Tửu Lầu Nhỏ Của Phu Lang Góa Chồng

Chương 138


Dạo này vừa mới chớm đông, bách tính thành Phụng Nguyên thảy đều cảm thấy thời tiết thế này vẫn còn tạm ổn, chưa đến mức rét lắm, ngặt nỗi đám khách khứa từ nơi xa tới thì đã thấm thía cái lạnh giá thấu xương thấu tủy của mùa đông phương Bắc.

Cái rét ở đây thực sự hoàn toàn khác biệt so với phương Nam.

Gã rượu si này họ Quan, tên độc một chữ Tuần. Gia cảnh nhà Quan Tuần tính ra còn nằm ở xứ sở xa xôi về phía Nam hơn cả Lục kinh, vốn là dòng dõi thương nhân buôn bán có của ăn của để. Phía trên gã còn có hai vị đại ca hết sức thiện nghệ trong việc kinh doanh, toàn bộ sản nghiệp và chuyện làm ăn của gia tộc đều do hai người họ nắm giữ, quán xuyến.

Quan Tuần từ nhỏ tính tình đã lãng tử, phóng khoáng, lại có hoa tay giỏi vẽ tranh đan thanh và cực kỳ mê mẩn rượu ngon. Gã cứ hễ uống say vào là lại thích đi ngao du đây đó khắp nơi. Lần này gã giắt túi hơn ba trăm lượng bạc rồi đùng đùng rời nhà trốn đi du ngoạn, suốt dọc đường vừa du sơn ngoạn thủy vừa vung tiền như nước để tìm mua rượu ngon thưởng thức, không để bản thân phải chịu chút khốn khó, khắt khe nào.

Ấy thế mà lúc đi tới một thành trì nhỏ phụ cận Lục kinh, gã tình cờ nếm được một ngụm rượu cao lương của Thang ngũ ca, lập tức hồn siêu phách lạc, bị mê hoặc đến mụ mị cả tâm hồn. Lúc đó trong người Quan Tuần chỉ còn sót lại chưa đầy trăm lượng bạc, vậy mà vì cái thứ rượu cao lương ấy, gã chấp nhận chịu cảnh màn trời chiếu đất suốt cả quãng đường còn lại, chẳng dám tiêu xài hoang phí như trước nữa, chỉ một lòng nung nấu ý định tới được thành Phụng Nguyên để có thể dư dả tiền bạc mà mua hẳn mấy vò rượu cao lương về uống cho bõ thèm.

Thế rồi hiện tại, người ở tửu lầu nhỏ của Thang ngũ ca lại nhẹ nhàng thông báo với gã rằng một vò rượu chỉ có giá một trăm văn tiền.

Quan Tuần nghe xong mà đầu óc cứ mê muội, lơ mơ như ngậm hột thị. Vị nam nhân trông có vẻ là lão bản kia vừa dặn dò cái gì gã cũng chẳng nghe lọt tai, chỉ đờ đẫn gật đầu lia lịa theo bản năng, lầm bầm: "...... Có rượu uống là được."

Dưới đại sảnh lúc này vô cùng náo nhiệt, người qua kẻ lại đông đúc, tất cả đều đang thao thao bất tuyệt bằng chất giọng phương Bắc. Giọng Bắc dẫu sao cũng rất dễ nghe và dễ hiểu, Quan Tuần lại là kẻ từng bôn ba du ngoạn nhiều năm nên khả năng thích ứng với tiếng địa phương cực kỳ nhạy bén. Khách khứa xung quanh người thì tấm tắc khen ngợi thức ăn của tửu lầu mỹ vị tuyệt vời, người thì rôm rả buôn chuyện phiếm về việc mấy ngày gần đây ở phía nam thành lại có thêm gia đình quyền quý nào từ Lục kinh dọn tới, đủ loại chuyện trên trời dưới biển.

Cái bầu không khí này quả thực náo nhiệt vô cùng.

Gã lặn lội bôn ba một quãng đường dài dằng dặc tới đây, còn chưa kịp tìm chỗ nghỉ ngơi hay chỉnh đốn lại trang phục, bây giờ ngồi trong đại sảnh ấm áp, mãi một lúc sau gã mới chợt nhận ra hai bên gò má và bàn tay của mình có chút ngứa ngáy râm ran do bị cước vì lạnh. Gã không nhịn được bèn đưa tay lên che che mặt, cùng lúc đó, cái bụng cũng bắt đầu biểu tình, kêu lên sùng sục vì đói khát.

Đồng Tẩu chu đáo rót cho vị khách phương xa một ly nước nóng.

Quan Tuần vốn đang định lên tiếng gọi món, ngặt nỗi ánh mắt lập tức bị thứ nước uống trong ly thu hút hoàn toàn. Thứ nước này không giống với các loại trà thông thường, sắc xanh lục dịu mắt hòa quyện cùng sữa tươi trông vô cùng đẹp đẽ, bắt mắt. Gã không nén nổi tò mò bèn bưng ly trà còn ấm nóng lên hớp thử một ngụm, vị trà xanh đậm đà, thơm ngát lập tức quẩn quanh nơi đầu lưỡi, quyện chặt lấy cái béo ngậy, ngọt ngào của sữa tươi.

"Khách quan, hôm nay mỗi bàn đều được quán tặng kèm một ly sữa tươi matcha, mời ngài dùng thong thả ạ." Đồng Tẩu mỉm cười giải thích.

Quan Tuần vừa chậm rãi nhấm nháp ly trà, vừa nhận ra thứ trà này không hề giống trà xanh truyền thống chút nào, nó mang một vị ngọt thanh nhẹ nhàng dễ chịu. Trong ly có kèm một chiếc muỗng nhỏ, gã khẽ khuấy đều thì thấy bên dưới có khá nhiều đậu đỏ, vì đang đói bụng nên gã liền múc một muỗng nếm thử, hạt đậu đỏ được ninh kỹ ăn vào có cảm giác bùi bùi, độ ngọt lại vừa vặn chuẩn chỉnh.

Một ly sữa ấm bụng đi xuống, cảm giác quẫn bách, mệt mỏi ban nãy thảy đều tiêu tán đi ít nhiều, cái bụng rốt cuộc cũng chịu ngừng kêu gào.

Thế nhưng nó lại càng k*ch th*ch cơn thèm ăn trỗi dậy mạnh mẽ hơn.

Gã chẳng rõ vị lão bản lúc nãy đã tự ý sắp xếp cho mình những món gì ăn kèm nữa. Quan Tuần bỗng thấy hơi hối hận vì ban nãy bản thân cứ ngây người ra, không kịp mở miệng hỏi cho rõ ràng.

Cũng may là đồ ăn được bưng lên rất nhanh, người đem lên vẫn là vị đại thẩm vừa rót trà cho gã.

"Dạ, gửi ngài một nồi nhỏ Hải sản Phật Nhảy Tường ạ." Đồng Tẩu vừa nhẹ nhàng đặt đồ lên bàn vừa nói.

Kể từ khi món Phật Nhảy Tường này được tung ra vào mấy tháng trước, thực khách đổ xô tới tửu lầu gọi món đông đến nỗi cung không đủ cầu, mặt hàng này được săn đón tới mức bị đẩy giá lên cao, muốn ăn là phải đặt trước tận cả tuần trời mà vẫn cứ cháy hàng như chơi. Sau này Thang lão bản thấy tình hình như vậy không ổn, bèn đổi quy cách thành mỗi ngày chỉ cung cấp cố định năm nồi lớn, lúc dọn lên thì chia nhỏ ra cho thực khách thưởng thức, một nồi nhỏ thế này là vừa vặn đủ cho hai ba người dùng bữa, gọi thêm vài món phụ ăn cùng cơm là no nê.

Mặc dầu vậy thì món này vẫn luôn thuộc hàng khan hiếm, mãi cho tới gần đây khi thời tiết chuyển từ thu sang đông lạnh giá, mọi người bắt đầu chuộng ăn các loại lẩu hơn thì tình hình đặt món Phật Nhảy Tường mới xem như được nới lỏng và hòa hoãn đôi chút.

Xem ra vị khách lạ này vận khí thực sự không tồi chút nào.

Đồng Tẩu đặt cái nồi nhỏ bằng sứ trắng tinh xảo xuống bàn rồi khẽ tay nhấc nắp nồi lên. Ngay tức khắc, một mùi hương thơm nồng nàn, đậm đà đặc quánh ập thẳng vào mũi, Quan Tuần không tự chủ được mà nuốt nước bọt một tiếng thật to, hai mắt gã dán chặt vào làn khói nghi ngút đang lượn lờ bay lên, bấy giờ mới nhìn rõ mồn một cái thứ mỹ vị trong nồi sứ rốt cuộc là có hình thù ra sao.

Nước canh trong vắt mang theo sắc trà nhàn nhạt. Mấy loại nguyên liệu này Quan Tuần đều từng ăn qua, quê nhà gã gần sông lớn, từ nhỏ đến lớn đều ăn thủy sản, nào ngao, nào nghêu, bào ngư nhỏ, thịt ốc cho đến tôm lớn. Thế nhưng trong nồi còn có cả nấm rừng. Nấm rừng thì gã ít ăn, nhưng vì hay bôn ba tứ phương nên cũng từng thấy và nếm qua.

Đồng Tẩu múc ra một bát nhỏ đưa cho thực khách: "Ngài dùng thử chút canh trước cho ấm bụng, cứ thong thả dùng, món ăn sẽ lên ngay đây ạ."

Quan Tuần đón lấy bát canh. Vừa rồi một ly sữa ấm đi xuống làm khoang miệng còn vương chút vị ngọt, hiện tại hương thơm tươi rói lại ập vào trước mặt. Gã ghé miệng khẽ thổi một cái rồi húp một muỗng canh, thứ đầu tiên lan tỏa ra là vị tươi ngọt, cái tươi của hải sản hòa quyện với nấm rừng tạo nên một hương vị thơm ngon khó tả. Bát canh ấm áp trôi xuống cổ họng rồi nằm gọn trong bụng, bao nhiêu sương gió nhọc nhằn suốt dọc đường bỗng chốc tan biến sạch sành sanh.

Ngon tuyệt vời.

Gã lại nếm thử một miếng nguyên liệu. Thức ăn cho vào miệng vừa dai giòn sần sật, vừa thanh mát, ngon miệng vô cùng.

Đừng nhìn món này thanh đạm mà lầm, hương vị được nêm nếm chuẩn chỉnh đến mức gãi đúng chỗ ngứa, tỷ lệ kết hợp của các loại nguyên liệu cực kỳ hoàn hảo. Đống nấm rừng kia chính là nét chấm phá đắt giá, không hề át đi cái vị tươi ngon của hải sản mà còn làm dậy lên một mùi hương độc đáo, khác biệt.

Đồng Tẩu lại tiếp tục lên món: "Đây là món thịt kho tàu thương hiệu của quán chúng ta, còn đây là thịt róc xương hầm dưa chua nhà tự muối, và đĩa đồ nhắm nộm chay thập cẩm."

Cùng lúc đó, hai bình rượu trong suốt cũng được bưng lên.

Bình rượu này nhỏ hơn một nửa so với loại bình thường, Quan Tuần phải gặng hỏi lại lần nữa: "Thật sự là một trăm văn một bình chứ?" Đối phương khẳng định chắc nịch, rượu cao lương một trăm văn một bình, rượu mơ xanh một trăm hai mươi văn một bình, quán không bán mang về mà chỉ phục vụ uống tại chỗ.

Quan Tuần xua xua tay, lòng vui mừng khôn xiết. Vừa rồi cái bụng đã được lót dạ bằng một bát canh ấm, hiện tại gã vén ống tay áo lên tự rót cho mình một ly rượu, nâng ly lên sát mũi hít một hơi thật sâu. Trên mặt gã không tự chủ được mà lộ ra nụ cười thỏa mãn: "Rượu ngon, chính là cái mùi hương này rồi."

Không sai không sai, chính là cái thứ rượu cao lương thượng hạng này, quả không uổng công gã lặn lội ngàn dặm xa xôi đến tận thành Phụng Nguyên.

Rượu quá đỉnh!

Liên tiếp hai ly rượu trôi xuống bụng, thần sắc Quan Tuần càng thêm phần khoái chí, bấy giờ mới cầm đũa lên gắp thức ăn. Gã vừa dùng xong món Phật Nhảy Tường kia, hiện tại liền chuyển sang món tiếp theo...

Đập vào mắt gã là những miếng thịt heo mang sắc màu đậm đà, óng ả, được bày biện ngay ngắn trong chiếc đĩa sứ trắng tinh. Khối thịt to bằng nắm tay được khéo léo cắt làm bốn miếng nhỏ, nhớ không lầm thì vừa nãy vị thẩm kia có giới thiệu món này chính là món ăn thương hiệu của tửu lầu nhỏ nhà Thang ngũ ca: Thịt kho tàu.

Đũa vừa chạm vào, miếng thịt liền khẽ rung rinh nhẹ nhàng. Gã dùng đũa gắp thịt vào muỗng, nhìn kỹ một chút liền không nén nổi cái nhíu mày. Đây là thịt heo đúng không nhỉ?

Nhà Quan Tuần ba đời làm nghề buôn bán, từ nhỏ gã đã sống trong nhung lụa, áo cơm không thiếu nên chưa từng đụng đến thịt heo bao giờ. Sau này gã đi ngao du sơn thủy, bôn ba qua nhiều địa phương thì thấy chỉ có những gia đình nghèo khổ, bần hàn mới ăn thịt heo, bởi cái thứ thịt này vốn dĩ hôi hám vô cùng, rất khó để chế biến cho ngon được.

Gã nhìn chằm chằm miếng thịt nằm gọn trong muỗng, ngẫm lại cái bảng hiệu của quán này, lại nghĩ đến hương vị tuyệt hảo của bình rượu cao lương vừa uống, gã lập tức hạ quyết tâm nếm thử một lần. Trước tiên gã ghé sát mũi ngửi thử, ngặt nỗi chỉ ngửi thấy hương nước tương thơm nức mũi quyện lẫn chút vị ngọt thanh nhè nhẹ, gã bèn đưa lên miệng cắn một miếng lớn.

Thịt vừa vào miệng liền tan ra ngay lập tức, nước xốt nồng nàn đậm đà, không có một chút cảm giác béo ngấy hay mùi hôi hám nào, căn bản là chẳng thể tìm ra nổi một tí vị hôi nào cả.

Đúng là chuyện lạ lùng.

"Nhân gian mỹ vị!" Một miếng thịt nuốt xuống, hai mắt Quan Tuần sáng rực lên, dán chặt cái nhìn vào đĩa thịt trên bàn: "Chẳng biết người ta chế biến kiểu gì mà lại có thể làm ra món thịt heo tuyệt đỉnh đến thế này. Ta từng đi chu du khắp nơi, thế mà chưa từng được ăn loại thịt heo nào ngon đến nhường này, đúng là mỹ vị."

Có miếng thứ nhất thì tất nhiên sẽ có miếng thứ hai.

Đồng Tẩu chu đáo xới lên một bát cơm cho vị khách phương xa.

Hạt cơm mới hấp chín tới bóng bẩy, tỏa ra hương gạo thơm lừng. Tiện tay gắp một miếng thịt kho tàu đẫm nước xốt đặt lên trên bát cơm, Quan Tuần chẳng cần ai bày vẽ, tự khắc dùng muỗng dầm sơ qua một lượt. Thịt hòa vào cơm rồi múc một muỗng đầy đưa vào miệng, cái vị ngon ngọt, béo ngậy thơm nức lòng ấy khiến gã có muốn khen ngợi cũng chẳng thể tìm đâu ra từ ngữ cho xứng đáng.

Ăn quá ngon.

Ăn xong hai miếng thịt, Quan Tuần dừng đũa, lại ngó sang hai món còn lại. Đĩa nộm chay để dành nhắm rượu ăn sau cùng, gã bèn nếm thử món thịt róc xương hầm dưa chua trông có vẻ ngoài bình thường kia.

Thịt róc xương chính là phần thịt lọc ra từ xương ống heo.

Chẳng phải thứ gì quý giá cho cam, thịt heo vốn đã không đắt, xương ống lại càng rẻ mạt, nhưng khi kết hợp với dưa chua nhà họ Thang tự muối, đem hầm chung thịt róc xương với khoai tây thì lại là chuyện khác.

Kỳ thực, món này là do hồi mới sang thu, Thang lão bản bỗng thèm ăn đồ hầm, đặc biệt là món dưa chua hầm thập cẩm với miến, khoai tây, cải trắng... Vì thế cậu mới mang theo Ngộ Xuân muối một vại dưa chua thật lớn.

Dưa chua được thái thành sợi, hầm kỹ cùng thịt róc xương và khoai tây, thành ra vẻ ngoài nhìn hơi mất thẩm mỹ. Bởi vì món ăn được hầm đến độ mềm nhừ, dính quyện vào nhau, dưa chua, khoai tây với thịt cứ gọi là trong ngươi có ta, trong ta có ngươi. Thế nhưng cứ một ngụm đưa vào miệng ăn kèm với cơm hay màn thầu thì hương vị đúng là tuyệt đỉnh.

Món này vừa lên thực đơn vào mùa thu đông, thực khách nào thích ăn lẩu nhúng cũng đều phải gọi thêm một đĩa này mới chịu được.

Bảo là nhìn khó coi, nát nhừ thế thôi, chứ ăn vào lại cực kỳ cuốn. Thơm, hường thơm đậm đà nồng nàn, dưa chua lại không bị quá chua, ăn vào vừa khai vị vừa chống ngấy rất tốt.

Món thịt kho tàu lúc nãy thiên về vị hơi ngọt một chút, Quan Tuần nếm thử một ngụm món hầm này, lập tức hai mắt lại sáng bừng lên......

"Tiểu lão bản, vị khách phương xa kia ăn có vẻ thích thú lắm, hai mắt cứ chốc chốc lại sáng rực lên, cơm sắp đánh chén sạch sành sanh đến nơi rồi." Đồng Tẩu thấy thực khách ăn ngon lành như vậy cũng vui lây.

Khách khứa tới tửu lầu nhà họ ăn cơm hầu như đều như thế cả, thế nhưng nàng vẫn thích ngắm nghía điệu bộ của những người lần đầu tới quán nhất. Lúc mới đầu họ còn chưa quen với các món ăn của tửu lầu, ngặt nỗi chỉ cần nếm thử một miếng thôi là lập tức buông bỏ hết vẻ khép nép khúm núm ban đầu, cứ thế mà ăn uống thả ga.

Thiết Ngưu bảo: "Xới thêm cho vị khách ấy một bát cơm nữa đi."

Vị thực khách này lặn lội từ xa tới, giọng nói mang đậm khẩu âm phương Nam, trên vai còn cõng theo cái tay nải, dáng vẻ phong trần mệt mỏi, chân tóc còn vương hơi lạnh, quần áo mặc trên người cũng mỏng manh.

Lúc Thiết Ngưu chọn món cho đối phương, hắn nghĩ người ta đường xa tới nơi, chắc hẳn chưa được bữa cơm tử tế nên đang bụng đói cồn cào. Trước tiên phải dùng một bát Phật Nhảy Tường cho ấm dạ dày cái đã. Các món ăn khác cũng không nên quá cay. Còn nếu chọn lẩu nhúng thì phải nhấm nháp từng chút một mới đúng điệu, trong khi đối phương lại đang đói mềm người, nên tốt nhất là ăn cơm để chắc bụng.

Mà vào mùa đông, ăn các món có nước súp đậm vị hay đồ hầm là chuẩn bài nhất.

Đối phương vừa ngồi xuống đã hỏi thăm về rượu trước tiên, hẳn lại là một kẻ say mê rượu ngon, thế nên hắn mới xếp thêm một đĩa nộm chay thập cẩm để nhắm với rượu.

Chờ cho đối phương ăn uống no nê, người ngợm ấm lên, dạ dày được xoa dịu rồi, lúc ấy mới thong thả nhâm nhi bầu rượu, nhấm nháp chút đồ nhắm nguội sau.

Quan Tuần bữa này ăn uống ngốn mất gần hai canh giờ, chủ yếu là do thời gian uống rượu kéo dài. Gã vừa mê rượu mà tửu lượng lại cực kỳ mạnh, uống đến tận lúc cuối cùng, trên bàn đồ ăn thảy đều sạch sành sanh không sót lại một tí gì. Ăn sướng uống đã xong xuôi, gã mới gọi tính tiền.

"Hết bao nhiêu?"

"Dạ khách quan, mười bình rượu với cả tiền cơm tổng cộng hết một lượng bạc và bảy trăm tám mươi văn ạ." Thiết Ngưu bước tới tính tiền.

Quan Tuần nghe xong liền nghĩ bụng: Rẻ, quá rẻ rồi!

Ha ha ha.

Quan Tuần hào phóng đặt hai lượng bạc xuống bàn.

"Ngày mai ta lại tới tiếp."

"Khách quan ơi, ngày mai tửu lầu nhà chúng ta lại vừa vặn đến ngày nghỉ rồi ạ." Thiết Ngưu phân trần: "Tính ra ngài tới đúng lúc mà lại hóa ra không khéo. Tửu lầu của chúng ta mở cửa theo lịch cứ bán liên tục năm ngày thì lại nghỉ hai ngày, cứ thế xoay vòng. Ngày mai với ngày kia đúng vào đợt nghỉ hai ngày cuối tuần, ngài có muốn dùng bữa thì xin hẹn ngày kia nữa quay lại ạ."

Quan Tuần: ......

???

"Đây là cái quy củ của các tửu lầu ở thành Phụng Nguyên đấy à?" Gã bôn ba khắp nơi, đây thực sự là lần đầu tiên nghe thấy cái kiểu quy định kỳ khôi như thế này.

Thiết Ngưu tươi cười hớn hở đáp: "Dạ không phải đâu ạ, đây là quy củ do một mình lão bản nhà chúng ta tự đặt ra thôi."

"Thảo nào......" Quan Tuần sực nhớ lại cảnh tượng đông đúc ngồi chật kín trong quán hôm nay. Gã ngồi ăn uống lâu như vậy mà lượng khách đổ vào quán vẫn cứ nườm nượp không ngớt, hóa ra là vì ngày mai với ngày kia tửu lầu nghỉ mất rồi.

"Thế......" Quan Tuần đầu óc thì tỉnh táo nhưng cái miệng lại có chút bập bẹ, phản ứng hơi chậm một chút, nói: "Thế ngày kia nữa ta lại tới. Mà làm phiền hỏi một chút, khách đ**m ở đâu gần đây nhỉ? Phiền lão bản chỉ giùm con đường."

Thiết Ngưu tiễn khách ra tận ngoài đường, vẫy giúp đối phương một chiếc xe ngựa, rồi dặn phu xe chở tới một gian khách đ**m vừa sạch sẽ lại không quá đắt đỏ ở chợ Tây.

Quan Tuần lên tiếng cảm ơn rồi bước lên xe. Ngồi trên xe ngựa có chút xóc nảy, lung lay, nhưng gã uống nhiều rượu như vậy mà không hề thấy nôn nao hay buồn nôn, nghĩ bụng chắc là do bữa ăn kéo dài nên rượu thịt đã tiêu hóa đi hòm hòm rồi.

Tới khách đ**m, gã làm thủ tục nhận phòng, vừa đóng cửa phòng lại là lập tức quăng mình lên giường đánh một giấc sâu cho đến tận hôm sau.

Thật là thoải mái.

Hai ngày sau, Quan Tuần sửa sang lại xiêm y gọn gàng sạch sẽ, vẻ mặt hớn hở tìm tới tửu lầu nhỏ của Thang ngũ ca. Gã đến từ sáng sớm, vậy mà đã thấy trong quán ngồi kín không ít khách khứa. Qua hai ngày nghỉ vừa rồi, gã đã đi dạo một vòng quanh thành Phụng Nguyên, vào nhà tắm tắm táp sạch sẽ, rồi nghe ngóng được thêm bao nhiêu là giai thoại về Thang ngũ ca.

Nhưng tính đi tính lại thì vẫn là rượu do Thang ngũ ca ủ thuộc hàng tuyệt đỉnh nhất, dĩ nhiên đồ ăn nấu ra cũng thơm ngon miễn bàn.

Buổi sáng tinh mơ tửu lầu có phục vụ đồ ăn sáng.

"Hôm nay có món gì vậy mọi người?"

"Canh lòng dê nấu miến nhé." Một người bản địa ngồi ở đại sảnh cười ha hả đáp. Thấy diện mạo gã lạ hoắc, khẩu âm lại thiên về phương Nam, người nọ cũng chẳng lấy làm lạ. Từ khi thành Phụng Nguyên được chọn làm hoàng đô, người phương Nam đổ về đây đông như trẩy hội, bởi vậy hắn ta rất nhiệt tình chỉ dẫn: "Bách tính vùng này cứ hễ vào thu đông là thích ăn thịt dê lắm. Mấy quán khác nấu kiểu gì cũng dính chút mùi hôi, riêng Thang gia thì không có một tí nào, thơm phức luôn, nhớ cho thêm một muỗng sa tế vào nhé......"

Quan Tuần liền bắt chước theo cách ăn của người bản xứ.

Quả thực là thơm ngon hết sẩy.

"Hồi hai hôm trước ta cũng ăn thử thịt dê ở quán khác, ngặt nỗi húp không nổi hớp canh nào." Quan Tuần thành thật bảo.

Thực khách bản địa nghe vậy thì đắc chí cười lớn: "Kỳ thực cũng chẳng trách quán khác được, người vùng này có kẻ lại cứ nghiện cái mùi hôi tự nhiên đó cơ. Có thể các người thấy hôi, nhưng có người lại mê, đi ăn toàn lựa miếng chưa khử kỹ mùi. Tuy nhiên ăn đi ăn lại thì ta vẫn cứ chuộng món canh dê hầm của Thang ngũ ca nhất, thân phụ của hắn ngày trước vốn làm nghề bán canh dê bánh bột mà."

Quan Tuần biết chuyện này, gã đã được nghe kể về giai thoại Thang ngũ ca vì cha báo thù mà đâm đơn kiện lên tận nha môn.

Xem ra vị Thang ngũ ca này ở đất thành Phụng Nguyên đúng là một nhân vật có máu mặt.

Từ đó trở đi, ngày nào Quan Tuần cũng ghé quán, trừ hai ngày cuối tuần quán đóng cửa nghỉ ngơi. Tửu lầu lên món gì là gã đánh chén món đó, sau này gã lại đâm ra nghiện món lẩu nhúng. Cứ giữa trưa gã lại mò tới, ngồi ăn một mạch đến tận chiều, đánh chén một lúc mấy đĩa thịt và chục bình rượu ngon.

Vì tới quán đều đặn lại uống ác chiến như thế, nên toàn bộ người làm trong tửu lầu nhỏ tất cả đều nhẵn mặt Quan Tuần. Quan Tuần vốn là kẻ đi Nam về Bắc, sành sỏi sự đời, tính cách lại nhiệt tình, phóng khoáng, kiến thức uyên bác và không câu nệ tiểu tiết, chẳng mấy chốc đã kết thân, hòa đồng với đám người trong tiệm. Họ có hỏi han điều gì là gã lại vui vẻ kể cho nghe về phong thổ, sản vật phương Nam.

Thang Hiển Linh bấy giờ cũng nghe phong thanh chuyện trong tửu lầu nhà mình dạo này có một vị du khách phương Nam tới tá túc dài ngày.

Lại còn là một họa sĩ nữa cơ.

Chuyện này là do Thiết Ngưu kể lại cho cậu nghe.

Thang Hiển Linh tò mò hỏi: "Ngươi đã xem qua tranh gã vẽ chưa? Tay nghề thế nào?"

"Xem rồi." Thiết Ngưu gật đầu, vừa nhìn qua thần sắc của phu lang là hắn đã đoán ngay ra cậu đang tính toán điều gì: "Quan Tuần am hiểu lối vẽ tranh thủy mạc phong cảnh sơn thủy, nét vẽ rất bàng bạc, phóng khoáng đại khí. Còn Toan Toan với Mật Mật nhà mình lại thích vẽ hoa cỏ, ưa phối màu sặc sỡ, phong cách hoàn toàn khác biệt. Hơn nữa ta thấy cái tính tình của Quan Tuần kia lãng tử, bất kham, sợ là không có đủ kiên nhẫn để dạy bọn trẻ học vẽ đâu."

Thang Hiển Linh:...... "Ngươi sao cứ như con giun đũa trong bụng ta vậy, ta tính toán cái gì ngươi cũng biết tuốt."

"Thì tại vừa nghe thấy người ta biết vẽ tranh là mắt ngươi đã sáng rực lên rồi còn gì." Thiết Ngưu buồn cười trêu chọc.

Thang Hiển Linh vẫn mạnh miệng cãi cố: "Cũng đâu nhất định là muốn tìm thầy dạy học, ta đây vốn dĩ cũng rất nhiệt tình hiếu khách mà."

"Ta biết rồi, Thang đại lão bản nhà chúng ta là người có tâm địa tốt nhất trần đời."

Hai người dông dài về chuyện của Quan Tuần một lát rồi lại chuyển sang những đề tài khác. Tiết trời đã cận kề cuối năm, năm nay xem ra lại là một đợt bận rộn túi bụi. Thêm vào đó còn có một việc, người nhà họ Triệu đã đến thành Phụng Nguyên, phủ đệ của họ xây dựng xong xuôi nằm ngay bên khu mở rộng phía nam thành.

Gia chủ Triệu gia là lão thái thái cùng những người khác dẫu chưa tới nơi, nhưng vị quản gia đã đi đến trước để thu xếp, quán xuyến mọi công việc chuyển nhà.

Họ vừa mới chân ướt chân ráo đến thành Phụng Nguyên không bao lâu đã cho người gửi thiệp tới tửu lầu nhỏ, thái độ cực kỳ khách khí. Trong thiệp cũng không nói đến chuyện bái phỏng này nọ, đại ý chỉ báo là sang năm mới chính thức dọn nhà, hiện giờ trong phủ còn trống trải, bừa bộn nên trước mắt chưa dám mời khách quý ghé chơi, chờ bao giờ ổn định gia thất đâu ra đấy mới mở tiệc thết đãi sau. Ngoài ra còn nhắc vụ năm lễ năm nay, phía Thang gia không cần phải tốn công lặn lội ngàn dặm tìm người gửi tới tận Lục kinh nữa, về sau đôi bên đều ở chung một thành Phụng Nguyên, quả thật là mối duyên phận sâu sắc......

Bức thư này viết ra vừa có vài phần khách sáo lại vừa mang mấy phần chân thành, thân cận.

Mấy năm nay, quanh năm suốt tháng hai nhà chỉ có một lần thư từ qua lại. Địa vị đôi bên vốn cách biệt trùng khơi, lại chẳng có quan hệ thân thích họ hàng gì, kỳ thực cứ duy trì như vậy ngược lại lại có cái phong thái quân tử chi giao đạm như nước, khiến đôi bên ở chung đều cảm thấy thoải mái, tự tại.

Hiện giờ nhà họ Triệu đã dời đến thành Phụng Nguyên, Thiết Ngưu và Thang Hiển Linh đưa mắt nhìn nhau một cái là hiểu ngay thái độ của đối phương, vẫn thống nhất như thuở trước: Cứ thế nào thì ứng xử thế nấy, có sao đi lại vậy, tuyệt đối không có chuyện thấy người sang bắt quàng làm họ, cứ bình thản mà sống tốt cuộc sống nhỏ của nhà mình là được.

Năm Thái Bình thứ ba khép lại bằng trận bàn tán xôn xao về chuyện chung thân đại sự của Hải Ngưu. Hải Ngưu năm nay đã mười tám tuổi rồi, ở trong thôn cái đứa bằng tuổi nó là Xuyên Tử thì đã cưới vợ yên bề gia thất, duy chỉ có mỗi mình Hải Ngưu là vẫn phòng không chiếc bóng. Mấy năm nay Trương thúc kiếm ra được không ít tiền, song thân của Hải Ngưu lại khoẻ mạnh, gia cảnh trong nhà cũng thuộc hàng giàu có trong vùng. Theo lý mà nói thì bà mối làng trên xóm dưới đáng lẽ phải giẫm nát cả bậc cửa nhà họ Trương từ lâu rồi, mà thực tế quả đúng là như vậy.

Ngặt nỗi Hải Ngưu chẳng vừa mắt một ai, trước sau tất thảy đều đẩy đi sạch sành sanh.

Lúc đón tết, Thang Hiển Linh cùng Thiết Ngưu dắt theo Lạt Lạt về lại trong thôn. Vương a thúc ngồi bên bàn ăn vừa nhắc tới chuyện này là mặt mày liền sầu thối ruột, không nhịn được mà mở miệng cằn nhằn, oán giận liên tục. Trong khi đó ngoài sân, Hải Ngưu đang dắt theo một đám nhóc tì đốt pháo nổ vang trời vang đất, tiếng nổ đùng đoàng vừa dứt là thằng nhỏ lại cười nắc nẻ cạc cạc đầy khoái chí.

Trong nhà, Vương Tố Tố ủ rũ than thở: "...... Ta chẳng biết cái thằng nghịch tử kia nó muốn tìm một người như thế nào nữa. Chỉ riêng cái việc nói khéo để từ chối các bà mối thôi mà ta đã phải tốn không biết bao nhiêu là tiền quà cáp biếu xén rồi. Nữ lang cưới về thì nó bảo không cần, ca nhi dắt mối tới nó lại bảo không thích, ta cũng chịu chết chẳng biết rốt cuộc là nó ưng cái kiểu gì."

"Ngươi đừng động đến nó." Trương Hoài thấy phu lang ủ rũ liền đâm bực: "Ta thấy thằng nhãi đó đang ngứa da thèm đòn rồi, phải cho nó một trận thì mới chừa."

Thang Hiển Linh nghe tiếng cười vô tư lự của Hải Ngưu vọng vào từ ngoài sân, liền ôn tồn bàn với hai vị thúc thúc: "Hải Ngưu tính tình vẫn còn trẻ con lắm, nó chưa thông suốt chuyện tình cảm đâu. Giờ mà ép nó lấy vợ lấy phu lang thì cũng chẳng hay ho gì, chi bằng cứ để thong thả thêm một thời gian nữa xem sao."

"Trương thúc của con với ta kỳ thực cũng nghĩ thế, thôi thì cứ để mặc nó vậy." Vương Tố Tố ngoài miệng buông xuôi như thế nhưng vẫn không nén nổi tiếng thở dài: "Cùng lắm là cho nó thong dong thêm một hai năm nữa thôi, chứ bằng không sau này già đầu ra đấy thì chẳng ma nào thèm dòm ngó nữa."

Chuyện đại sự của Trương Hải Ngưu khiến hai người cha lo đến bạc cả đầu, ngặt nỗi bản thân thằng nhóc lại chẳng buồn sầu lấy một giây. Ngày ngày Hải Ngưu cứ như đứa trẻ lớn xác, cầm đầu đám nhóc tì trong làng chạy nhảy lung tung, hết rủ nhau ra mặt sông đóng băng trượt băng, lại rồng rắn kéo đi đốt pháo, không chịu ngồi yên một phút nào.

Thấm thoắt đã bước sang năm Thái Bình thứ tư.

Thành Phụng Nguyên ngày càng mở rộng, phía Bắc của hoàng thành đã hoàn công xây dựng xong xuôi. Bách tính thường dân dĩ nhiên chẳng thể ngó nghiêng vào trong, bởi đã có một bức tường thành sừng sững ngăn cách ở giữa. Tường thành cũ phía Bắc không hề bị dỡ bỏ, nó vừa cao lại vừa dày, chặn đứng mọi nẻo qua lại. Người ta chỉ có thể đứng từ xa phía ngoài thành Phụng Nguyên mà chiêm ngưỡng quần thể kiến trúc đồ sộ như một con quái vật khổng lồ tọa lạc phía Bắc.

Đó chính là hoàng cung.

Khu vực mở rộng về phía Nam thì toàn là những tòa phủ đệ nguy nga, bề thế, mà tòa nhỏ nhất ở đây cũng phải thuộc dạng tam tiến.

Năm nay chắc chắn là một năm không tầm thường, bởi thánh giá sắp ngự giá vào hoàng thành. Dân gian rỉ tai nhau Chân long thiên tử sắp đến nơi rồi, thành Phụng Nguyên phen này mới thực sự biến thành hoàng thành danh chính ngôn thuận. Trước đây gọi là hoàng thành thì cũng chỉ là cái danh, chẳng mấy ai cảm nhận được thực tế, nhưng nay bầu không khí đã khác hẳn.

Trên các tuyến phố, binh lính đi tuần dày đặc hơn hẳn, hình phạt cũng nghiêm khắc, nặng nề hơn trước nhiều. Ngày xưa, những vụ cãi vã, va chạm nhỏ nhặt trên phố đều được mắt nhắm mắt mở bỏ qua. Thậm chí dẫu có động tay động chân, chỉ cần không gây thương tích nghiêm trọng hoặc không có người báo quan thì chẳng ai thèm quản.

Thế nhưng gần đây thì đã khác, hễ vi phạm là xử phạt, mà phạt rất nặng.

Đến đám trộm cắp vặt, móc túi cũng bị lùng bắt sạch sành sanh, đại lao của thành Phụng Nguyên nghe đâu đã chật ních người đến mức không còn chỗ chứa. Còn đám trẻ ăn mày lang thang cơ nhỡ, nghe nói tất thảy đều được gom lại rồi đưa vào các thiện đường cả rồi.

Hóa Cát vừa nghe nhắc đến thiện đường là trong lòng lại dấy lên nỗi ám ảnh. Thằng bé bảo nơi đó chẳng tốt đẹp gì, toàn là đứa lớn bắt nạt đứa bé, có ốm đau bệnh tật cũng bỏ mặc không ai ngó ngàng, cứ để mặc cho tự sinh tự diệt. Đã vậy ngày nào cũng bị đòn roi, hồi đó thằng bé nghe nói đám nhỏ bị tống vào thiện đường chẳng được bao lâu là chỉ còn trơ lại một cái xác không hồn.

Thang Hiển Linh thấy Hóa Cát nhắc đến chuyện này với thần sắc bất an, liền biết ngay thằng bé lại nhớ về những ký ức kinh hoàng thuở chạy nạn. Hai đứa đồ đệ này từng đi qua lằn ranh sinh tử, tâm tính dĩ nhiên chẳng thể vô tư như những đứa trẻ bình thường khác. Bản thân cậu vốn hay bênh vực, xót con cháu, mà hai đứa nhỏ này lại hiểu chuyện, kiên cường đến vậy, khiến cậu không khỏi chạnh lòng.

"Thế thì chúng ta quyên góp một ít đồ ăn vậy, thứ Bảy này ngươi qua đó ngó thử xem sao." Thang Hiển Linh ôn tồn bảo.

Thang Hóa Cát ngẩn người ra: "Con đi ạ?"

"Nếu ngươi không muốn đi thì để ta với sư công ngươi đi."

"Con đi, con đi mà sư phụ!" Thang Hóa Cát vội vàng nhận lời.

Thang Ngộ Xuân biết sư phụ mình vốn có lòng thấu cảm, bèn bàn với tiểu sư đệ: "Đến lúc đó tụi mình chưng ít màn thầu, ta với đệ cùng mang qua đó."

"Đừng có bủn xỉn quá, trong thiện đường toàn là trẻ mồ côi với người già cả thôi. Hãy chưng ít bánh bao nhân đậu đỏ hoặc mấy thứ bánh trái mềm một chút. Bên đó ngày thường chắc cũng có cơm cháo qua ngày, khoan bàn đến chuyện ngon dở, chủ yếu là đủ no bụng đã. Chúng ta quyên chút đồ ngọt, mỗi tuần lại đổi món một lần, còn mấy thứ bánh bao nhân thịt thì trước mắt cứ từ từ đã." Thang Hiển Linh dặn dò.

Ngộ Xuân và Hóa Cát đồng thanh vâng dạ.

Hồi đầu năm, tầm tháng Hai, người ta râm ran đồn rằng Chân long thiên tử sắp nhập hoàng thành, làm bách tính trong thành cứ căng thẳng nơm nớp đợi chờ. Thế nhưng tới tận tháng Tư vẫn chẳng thấy bóng dáng thánh giá đâu, mọi người mới dần dà thả lỏng tinh thần, cuộc sống của dân chúng cứ thế trôi qua bình thường.

Mấy tháng nay, xe ngựa của các đoàn người đổ vào thành đông như trẩy hội, có điều họ đều đi qua lối cửa Nam.

Tửu lầu nhỏ ngày nào cũng rộn ràng tiếng thực khách buôn chuyện phiếm.

"Chẳng biết là gia tộc lớn nào, nhưng hôm nay đúng là mở mang tầm mắt thật. Cái đoàn xe ngựa dài dằng dặc như con rồng lớn, nhìn đầu chẳng thấy đuôi đâu."

"Nghe nói người ta còn dẹp đường nữa cơ."

"Dẹp đường? Dẹp đường kiểu gì?"

"Dẹp đường mà cũng không biết à? Là người ta dọn sạch bách con phố trước cửa phủ đệ, không cho bá tánh thường dân đứng xem đấy."

Người bản địa ngồi dưới đại sảnh nghe vậy, kẻ thì tặc lưỡi kinh ngạc, người lại bĩu môi ra chiều coi thường: "Cứ làm như chỉ có quý nhân từ Lục kinh tới mới là quý nhân không bằng, làm cái điệu bộ như sợ chúng ta dòm ngó vậy, nhìn thêm một cái thì mất miếng thịt nào chắc? Ngày trước người nhà họ Cố, họ Vệ ra cửa đi chùa dâng hương cũng có thấy đòi dẹp đường phong tỏa bao giờ đâu."

"Chứ còn gì nữa."

"Vẫn là người Lục kinh lắm thói nhiều tật, chuộng phô trương."

Cái kiểu so bì, ghen ăn tức ở giữa người Phụng Nguyên và người Lục kinh như thế này vốn chẳng phải chuyện hiếm. Sự khác biệt Nam Bắc, phong tục mỗi nơi mỗi khác, lại thêm việc Lục kinh vốn là hoàng đô cũ, nay thành Phụng Nguyên lên ngôi đổi đời, nên bách tính Phụng Nguyên nhìn cái điệu bộ ra vẻ, nghi thức, thói kệch cỡm của người Lục kinh mới dời tới là lại thấy ngứa mắt không chịu nổi.

Nhưng mọi người cũng chẳng cãi vã om sòm làm gì, đồ ăn vừa bưng lên, rượu vừa rót xuống là ai nấy lại vui vẻ, hớn hở ngay.

Có người quay sang hỏi ý kiến của Quan Tuần, không mang ý khiêu khích mà chỉ muốn gã phân giải đôi câu: "Quan huynh đệ, ngươi nói thử xem, món ăn thành Phụng Nguyên chúng ta thế nào? So với Lục kinh kia có phải là vượt trội hơn, ngon lành hơn không?"

Quan Tuần nghe vậy thì buồn cười đáp: "Các vị huynh đệ ơi, ta cũng đâu phải người Lục kinh. Tuy nhiên ta từng qua Lục kinh, cũng từng bôn ba nhiều nơi khác, nói bằng cái tâm thì nơi nào cũng có mỹ vị riêng, thảy đều là phong vị quê nhà cả. Với ta thì thấy bình thường, nhưng đối với dân bản xứ thì lại là món ngon tuyệt đỉnh."

"Ngươi cái người này cứ dĩ hòa vi quý, nói chuyện nghe mất hứng quá."

"Chứ còn gì nữa."

Quan Tuần chỉ cười xòa trước mấy lời cằn nhằn đó, gã nhấp một ngụm rượu rồi nói tiếp: "Nhưng có một điều này, ta đã đi chu du qua biết bao nhiêu nơi, riêng tại thành Phụng Nguyên này, rượu cao lương của Thang ngũ ca đúng là độc nhất vô nhị. Chẳng thể tìm đâu ra thứ rượu nào thơm nồng hơn loại rượu cao lương này nữa, quả thực là cái thứ tuyệt nhất."

Đám thực khách nghe tới đó là khoái chí ngay, ai nấy đều sướng rơn, vỗ bôm bốp vào vai Quan Tuần rồi nâng ly chúc tụng, còn đòi bao gã uống thêm bình nữa, bầu không khí thân thiết cứ như anh em một nhà.

"Thật tinh mắt đấy!"

"Theo ta thấy, dẹp hết mấy cái gọi là mỹ thực các nơi đi. Đám người kia một khi đã tới thành Phụng Nguyên chúng ta, chỉ cần đặt chân vào cái tửu lầu nhỏ của Thang Ngũ ca là tự khắc biết ngay thế nào là ngon là dở."

"Ở đây dứt khoát không có món nào dở luôn!"

"Chuẩn không cần chỉnh."

Trong khi đó, thân quyến của các quan viên Lục kinh dời tới từ sớm bây giờ vừa mới thu dọn nhà cửa xong xuôi. Đám thiếu gia, tiểu lang quân với nữ lang các nhà đã chân tay đã bắt đầu đứng ngồi không yên. Đặt chân đến vùng đất mới, kinh thành mới, nơi mà sau này họ sẽ phải gắn bó suốt mười mấy năm trời, không ít người vì chưa quen khí hậu, lại phải xa rời quê cha đất tổ nên khó tránh khỏi dâng lên niềm bực dọc, oán thán, trong mắt họ thì thành Phụng Nguyên nơi chốn đều chẳng bằng một góc của Lục kinh.

Nhưng cũng có những kẻ tò mò, háo hức, nhìn cái gì ở thành Phụng Nguyên cũng thấy mới mẻ, thú vị.

Lại có cả những kẻ thích đem ra so kè hơn thua, hết lấy quy mô kiến trúc cho đến cách ăn mặc của bách tính thành Phụng Nguyên ra so sánh với Lục kinh.

Và dĩ nhiên...... Việc đầu tiên bọn họ đem ra đặt lên bàn cân chính là chuyện ăn uống.

Dân dĩ thực vi thiên mà.

"Thành Phụng Nguyên này có món gì gọi là đặc sản mỹ vị địa phương không?"

"Dạ có chứ ạ, mấy tòa tửu lầu lớn ở phía chợ Tây đều là những tửu lầu lâu đời có tiếng ở vùng này." Gã sai vặt trong phủ đã sớm đi dò la hỏi thăm đâu ra đấy, bấy giờ liền nhanh nhảu báo cáo lại với đám thiếu gia lang quân nhà mình.

Đám thiếu gia này cưỡi ngựa đĩnh đạc phi thẳng đến chợ Tây. Đánh chén xong xuôi, trên bàn vẫn còn thừa mứa cả một mâm cỗ đầy, có những đĩa thức ăn họ mới chỉ động vào vài ba đũa. Cuối cùng, một gã ném phăng đôi đũa xuống bàn, bĩu môi bảo: "Cũng chỉ đến thế mà thôi. Bảo khó ăn thì không hẳn, ngặt nỗi so với mấy tửu lầu lâu đời ở Lục kinh thì còn kém xa lắm."

Có thực khách bàn bên tức nổ đom đóm mắt, đang định đứng lên đôi co vài câu thì liền bị đồng bạn kéo giật trở lại, khuyên can dại gì mà đi dính líu, tranh cãi với đám thiếu gia đó. Vị lang quân kia nhìn qua là biết ngay dòng dõi nhà làm quan, mà nay thành Phụng Nguyên đã hóa hoàng thành rồi, một mảnh ngói rơi xuống có khi cũng tùy tiện đập trúng đầu một ông quan không chừng.

"Vị thiếu gia này, mỗi nơi thảy đều có phong vị riêng biệt. Tiệm chúng ta nếu không hợp khẩu vị của ngài thì để ta mạn phép đề xuất cho ngài một nơi." Chưởng quầy của Ngọc Mãn Kim Lâu bước tới, tươi cười hớn hở nói.

Tiểu lang quân áo quần lụa là bấy giờ mới lười biếng mấp máy bờ mi, cất giọng: "Ồ?"

Khóe miệng chưởng quầy khẽ co giật giữ nụ cười, đon đả bảo: "Ở phường An Nghiệp có tửu lầu nhỏ của Thang ngũ ca, ngài cứ thử ghé qua nơi đó xem sao. Đồ ăn nhà họ nếu mà không nuốt nổi..."

"Thì sao nào? Nhà họ nấu khó ăn, chẳng lẽ ta lại thèm quay lại đây tìm ngươi gây sự chắc?" Tiểu lang quân vặn hỏi.

Chưởng quầy của Ngọc Mãn Kim Lâu tức đến độ suýt cắn nát cả hàm răng, chỉ đành gắng gượng đáp lời: "Nếu đồ ăn nhà họ không hợp miệng ngài, ngài cứ việc quay lại tìm ta, tiểu nhân đến lúc đó chuẩn định sẽ cúi đầu nhận lỗi với ngài."

"Xem ra cũng thú vị đấy. Tiệm họ là tiệm họ, tiệm họ nấu dở mà ngươi lại đứng ra nhận lỗi cơ à?" Tiểu lang quân buồn cười bảo. Hắn chẳng đợi gã chưởng quầy kịp đáp lời liền ném bạc xuống bàn, rồi dắt theo đám gã sai vặt nghênh ngang rời khỏi tửu lầu, phút cuối còn quăng lại một câu: "Lát nữa ta sẽ quay lại tìm ngươi."

Ý tứ rõ ràng là hắn đinh ninh cái tiệm kia nấu ăn cũng chẳng ra gì.

Chưởng quầy của Ngọc Mãn Kim Lâu bấy giờ tắt ngóm nụ cười, đây là lần đầu tiên gã thầm cầu mong cho Thang Hiển Linh làm ăn khuyếch trương, giữ vững phong độ: "Cái đám thiếu gia lang quân kiêu căng ngạo mạn, coi trời bằng vung này, dám coi thường cả đồ ăn thức uống của thành Phụng Nguyên chúng ta, hừ hừ."

Thang Hiển Linh ơi là Thang Hiển Linh, ngươi dứt khoát đừng có bôi tro trát trấu vào bộ mặt ẩm thực của đất Phụng Nguyên này đấy nhé!

Ở một diễn biến khác, Triệu Giác Tinh dạo này cũng đã đặt chân đến thành Phụng Nguyên. Cậu vừa vào thành từ hôm qua, nghỉ ngơi chỉnh đốn suốt một đêm, sáng ngày ra đã sửa sang quần áo gọn gàng rồi cưỡi ngựa đi khắp phố phường. Cậu nhìn cái gì cũng thấy mới mẻ, thú vị, trước tiên liền phi thẳng một mạch tới phường Bát Hưng. Tại đây, Triệu Giác Tinh mua một chiếc bánh nướng nhân thịt cải mai khô, cứ thế sọc tay vào túi vừa ngồi trên lưng ngựa vừa gặm nhấm ngon lành. Triệu Giác Tinh vừa đi vừa ăn suốt dọc đường, lảo đảo lắc lư hướng thẳng về phía tửu lầu nhỏ ở phường An Nghiệp mà tiến bước......

"Cái bánh nướng này quả nhiên là ngon tuyệt, hồi lần đầu tiên ta gặp Thang a ca đã nghe huynh ấy tấm tắc nhắc tới rồi."

"Không tồi, không tồi chút nào!"