Phần 6
"Gì cơ?"
Nhìn thấy bọn ta kinh ngạc, Thôi Tử Thư đắc ý, xòe bàn tay, trong lòng bàn tay có một khối bạc vụn.
"Đây là thứ muội bế quan một tháng mới vẽ ra được, lại chỉ bán được một khối bạc vụn thôi sao?"
Thôi Tử Thư mím môi: "Nếu không thì nó chỉ có thể đi nhóm bếp, không có giá trị, chỉ có thể là một tờ giấy bỏ đi."
Lúc ấy, hạng nhất trong hội Đan Thanh cũng đã được quyết định, tranh còn kém xa bức họa của Thôi Tử Thư.
"Chủ tiệm còn nói, về sau ta vẽ bao nhiêu, hắn thu bấy nhiêu. Lần này ta có thể cống hiến cho gia đình rồi."
Thôi Tử Thư đưa bạc cho ta rồi muốn tiếp tục đi bàn chuyện làm ăn với chủ tiệm. Thôi Thiệu không yên lòng bèn để Thanh Sơn theo sau.
Bởi Thôi Tử Thư không được hạng nhất, bọn ta cũng chẳng còn hứng thú thưởng thức những bức khác, bèn dẫn a đệ dạo quanh trên đường. Ánh mắt a đệ không đủ dùng, cái gì cũng muốn ăn, cái gì cũng muốn chơi.
Ta tính toán số bạc, tuy đủ tiền nhưng cũng chẳng thể tiêu pha như thế, tiết kiệm tiền còn có thể mua được không ít gạo bột dầu muối.
A đệ bĩu môi không vui, song cũng biết điều, không nói gì nữa. Nhưng khi đã sắp rời đi, Thôi Thiệu lại móc tiền từ trong túi ra: "Hiếm khi ra ngoài chơi một lần, muốn mua thì cứ mua đi."
"Cảm ơn tỷ phu!"
A đệ lập tức vui vẻ ra mặt, chỉ trỏ nơi quầy hàng, thứ này cũng muốn, thứ kia cũng muốn.
Chẳng ngờ vật còn chưa tới tay thì đã bị đánh rơi xuống đất, kẹo đường tinh xảo trong thoáng chốc tan nát thành từng mảnh.
"Ồ, để ta xem đây là ai vậy? Thôi Thiệu, Thôi đại nhân!"
Người nói cưỡi ngựa cao to, hắn chạy thẳng tới trong chợ náo nhiệt, làm dấy lên một trận xôn xao, dừng lại trước mặt Thôi Thiệu. Hắn giơ roi ngựa, kẹo đường vừa rồi chính là bị hắn đánh rơi.
Hắn nghiêng mình về phía trước, như là ngạc nhiên vui mừng khi gặp lại cố nhân, nhưng trong mắt lại không có ý tốt, nhìn chằm chằm Thôi Thiệu như rắn độc.
Thôi Thiệu nhận ra hắn, bước lên một bước, chắn trước mặt ta và a đệ, giọng điệu lạnh như băng.
"Mã công tử."
"Thôi đại nhân, ôi chao, ngươi xem trí nhớ ta này. Bây giờ ngươi chỉ là một thứ dân, chẳng có cách nào trị tội ta nữa rồi."
Mã công tử ngồi thẳng lưng, hất cằm, từ trên cao nhìn xuống Thôi Thiệu, ánh mắt chợt trở nên ác độc: "Thôi Thiệu! Ngươi đã quấy nhiễu nhã hứng của bản công tử, nếu ngươi quỳ xuống dập đầu, bản công tử sẽ tha ngươi một lần, nếu không dập đầu thì giống như lần trước, ba mươi roi ngựa, ngươi chọn đi."
Nói xong, hắn có chút hăng hái nhìn Thôi Thiệu, dáng vẻ như mèo đùa chuột. Bất kệ chọn thế nào, Thôi Thiệu cũng không thể thoát khỏi bàn tay hắn.
Mã công tử cố ý muốn sỉ nhục, báo thù Thôi Thiệu.
Thuở còn là Thôi đại nhân, một lần từ cung yến trở về, Thôi Thiệu đã bắt gặp Mã công tử say rượu trêu ghẹo dân nữ.
Thôi Thiệu sai người lột bỏ y phục của Mã công tử, đánh ba mươi gậy để răn đe.
Từ đó Mã công tử đã hận Thôi Thiệu. Sau khi Thôi thị thất thế, Mã công tử thường xuyên bới móc, ngày thành thân ấy, hắn cũng viện cớ đánh Thôi Thiệu ba mươi roi.
Bởi hắn biết, Thôi Thiệu tuyệt đối không thể quỳ trước hắn.
"Trần Úc, nàng còn thuốc mỡ không…"
"Mã công tử, ngài phong lưu hào phóng, anh tuấn tiêu sái, đại nhân đại lượng, cứ coi như bọn ta là cái rắm mà thả cho đi, ta dập đầu cho ngài đây!"
Tay Thôi Thiệu vừa đưa ra vẫn còn giữa không trung, ta và a đệ đã chui qua dưới cánh tay chàng, trượt quỳ xuống đất.
"Đúng vậy, Mã công tử, xin tha cho bọn ta, dập đầu mấy cái cũng được —"
A đệ giơ tay, song giọng điệu có phần qua loa vô tình, bị ta đẩy một cái mới kéo dài giọng, tìm lại bản lĩnh sở trường.
Tuy đã mấy tháng không dùng, nhưng loại phản ứng này đã khắc sâu vào xương cốt ta và a đệ, muốn nịnh hót bao nhiêu thì sẽ có bấy nhiêu.
Mà bọn ta cũng chẳng bận tâm, chỉ cần có thể bảo toàn tính mạng là được. Chiêu này xưa nay luôn hữu dụng, ít ra có thể giảm bớt thương tổn.
Trông Thôi Thiệu phong quang nơi triều đường thế thôi, song về việc xin tha mạng thì chàng còn thua cả a đệ.
Thể diện đổi lấy ba mươi roi, đối với ta mà nói là đáng giá.
Nhưng ngay sau đó, ta và a đệ lại bị Thôi Thiệu kéo đứng dậy.
Ta không ngờ Thôi Thiệu trông gầy yếu lại có sức mạnh lớn đến thế, càng không ngờ, sau khi kéo bọn ta dậy, chính chàng lại trực tiếp quỳ xuống.
Lúc này ánh nắng đã ấm hơn, băng tuyết chỗ khuất nắng cũng bắt đầu tan. Vừa rồi ta và a đệ còn lựa nơi khô ráo, mà Thôi Thiệu lại quỳ ngay trong vũng nước bùn ấy.
Vừa lạnh vừa bẩn.
Chàng ngẩng đầu: "Mã công tử, ngài đại nhân đại lượng, xin ngài… tha cho ta."
Mã công tử thỏa mãn bỏ đi. Thôi Thiệu khom mình, như thể cung tiễn hắn rời đi, hoàn toàn không để ý đến vạt áo mình dính bùn.
"Chàng, không sao chứ…"
"Không sao cả, tắm rửa là sạch sẽ thôi."
Giọng điệu qua loa bình thản, như đang nói đến một chuyện hết sức bình thường.
"Ngược lại là nàng đó, sau này đừng ra mặt thay cho ta. Nàng là con gái, không nên bảo vệ ta."
Thật ra việc này đối với ta mới là bình thường, ta và a đệ ở nhà họ Trần vẫn luôn là như vậy, đánh không lại thì nịnh bợ.
"Sao hai người không đi nữa?"
Thôi Thiệu dừng bước, nhìn ta và A đệ vẫn bất động.
"Chàng tưởng rằng cứ quỳ suông thế sao?"
*
Sắc trời đã muộn, Mã công tử cũng đã lang thang đủ rồi. Hắn uống chút rượu, lảo đảo trên lưng ngựa nói lời mê sảng.
Gia nghiệp của Mã công tử cũng không phong phú lắm, chỉ vì tổ tiên từng có một thương nhân, hưởng chút hiển hách nhỏ nhoi, bây giờ nhờ ít sản nghiệp tổ tiên để lại mà sống. Hắn muốn về nhà thì phải đi qua một con ngõ nhỏ.
Ta và a đệ mai phục xong, nhân lúc hắn xuống ngựa mà dùng bao bố trùm lấy, gậy gộc cũng đã sớm chuẩn bị, giáng trên người hắn như mưa rơi.
Mã công tử đau đến gào thét, cuối cùng a đệ còn tiểu một bãi lên người hắn.
Bọn ta chạy xa thật xa mới dừng lại. Thôi Thiệu thở gấp, gò má bạch ngọc cũng nhuốm mây hồng nhàn nhạt.
"Hai người thường làm như thế sao?"
"Tất nhiên. Ta và a đệ không nơi nương tựa, giống như chó già vậy, ai cũng có thể đá bọn ta một cái. Bọn ta không có năng lực đối kháng chính diện, chỉ có thể tìm đường khác, trước tiên là giả bộ hèn hạ thuận theo, sau lại tìm cơ hội báo thù. Nhưng Trần lão gia và Trần tiểu thư thì ta không động vào được, còn kẻ khác, kẻ lợi hại thì ta mượn tay người khác, như bọn nha hoàn người hầu chó cậy thế chủ thì ta và a đệ sẽ đánh lén. Dù sao ta và a đệ cũng hiền lành, không ai hoài nghi cả.”
"Nàng nói đúng, không ai nghi ngờ ta cả, nghi ngờ một người bị đánh cho mất tự tôn và sự ngông nghênh, cúi đầu trước quyền thế lại sinh lòng trả thù.”
Ta vỗ vai Thôi Thiệu: "Có phải thoải mái hơn chút rồi không?"
Thôi Thiệu vừa muốn nói, chợt nhìn búi tóc ta: "Trâm của nàng đâu?"
Trâm? Ta đưa tay sờ lên đầu, đã chẳng thấy đâu nữa.
Chiếc trâm ấy chỉ là gỗ đào bình thường, nhưng là “của hồi môn” duy nhất của ta, e là vừa rồi khi đánh Mã công tử đã làm rơi mất rồi.
"Tên Mã công tử này, quả thật đáng ghét, chẳng những quỳ hắn hai lần mà lại còn làm mất trâm của ta, nên đánh hắn thêm một trận nữa."
A đệ gật gù, như chợt nhớ ra gì đó: "Không đúng, phải đánh ba trận. Vừa rồi khi hắn say rượu xuống ngựa, đệ nghe hắn lẩm bẩm, nói rằng Thôi Thiệu đã tàn phế rồi mà còn cưới được một nương tử xinh đẹp, phải tìm cơ hội cướp về làm tiểu thiếp!"
Dưới ánh trăng lạnh, biểu cảm của Thôi Thiệu càng lạnh lẽo. Chàng nhìn chằm chằm vào đầu ngõ vừa rời khỏi, không biết đang nghĩ gì.
*
Đại khái là bị nhiễm lạnh, ngày hôm sau, Thôi Thiệu lên cơn sốt cao.
Chàng nằm trên giường, vẻ mặt đau đớn, miệng nói mê sảng.
Khi thì gọi mẹ, khi thì gọi cha, đôi lúc còn nghe thấy vài tiếng nức nở.
Điều ấy khiến cả nhà đều hoảng hốt. Thanh Sơn vội đi mời đại phu, ta và a đệ chặt củi đun nước, còn Thôi Tử Thư ở bên trông coi Thôi Thiệu.
Nước nóng vừa được đun xong, ta vừa đặt khăn nóng lên trán Thôi Thiệu thì đã bị chàng nắm chặt cổ tay.
“Đừng đi… mẹ, đừng đi…”
“Ta không phải mẹ của chàng.”
Ta vỗ về bàn tay ấy, vốn định khiến chàng buông lỏng, ai ngờ chàng càng siết chặt hơn: “Trần Úc, đừng đi, Trần Úc!”
Ta cố kéo cũng chẳng ra: “Thôi Thiệu, ta còn phải đi đun nước nóng…”
Bên cạnh, Thôi Tử Thư khẽ ho một tiếng: “Tẩu tử, để ta đi vậy. Dẫu ta không biết nhóm lửa, nhưng càng không muốn chờ đến lúc ca ca tỉnh lại rồi trách mắng ta…”
Ta đành dùng một tay thay khăn. Không rõ đã đổi bao nhiêu lần, cuối cùng Thôi Thiệu mới dần tỉnh lại, ta cũng toan rút tay về.
Thôi Thiệu ngước mắt nhìn ta, tuy đã nới lỏng tay song vẫn không rời: “Trần Úc, ta lạnh…”
Thấy gương mặt bệnh tật của chàng, ta cũng không nỡ. Thôi thì để chàng nắm vậy, dẫu sao cũng chẳng mất miếng thịt nào.
Thanh Sơn mời đại phu về, chàng mới chịu buông tay, lại còn cẩn thận chỉnh tay áo ta che kín cổ tay.
Thuốc được sắc xong, a đệ vội vàng bưng đến trước mặt Thôi Thiệu.
“Tỷ phu, mau uống, mau uống đi!”
A đệ gấp gáp, không màng đến bát thuốc còn bốc hơi nóng mà đã đẩy về phía Thôi Thiệu.
“A đệ, chớ vội…”
“Không được đâu, không uống sẽ giống như mẹ đó!”
A đệ thường ngày hiền lành vô hại, nhưng đã nhận định chuyện gì thì cũng bướng bỉnh chẳng kém, dáng vẻ muốn trút hết cả bát thuốc. Thôi Thiệu vốn không còn sức, bị rót vào một ngụm, nóng đến nhe răng trợn mắt.
Cuối cùng cũng là ta dỗ dành hồi lâu mới để Thanh Sơn dắt a đệ về phòng, bôi thuốc lên những ngón tay đỏ rát vì bị bỏng.
Ta thổi nhẹ thuốc trong muỗng, trông chừng Thôi Thiệu uống cạn.
“Khi nãy lời a đệ nói nghĩa là sao? Mẹ nàng… đã xảy ra chuyện gì?”
Thôi Thiệu do dự mở lời, vẻ mặt có phần không được tự nhiên, ta lại thản nhiên: “A đệ vừa ra đời chưa được bao lâu thì đã bị người ta đánh vào đầu. Mẹ không có tiền tìm đại phu, đành phải đến cầu xin Trần lão gia. Khi ấy ông ta đang âu yếm Bạch thị, ông ta trách mẹ ta quấy rầy chuyện tốt của mình, bèn sai người đuổi mẹ ra. Nào ngờ Bạch thị lại thấy hứng thú, bà ta nói chỉ cần mẹ quỳ ngoài sân một đêm, bà ta sẽ cứu a đệ.”
“Sau đó thì sao?”
Tay ta khựng lại khi đang đút thuốc: “Đêm ấy mưa lớn suốt canh dài, mẹ quỳ trong viện cả đêm. Đến trưa hôm sau, Bạch thị mới sực nhớ, song chẳng hề mời đại phu như đã hứa, trái lại còn nhục mạ mẹ một trận. Mẹ trở về thì bệnh nặng, sốt cao không dứt, cuối cùng khuất núi. Tuy a đệ còn sống song đầu óc ngây dại… Từ khi biết chuyện của mẹ, đệ ấy cực kỳ sợ ta bệnh.”
“Xin lỗi…”
Ta mỉm cười lắc đầu: “May mà cuối cùng Bạch thị cũng thất sủng, lại đắc tội toàn bộ hậu viện, kết cục thảm thương, lén lút trở về nhà mẹ đẻ.”
Uống cạn bát thuốc, Thôi Thiệu mới chậm rãi nói: “Nếu là ta…”
Ta ngẩng đầu nhìn chàng, chờ chàng nói tiếp, chàng mỉm cười: “Nếu là ta, ta sẽ xua hổ nuốt sói, mượn tay kẻ khác.”
(*) Xua hổ nuốt sói: mượn sức một kẻ mạnh để trừ kẻ khác, sau lại diệt trừ chính kẻ đó.
Ta khẽ xoay miệng bát: “Rồi sao nữa.”
Thôi Thiệu trầm ngâm: “Trần lão gia vốn đa nghi, Bạch thị trẻ đẹp, Trần còn phu nhân lại hay ghen. Ta sẽ ra tay từ đó.”
Ta đặt bát xuống: “Đêm rằm tháng Tám, Trần lão gia phát hiện ở vườn hoa có chiếc yếm thêu khuê danh của Bạch thị, chiếc yếm ấy vắt trên tảng đá, lay động theo gió. Vì không có chứng cớ, ông ta không nói ra, nhưng từ ấy không đến viện của Bạch thị nữa. Bạch thị nổi giận, chọc tức Trần phu nhân, không bao lâu sau thì Bạch thị chết trong giếng. Người ta đều nói bà ta vì thất sủng mà tự vẫn. Để giữ thanh danh, nhà họ Trần nói với bên ngoài là bà ta về nhà mẹ đẻ tái giá.”
*
Chưa được mấy ngày, Thôi Thiệu đã hạ sốt. Trong thời gian chàng tĩnh dưỡng, ngày ngày đều có người tìm đến tiểu viện, đều vì ngưỡng mộ mà xin chàng gảy đàn.
Đôi khi ta bắt gặp, bọn họ cũng cung kính gọi ta một tiếng “phu nhân”.
Đầu hạ, ta mở một quán bánh nướng ngay đầu ngõ.
Tuy thanh danh Thôi Thiệu vang xa, một khúc đàn đã lên đến giá một lượng, song bạc chẳng bao giờ là đủ, kiếm nhiều một chút thì ta mới yên lòng.
Nhưng việc buôn bán lại chẳng được như ta dự đoán. Ta và a đệ nhiệt tình mời chào mà chỉ có một đại nương bước đến.
“Bánh nướng này ta chưa từng thấy qua?”
“Mời ngài nếm thử, đây là kiểu Tô Châu, thơm lắm.”
A đệ cười rạng rỡ, đại nương gượng cười hai tiếng: “Thôi thôi, ta về nhà tự nướng… Bao nhiêu một cái, cho ta năm cái!”
Thái độ của đại nương bỗng thay đổi, mắt nhìn chằm chằm vào Thôi Thiệu vừa từ ngoài trở về và định giúp ta một tay.
“Đại nương, tám xu một cái, chỉ cần nếm qua một lần sẽ biết là ngon thôi.”
Thôi Thiệu không cười phô trương như a đệ, chỉ khẽ nhếch môi, kết hợp với gương mặt tuấn tú như gió mát trăng trong, đủ khiến lòng người vui vẻ.
Đại nương mừng rỡ: “Tám xu à? Không đắt, không đắt, mấy loại trên phố còn nhỏ mỏng hơn mà cũng đã mười xu rồi!”
“Ngài thấy ngon thì lại đến nhé.”
Đôi tay thon dài trắng nõn vốn dùng để gảy đàn vẽ tranh, nay thuần thục gắp năm cái bánh, bọc trong giấy dầu rồi đưa cho đại nương.
Đôi mắt từng quen tính toán của đại nương bỗng như hồ xuân tan băng, ấm áp lạ thường: “Đó là dĩ nhiên, dĩ nhiên…”
Đại nương còn lần lữa, phía sau đã có người giục: “Nhanh lên, bọn ta cũng muốn mua!”
Quán bánh nhỏ bị các cô gái trẻ tuổi vây kín như nêm.
Thôi Thiệu cũng không bực, vẫn nhẫn nại gắp bánh. Dù kiếm được không ít tiền nhưng ta càng nhìn càng cảm thấy bực bội, phải một lúc mới chợt nghe có người gọi ta.
“Nương tử, nương tử? Thu tiền đi.”
Song ta chỉ nghe nửa câu cuối: “Thu tiền.”
Một thiếu nữ đỏ bừng mặt đưa tay ra, trong lòng bàn tay là tám xu.
Thôi Thiệu nói với ra đằng sau: “Mọi người cứ đưa tiền cho nương tử của ta là được.”
Các cô gái trẻ đứng sau đều lộ vẻ tiếc nuối nhưng chẳng ai rời đi.
Dần dần, việc buôn bán của quán bánh cũng khấm khá, không cần Thôi Thiệu dùng “mỹ sắc” dẫn khách mà cũng có nhiều người tới, bởi bánh của ta vốn chất lượng, cốt để lời ít bán nhiều.
Ta và a đệ vừa nhào bột vừa bán bánh, bận rộn không xuể.
Ngày ấy, sau khi bán bánh xong, Thôi Thiệu bảo ta: “Úc Nương, nàng dạy ta nướng bánh nhé.”