Úc Nương - Thập Sáo Tiên Bính Bất Yếu Đản

Chương 7

Phần 7

Thôi Thiệu vốn thông minh trời phú, ta vốn cho rằng chỉ dạy một lần là sẽ hiểu. Ta đâu ngờ học đã lâu mà chàng vẫn chưa nhào xong chậu bột kia. Ta khẽ thở dài, đâu thể bỏ phí số bột trắng mịn kia.

Ta xắn tay áo, cũng đưa tay vào chậu bột: “Thật ra cũng chẳng có gì đặc biệt, bột ít thì cho nước ít, nước nhiều thì cho nhiều bột…”

Nào hay vừa nhào vừa trộn, chẳng biết vì cớ gì mà tay ta và chàng lại dính chặt vào nhau.

Thôi Thiệu nắm tay ta, ý cười rạng rỡ: “Ta đã học xong rồi, Úc Nương quả thật là người thầy giỏi.”

Từ đó, tại quán bánh nhỏ nơi đầu ngõ, khi bóng hoàng hôn rơi xuống, mọi người có thể thấy Thôi Thiệu tựa trăng thanh gió mát, xắn tay áo, đập nện bột, lò lửa hồng rực hắt lên gương mặt chàng ửng đỏ, thế nhưng chàng không hề ghét bỏ, tựa hồ vui thú lạ thường.

Chiều ấy, một chiếc xe ngựa sang quý dừng bên quán bánh.

Lúc này, quán bánh của Úc Nương đã có chút danh tiếng ở vùng lân cận, ngay cả các nhà giàu cũng đến mua cho lạ miệng, vì vậy ta cũng chẳng mấy để tâm. Cứ ngỡ lại là người giàu có nào quen vị sơn hào hải vị, muốn đổi khẩu vị.

Cho đến khi một người trung niên mặc triều phục bước từ trên xe xuống.

“Đại nhân, ngài muốn mấy cái?”

Người đàn ông trung niên trừng mắt nhìn ta một cái rồi quay sang nhìn Thôi Thiệu với vẻ xót xa: “Quả nhiên là cháu! Thôi… Thiệu!”

Giọng nghiến răng nghiến lợi, cứ như Thôi Thiệu đã phạm tội tày đình.

Thôi Thiệu ngẩng đầu nhìn qua một cái, tay vẫn không ngừng: “Thì ra là Lưu bá phụ, ngài cũng muốn nếm thử bánh nướng của nương tử ta sao? Tám xu một cái.”

“Thật chẳng ra thể thống gì! Cháu đường đường là con trai độc nhất của Thôi thị mà lại như người bán hàng chợ búa, thật sự khiến thế gia mất mặt! Đến cả Hoàng thượng cũng đã biết chuyện cháu bán bánh, sáng nay còn cười nói việc ấy trên triều. Ta vốn không tin, nay tận mắt trông thấy, cháu quả thật chẳng chút liêm sỉ nào! Ngày trước ta thật sự nhìn lầm rồi, còn tưởng cháu có thể giúp Thôi thị Đông sơn tái khởi!”

Lưu đại nhân lời lẽ phẫn nộ, tựa như Thôi Thiệu có lỗi với ông ta vậy.

Thôi Thiệu giễu cợt một tiếng: “Mất mặt ư? Lưu bá phụ và phụ thân qua lại thân thiết, ngày ấy nếu không phải phụ thân cho ngài nửa cái bánh, e rằng ngài đã chết trên đường chạy loạn rồi. Về sau nhập triều làm quan, phụ thân nhiều lần đề bạt bảo vệ, bá phụ mới có địa vị như hôm nay. Nếu thật sự tiếc cho nhà họ Thôi thì sao khi Thôi thị gặp nạn, ngài lại làm con rùa rụt đầu trong phủ, không bênh vực phụ thân lấy một lời?”

Giọng Thôi Thiệu không vội không gấp, thậm chí còn vương chút lời biếng, mà lời thốt ra tựa dao cắt, sắc lạnh đến mức sắc mặt Lưu đại nhân thay đổi.

“Khi đó Thánh thượng đang giận dữ, cần phải từ từ toan tính!”

“Ồ? Từ từ toan tính à?” Thôi Thiệu múc chút nước rưới vào chậu bột, mấy lượt đã khiến bột mềm mượt bóng bẩy: “Vậy khi ta bị cấm túc, nhà họ Thôi bị tịch biên, ta chịu cung hình, Lưu bá phụ, khi ấy ngài ở đâu?”

“Ngươi!”

Lưu đại nhân á khẩu không trả lời được, chỉ có thể tiếp tục chỉ trích: “Ngươi thật sự thay đổi rồi. Thôi Thiệu xưa kia ôn nhuận như ngọc, thận trọng từ lời nói đến việc làm chứ không phải cay nghiệt vô lễ như bây giờ. Thôi thị tiêu rồi! Mãi mãi tiêu rồi!”

*

Tiết lập thu, tại kinh thành xảy ra một việc chấn động. Có loạn đảng trà trộn trong bách tính mà làm loạn, nhưng may chỉ sát hại một người rồi bị quan binh phát hiện, đáng tiếc kẻ loạn đảng xảo trá đã trốn thoát.

Nghe nói người chết họ Mã, bị chém đứt hai tay, một kiếm đứt cổ.

Nhưng trong cung không ai còn lưu tâm đến cái mạng ấy, bởi Quý phi được thánh sủng độc nhất tư thông với một đào kép dị vực. Khi bị phát hiện, tấm áo choàng đỏ thẫm của đào kép còn phủ trên người Quý phi.

Hoàng đế gần đất xa trời nổi giận lôi đình, tra xét kỹ càng, chẳng ngờ đào kép kia chính là do Quốc cữu chủ động đưa đến bên giường Quý phi.

Nào ngờ vừa tra lại phơi bày tất cả, Quốc cữu chẳng những đội nón xanh cho mình mà còn cất giấu long bào và cùng nhiều quan viên bàn bạc mưu phản, đó là tội lớn

Thế lực Quốc cữu vốn một tay che trời bèn bị diệt sạch từ đầu đến cuối.

Trải qua đả kích này, Hoàng đế bệnh càng thêm nặng, lại thêm thiên tai dồn dập, dân chúng tứ phương lưu lạc, ùn ùn tràn vào kinh thành. Trong lúc nhất thời, khắp nơi đều là dân chạy nạn.

Ngay cả bên quán bánh của ta cũng toàn dân đói chen chúc.

Họ bệnh tật đói khát, chờ đợi ta phát lòng từ bi, ban hết bánh cho họ.

Mỗi ngày đều có một ăn mày đứng nơi quán bánh, chờ ta bố thí. Nhưng ta hiểu rõ, cứu một người thì sẽ phải cứu muôn người, khắp thành đầy dân nạn, ta nào có thể cứu nổi.

Ta bảo tên ăn mày, gần đây phu quân bận việc, không thể nướng bánh, hãy đến giúp ta, ta sẽ trả công, hắn lấy tiền công hay đổi thành bánh cũng được. Về phần tiên công và bánh nướng thì hắn có thể dùng để cứu bạn mình.

Tên ăn mày gật đầu chấp thuận.

Ta bảo a đệ đưa tên ăn mày đầu tóc rối bời, thân mình dơ bẩn kia đi tắm rửa, lại tìm bộ y phục sạch cho hắn.

Tên ăn mày đã tắm rửa sạch sẽ trông chừng hai mươi tuổi, thân hình cao lớn, chỉ vì dinh dưỡng không đầy đủ nên lưng hơi còng.

Ngày đầu tiên, đúng lúc ta có việc nên để thanh niên ấy và a đệ trông quán.

Bây giờ Thôi Tử Thư là họa sư ở Họa Phường, trừ buổi tối về nghỉ thì cơm nước đều dùng tại đó. Gần đây đầu bếp của Họa Phường bị bệnh, nhờ ta làm thay một ngày, trả một lượng bạc, quả thật giống như tặng tiền vậy, sao ta nỡ từ chối.

Ta vốn tưởng thanh niên kia sẽ luống cuống, không ngờ hắn lặng lẽ mà nhanh nhẹn. Ta không có mặt, hắn và a đệ phối hợp khéo léo, hắn nhào hết chậu bột này đến chậu bột kia, a đệ thì cắm cúi nướng từng mẻ bánh.

Bánh từng mẻ ra lò, song một ngày trôi qua lại không bán nổi phân nửa.

Khi ta trở về, đường phố chẳng còn một bóng người, bánh cũng đã nguội lạnh.

Các nơi gặp tai hoạ, giá lương thực tăng vọt, hiện nay một chiếc bánh vốn tốn hai mươi xu, ta chỉ bán hai mươi mốt xu, thêm mè, mỡ, than lửa, số bạc kiếm được trước kia đều tiêu tán sạch.

Khi ta đưa tiền công, hắn không nhận, chỉ tự lấy mấy cái bánh.

“Thôi, ngươi mang bánh đi hết đi, bằng không ngày mai cũng chẳng bán được.”

Hắn ngẩng đầu nhìn ta, đôi mắt đen thẳm không lộ tâm trạng. Ta thở dài, sao lại gặp phải một cái hũ nút, hoặc là một kẻ câm điếc chứ.

Thanh niên mang bánh đi, khom mình bái ta thật sâu.

Ngày hôm sau, hắn lại đến quán bánh đúng giờ, tay chân vẫn nhanh nhẹn, chỉ là lần này hắn tính toán rất chuẩn, đợi gần bán hết mẻ trước mới bắt đầu nhào bột.

Đợi đến khi triều đình cứu tế, chỉ cả nạn dân nơi ngõ này là không một ai chết đói.

Về sau, thanh niên chào từ biệt ta, hắn nói hắn muốn đi làm binh.

Lúc ấy ta mới biết, thì ra hắn không bị câm điếc.

*

Ngày nối ngày dần trôi, tiểu viện từng một thời huyên náo, nay phần lớn thời gian chỉ còn ta và a đệ.

Ta và a đệ vẫn bày quầy bán bánh nướng mỗi ngày, đến đêm cả nhà lại sum họp.

Vốn tưởng cuộc đời có thể mãi an bình như thế, song dần dà, ngay cả kẻ dân dã như ta cũng cảm nhận được triều chính sắp đổi thay.

Nghe đồn Hoàng đế bệnh nguy kịch, không còn sống được bao lâu; cuộc đấu đá của Thái tử cùng các Hoàng tử đã lộ ra. Trên triều đình, lòng người hoảng hốt, phe phái tranh đấu chẳng ngừng, Hoàng đế suýt nữa tức chết.

Đúng lúc ấy, Cửu Hoàng tử bị giáng chức nơi thành nhỏ biên cương đã giương danh “Hộ quân trắc” mà vào kinh.

Thái tử và các Hoàng tử tranh đoạt, lưỡng bại câu thương, Cửu Hoàng tử không cần tốn nhiều sức đã tiếp quản kinh thành.

Cửu Hoàng tử vào cung chưa bao lâu thì Hoàng đế băng hà. Cửu Hoàng tử cầm di chiếu của tiên hoàng, leo lên hoàng vị.

Hôm nay là đại điển đăng cơ của tân hoàng, cả nước cùng chúc mừng. Bánh nướng được bán hết nhanh chóng, ta và a đệ định dọn quầy thì không biết vì sao mà xe đẩy bỗng nghiêng, suýt đổ, may được một vị quân gia đỡ lấy mới ổn.

Ta vội vàng nói cảm ơn, nhưng khi nghe thấy tiếng quân gia thì khựng lại.

“Bà chủ, ngài không nhớ ta ư?”

Ta chăm chú nhìn kỹ hắn: Thân hình cao lớn cường tráng, hai mắt đen nhánh, là người thanh niên kia.

“Hóa ra là ngươi.”

“Đa tạ bánh nướng của ngài. Nếu không có ngài, ta đã không trụ được đến hôm nay, càng chẳng thể theo dưới trướng Cửu Hoàng tử, không đúng, bây giờ nên gọi là Thánh thượng.”

Thanh niên tên Nghiêm Hằng, nay đã là Bách phu trưởng, sau này đóng giữ kinh thành, tương lai rộng mở.

Ta thật lòng vui mừng cho hắn. Lúc ta nói chuyện với hắn trên phố thì đã có không ít thiếu nữ lén nhìn.

Nghiêm Hằng tuy chẳng quá tuấn tú nhưng oai hùng cường tráng.

Ta bèn trêu chọc: “Xem ra chẳng bao lâu nữa là ngươi cưới vợ sinh con rồi.”

Nghiêm Hằng đỏ mặt.

Bữa cơm tối, Thôi Thiệu chưa về, song Thôi Tử Thư đã trở lại. Muội ấy chỉ cúi đầu ăn, không kể chuyện ở Họa Phường như thường ngày.

“Tử Thư, muội…”

Chưa đợi ta dứt lời, Thôi Tử Thư bỗng đặt mạnh đũa xuống: “Ta ăn đủ rồi, về phòng đây!”

Mãi đến khi ta sắp ngủ, muội ấy lại gõ cửa: “Tẩu tẩu, mở cửa, ta là ca ta… ta là Tử Thư…”

Ta không hiểu chuyện gì. Lúc tối còn tránh ta, giờ lại muốn tìm ta.

Ta bỗng căng thẳng, không phải muội ấy thích công tử nào rồi chứ?

Có mấy lần ta nhìn thấy một thanh niên mặc y phục thư sinh đưa muội ấy về nhà, ngay nơi đầu ngõ, hai người còn hàn huyên đôi câu mới đi. Nếu thật sự là hắn thì ta nên ứng phó thế nào?

Ta cẩn thận hồi tưởng, tuy thanh niên ấy vận y phục thư sinh song không hề yếu đuối, cử chỉ tao nhã lịch sự, dung mạo và khí chất lại khá xứng với Thôi Tử Thư. Không biết Thôi Thiệu có đồng ý không, chẳng lẽ muội ấy muốn ta làm thuyết khách?

Ta còn đang suy nghĩ miên man, Thôi Tử Thư bên kia cũng im lặng hồi lâu, cuối cùng lên tiếng: “Ta thấy hết rồi.”

Ta sững lại: “Thấy gì?”

Tử Thư như hạ quyết tâm lớn: “Tên làm binh kia.”

“À, hắn ư, ta từng giúp hắn…”

“Tẩu cũng từng giúp ca ca, giúp tất cả bọn ta.”

Ta nhìn muội ấy, chờ câu tiếp theo. Muội ấy hít sâu: “Đứng về phía ca ca, cũng là lòng riêng của ta, ta không hề muốn tẩu rời đi. Nhưng ta vẫn muốn nói, ca ca không thể cho tẩu hạnh phúc, tẩu nên có một phu quân bình thường, sống một đời bình thường, chứ không phải ở bên…”

“Chứ không phải ở bên một kẻ tàn phế, thủ tiết cả đời à?”

Dưới ánh mắt khác lạ của Thôi Tử Thư, ta tiếp lời: “Ta nghĩ, hẳn là khi ta mười lăm tuổi, Thôi lão đại nhân đã dẫn Thôi Thiệu đến nhà họ Trần ở Cô Tô làm khách. Khi ấy ta chải tóc lỡ kéo đứt một sợi tóc của Trần tiểu thư, nàng ta bèn muốn ta lấy da đầu đền bù, chính Thôi Thiệu đã lên tiếng cứu ta. Với chàng, đó chỉ là một câu thuận miệng, nhưng với ta, chàng như vị thần giáng trần. Dẫu chàng chẳng nhớ, nhưng ta suốt đời không quên.”

Lại càng không quên, lần đầu ta trông thấy Thôi Thiệu, trái tim đã điên cuồng nhảy loạn.

Có lẽ đó chính là yêu từ cái nhìn đầu tiên.

Thôi Tử Thư sững sờ đứng dậy, đi đến cửa thì bị người bên ngoài làm giật mình.

“Ca ca? Huynh về lúc nào vậy?”

Hỏi xong, muội ấy lập tức che miệng, nhìn Thôi Thiệu rồi lại nhìn ta, sau đó chột dạ chạy về phòng.

Ta đứng dậy nhìn lại Thôi Thiệu đang chắp tay sau lưng ngắm trăng nơi hành lang.

“Chàng…” Ta thử thăm dò mở miệng, không biết nên nói thế nào.

Thôi Thiệu quay người, đưa một vật qua.

“Tặng nàng. Đây là trâm mua ở thành nhỏ biên cương, đáng tiếc là hơi trống trải. Ta đã khảm thêm miếng ngọc, hôm nay mới xong, tặng nàng.”

Trong lòng bàn tay là chiếc trâm bạc, nhưng phần đuôi trống lại khảm một miếng ngọc rỗng tâm, chất ngọc và hình dạng hơi quen. Ta cẩn thận quan sát, nhưng Thôi Thiệu đã cài nó vào búi tóc ta.

“Úc Nương, đẹp lắm.”

Chàng nhìn ta, ta e thẹn cúi đầu: “Cảm ơn phu quân.”

“Nàng và ta là phu thê một thể, nói cảm ơn thì khách sáo quá.”

*

Ngày hôm sau, trời chưa sáng thì ta đã bị tiếng pháo làm tỉnh, còn lâu mới tới Giao thừa mà. Ta trở mình định ngủ, má lại bị một bàn tay to không yên x** n*n.

Ta mở mắt, là Thôi Thiệu.

“Sao thế, ta còn muốn ngủ thêm.”

Chàng nhìn ta, giọng điệu dịu dàng: “Úc Nương, nên về nhà rồi.”

Bọn ta dọn vào phủ Thủ phụ, cũng là phủ Thôi mới, so với phủ Thôi ngày xưa thì còn tráng lệ hơn.

Ngày chuyển vào nhà mới, Thôi Tử Thư trợn tròn mắt.

“Ca, huynh giấu bọn muội giỏi thật đấy, không có chút tin tức nào cả! Tẩu tử, sao tẩu bình thản thế? Không kinh ngạc chút nào ư?”

Ta mới thu lại ánh nhìn, học theo dáng vẻ của Thôi Tử Thư: “Phải, kinh ngạc quá.”

Thôi Tử Thư bĩu môi: “Đúng là giả vờ cũng chẳng xong!”

Rồi muội ấy thở dài: “Tiếc thay, muộ cũng chẳng ở được mấy ngày.”

Vì họa kỹ xuất chúng, Thôi Tử Thư đã được “Họa Tiên” ngàn vàng khó cầu để mắt đến, muốn nhận làm đệ tử cuối cùng. Nhưng Họa Tiên sống ở Giang Nam, nếu muốn bái sư học nghệ thì phải đi Giang Nam.

“Tử Thư, muội đã nghĩ kỹ chưa? Thật sự muốn học vẽ à?”

Nay Thôi Thiệu là trọng thần triều đình, nếu Thôi Tử Thư muốn thì muội ấy sẽ giống như xưa, thậm chí hơn xưa, được người người bợ đỡ.

Song ánh mắt muội ấy kiên định: “Ca, muội đã quyết rồi.”

Không biết bắt đầu từ khi nào mà muội ấy đã trút bỏ sự kiêu ngạo cao quý, trở nên thực tế chín chắn. Muội ấy chọn một con đường khác, một con đường hướng tới núi cao.

Thôi Tử Thư rời đi, cũng mang a đệ theo. Muội ấy nói Giang Nam lý thú, a đệ ở phủ Thôi hằng ngày, có người hầu và nha hoàn kèm cặp, đệ ấy thấy chán chường, bởi hễ đệ ấy trèo cây là sẽ có người lo đệ ấy ngã.

Đệ ấy muốn trứng chim thì sẽ có kẻ dâng tận tay, đệ ấy cảm thấy vô vị.

Ta nghĩ a đệ cũng nên mở mang tầm mắt. Mười bảy năm đầu chỉ cần sống sót đã là thắng lợi, quãng đời sau này, ta mong đệ ấy vui vẻ.

Khi đi a đệ rất hớn hở, đệ ấy ngồi trên xe ngựa vẫy tay: “A tỷ, đợi lần sau đệ về, đệ muốn làm cữu cữu!”

Đệ ấy còn chưa làm cữu cữu thì đã có người muốn làm con trai Thôi Thiệu rồi.