàn tay to lớn nhẹ nhàng đỡ lấy bả vai mảnh dẻ của An, siết nhẹ như một lời cảm ơn sâu sắc nhất tự đáy lòng mà người lính ít nói như anh không thể diễn đạt hết bằng lời.
“Nào, u với anh giúp con hái nhé,” An vui vẻ đưa cho mẹ chồng chiếc rổ sảo đan bằng tre cật. “Phải hái lúc búp nấm còn tròn, bao nấm chưa nứt thì ăn mới ngọt và giòn nhất. Cứ dùng hai ngón tay cầm sát gốc nấm, xoay nhẹ một cái là nấm rời ra, không được giật mạnh làm đứt chân nấm bên dưới, để mấy hôm nữa lứa nấm con lại mọc tiếp đấy ạ.”
Cả ba người bắt tay vào thu hoạch. Những tiếng cười nói khe khẽ, râm ran vang lên dưới bóng chuối tiêu râm mát. Từng búp nấm rơm trắng nõn nà, mũm mĩm, còn đọng những giọt sương mai lấp lánh lần lượt được đặt nhẹ nhàng vào lòng rổ tre. Chỉ một loáng sau, chiếc rổ sảo đã đầy ắp, nặng trịch chừng ba, bốn cân nấm tươi non mơn mởn. Bữa trưa nay, nồi cơm độn sắn của gia đình chắc chắn sẽ có thêm một bát canh nấm nấu hành thơm lừng, ngọt lịm đậm đà vị ngọt tự nhiên của đạm thực vật — thứ dinh dưỡng quý giá như ngọc thực giữa những ngày bao cấp thiếu thốn trăm bề.
An vừa nâng niu nhấc chiếc rổ sảo đầy ắp nấm tươi lên ngang ngực, toan mang vào bếp gọt chân nấm và chuẩn bị bữa ăn, thì bất chợt...
Rầm!
Một tiếng động chát chúa vang lên từ phía cổng trước. Cánh cổng tre đan của gia đình bị ai đó thô bạo đạp tung ra, đập mạnh vào bờ rào dâm bụt kêu răng rắc.
Tiếp theo đó là tiếng bước chân thình thịch vội vã, tiếng kim loại va chạm lách cách và những giọng nói oang oang, gay gắt mang đầy vẻ hách dịch xông thẳng vào khoảng sân gạch:
“Đồng chí Trần Bình có nhà không? Ban chỉ huy tổ kiểm soát thị trường xã An Hòa đây!”
Nụ cười trên môi An lập tức vụt tắt. Bà cụ Mẫn giật thót mình, run rẩy làm rơi cả chiếc gậy tre xuống đất. Bình lập tức biến sắc, nhanh như cắt bước lên chắn ngay phía trước hai người phụ nữ, ánh mắt cương nghị của người lính chiến trường lập tức thu hẹp lại, lóe lên những tia nhìn cảnh giác và sắc lạnh.
Từ ngoài ngõ, bốn bóng người đằng đằng sát khí rảo bước xông thẳng vào sân. Dẫn đầu là một người đàn ông trung niên mặc áo đại cán xanh công nhân, cánh tay đeo chiếc băng đỏ chói lọi có dòng chữ “TỔ KIỂM SOÁT THỊ TRƯỜNG”, khuôn mặt quắt queo đầy vẻ nghiêm nghị và soi mói. Đi sát phía sau hắn là hai dân quân tự vệ vai khoác súng trường CKC bọc vải bạt, và một người đàn bà dong dỏng cao, mặt quắt tai dơi với ánh mắt sắc lẹm đầy vẻ đắc thắng — không ai khác chính là bà Phó Tươi!
Người đàn ông đeo băng đỏ dừng khựng lại giữa sân, đưa mắt đảo một vòng quét khắp khu vườn sau nhà, rồi dừng trừng trừng vào cây rơm lớn vừa được dỡ dở bên góc sân và những ụ rơm úp ngay ngắn dưới rặng chuối tiêu.
Hắn ta chống nạnh, chỉ thẳng ngón tay khẳng khiu vào mặt Bình, cất giọng the thé hạch sách:
“Báo cáo có tin báo tố giác của quần chúng nhân dân! Chúng tôi nhận được phản ánh gia đình đồng chí Trần Bình lợi dụng chức vụ Đội trưởng Đội ba, có hành vi tàng trữ rơm rạ và phế phẩm nông nghiệp của hợp tác xã với số lượng lớn bất thường! Nghi vấn có dấu hiệu đầu cơ tích trữ nguyên liệu trái phép để nấu rượu lậu và phát triển kinh tế cá thể tiểu tư sản!”
Ánh mắt người đàn ông đảo qua chiếc rổ sảo trên tay An, nhìn thấy những búp nấm rơm trắng muốt mọc dày đặc, đôi mắt hắn trợn trừng lên như bắt được quả tang một vụ án tàng trữ hàng quốc cấm:
“Kìa! Tang vật rành rành ra đấy! Ai cho phép các người tự tiện đem tài sản phụ phẩm của tập thể về đây trục lợi hả? Mau bỏ hết đồ đạc xuống, giữ nguyên hiện trường để đoàn kiểm tra lập biên bản tịch thu!”