Tửu lầu nhỏ Thang ngũ ca ngày nào cũng trong tình trạng kín bàn, không hở một chỗ trống. Hồi đầu xuân, bách tính thành Phụng Nguyên vốn chuộng ăn thịt dê, nào là lẩu thịt dê nhúng nước dùng thanh đạm, bánh đa hay mì thịt dê các loại. Thế nhưng từ khi nhà Thang ngũ ca tung ra đủ loại nước lẩu khác nhau, người gọi lẩu nước thanh ít hẳn đi...
Bởi vì nếu muốn ăn lẩu nước thanh, người ta tự mua đồ về nhúng ở nhà là được, đâu đâu chẳng làm được.
Đã cất công đến nhà họ Thang thì phải ăn mấy món hương vị độc lạ, hiếm thấy một chút.
Ngoài lẩu nhúng, nhà họ Thang còn có đủ loại lẩu khô cay nồng, thơm nức mũi: Lẩu khô tôm, lẩu khô cá, lẩu khô sườn sụn. Tôm, cá, sườn được chiên qua dầu cho vàng ruộm, rồi đem xào chung với ớt hiểm đỏ rực, hoa tiêu, măng tươi, khoai tây chiên và cả bánh quai chèo, tất thảy đều hòa quyện trong loại sốt dầu đỏ thần thánh của Thang ngũ ca. Bên trên món ăn được rắc thêm một nắm vừng trắng thơm phức. Chờ sau khi ăn hết đồ trong nồi, nếu ai chưa no bụng mà muốn nhúng thêm rau nấm thì có thể gọi người làm của quán.
Người làm sẽ xách một chiếc ấm đồng lớn đựng nước dùng ninh từ xương của nhà họ Thang để chế thêm vào nồi lẩu khô. Ai ăn đậm vị thì thả thêm một miếng cốt lẩu nhỏ, rồi cứ thế gọi đồ nhúng ăn tiếp.
Tầm ấy mà thả nắm miến khoai lang, miến khoai tây hay vắt mì sợi vào thì đúng là ngon nuốt lưỡi.
Rượu của tửu lầu nhỏ cũng thuộc hàng cực phẩm, có bình rượu cao lương, có bình rượu hoa mai. Đợt tết năm ngoái, Thang lão bản còn tự tay hái những đóa hoa mai mùa đông để ủ nên mấy vò rượu hoa mai này.
Ai tửu lượng tốt thì gọi một bình cao lương, thảnh thơi nhúng đồ ăn, thỉnh thoảng lại nhấp một ngụm nhỏ. Một hớp rượu nồng trôi xuống bụng, nghe thấy bàn bên cạnh đang bàn tán chuyện dời đô, thế là không kìm được cũng nhảy vào góp vui vài câu...
Cái không khí ở tửu lầu nhỏ của Thang Ngũ ca vốn là như vậy, chẳng ai thấy kỳ quặc cả. Nếu ai chê ồn ào, không muốn trò chuyện với người ngoài thì cứ việc lên lầu hai, trên đó có nhiều phòng bao yên tĩnh. Còn dưới đại sảnh thì ai nấy đều xôm tụ như thế, tính ra còn náo nhiệt hơn cả mấy quán trà nghe kể chuyện sách.
"Qua quán trà uống một bụng nước toàn trà là trà, chẳng có tí vị gì."
"Cứ phải ra tửu lầu nhỏ náo nhiệt thế này mới vui, nào, cụng ly cái coi."
"Mà dời đô thì hoàng đế lão gia sẽ ngự ở đâu nhỉ?" Lại có người kéo câu chuyện quay về chủ đề cũ.
Có người cười lớn, đưa tay chỉ chỉ đối phương: "Xem cái tên này kìa, hoàng đế lão gia cái gì, phải gọi là Thánh thượng! Nơi ở của Thánh thượng tất nhiên là hoàng cung bề thế, chứ đâu có giống bách tính chúng ta sống trong mấy căn nhà tầm thường."
"Mặc kệ là nhà ở hay hoàng cung, thì chung quy cũng phải có một chỗ để che đầu chứ? Ta nhìn thế nào cũng thấy giống như sẽ ngự ở phía Bắc thành. Những tòa phủ đệ hướng Bắc rộng lớn như vậy, không chừng là sẽ đến ở phủ nhà họ Vệ đấy."
"......" Có người bật cười chế giễu: "Càng nói càng xa vời, Thánh thượng là bậc thiên tử, đời nào có chuyện thiên tử lại đi ở nhờ nhà của thần tử bao giờ?"
"Thế thì tổng không thể dời đến tận phường An Nghiệp của mình đấy chứ?"
Câu này rõ ràng là nói đùa để chọc cười mọi người, làm cả đại sảnh rộ lên những tràng cười ha ha vui vẻ.
Thế nhưng rốt cuộc thì Thánh thượng sẽ ngự ở nơi nào đây?
Thang Hiển Linh cũng rất tò mò. Thành Phụng Nguyên bảo lớn thì cũng lớn thật, nhưng đó là so với các thành trì thời bấy giờ, chứ hiện tại trong thành đã được quy hoạch vuông vắn, ngăn nắp cả rồi, đào đâu ra đất trống để xây hoàng cung cơ chứ. Nếu nói xây mấy căn nhà ba tiến, bốn tiến, năm tiến thì chắc chắn có chỗ, chứ hoàng cung thì quy mô cực kỳ bề thế, trừ phi phải dỡ bỏ vài phường đi để xây lại.
Nghĩ đến đây, Thang lão bản cũng đâm ra lo sốt vó, quay đầu lại liền thì thầm với Thiết Ngưu: "Ngươi nói xem họ định dỡ chỗ nào chứ? Các thế gia thì không dễ đụng vào rồi, còn nhà cửa của bách tính thì có bồi thường thỏa đáng không? Vị trí nhà mình cũng khá đẹp, không biết có bị dỡ trúng mảnh này không nữa."
Thiết Ngưu thấy phu lang càng nghĩ càng sợ hãi, bèn trấn an: "Sẽ không đâu."
"Sao mà lại chắc chắn là không chứ." Thang Hiển Linh vẫn có chút lo sốt vó.
Tác phong làm việc của tân đế ra sao, dân chúng đều chưa rõ. Mới lên ngôi năm thứ hai đã đao to búa lớn đòi dời đô, ai biết được là hôn quân hay minh quân. Vạn nhất lại là ông vua thích xây lầu Trích Tinh, mê trò ao rượu rừng thịt thì khổ...... Ái chà chà, phi phi phi, không được nghĩ bậy.
"Thôi bỏ đi, đừng nghĩ ngợi nhiều nữa." Thang Hiển Linh thầm tự vả miệng ba cái trong bụng, cậu rúc vào lồng ngực Thiết Ngưu, ngẩng đầu lên vô cùng trịnh trọng và nghiêm túc nói: "Ta chỉ hy vọng vị tân đế này là một bậc minh quân nhân hậu, biết thương xót bách tính."
Thiết Ngưu ôm chặt lấy Hiển Linh: "Ta cũng hy vọng như vậy."
Cuộc sống của dân thường thấp cổ bé họng, vừa trông vào ông trời, lại vừa phải trông vào chính sách của người cầm quyền.
Sự suy đoán và lo âu của Thang Hiển Linh cũng là nỗi niềm chung của bách tính trong thành, suy nghĩ của mọi người đều rất giống nhau. Nhưng chưa đầy nửa tháng sau, trong tửu lầu nhỏ đã có người nghe ngóng được tin tức.
Thang lão bản nhờ vậy cũng biết được vị trí xây dựng hoàng cung.
"Dưới gầm trời này, đâu chẳng là đất của thiên tử. Thánh thượng dời đô đến thành Phụng Nguyên chúng ta thì chỗ nào mà chẳng ngự được, còn lo gì không nhét vừa một cái hoàng thành chứ?"
"Là ở phía Bắc..."
"Dỡ thật mấy phường hướng Bắc sao? Thế thì tốt quá, chẳng liên lụy gì đến dân thường chúng ta cả." Có người vừa nghe thấy thế liền nhanh nhảu cắt lời. Phía Bắc thành thảy đều là nơi ở của các quan lại thế gia.
Ngẫm lại cũng phải, hoàng đế lão gia đời nào lại thèm đoái hoài đến chỗ ở của đám phó thường dân.
Vị khách mở đầu câu chuyện ban nãy liền phẩy phẩy tay: "Cái tên này hay nhỉ, sao cứ chỉ chăm chăm nhìn vào mấy phủ nhà họ Vệ, họ Cố, họ Lê thế? Còn phải lui về phía Bắc nữa kìa..."
"Lui nữa thì ra mẹ nó khỏi thành rồi còn gì."
Đối phương bật cười: "Thì chính là ra khỏi thành còn gì nữa! Hoàng thành ấy mà, đạo tường thành kia cũng không dỡ đi, về sau nó chính là bức tường ngăn cách nơi ở của Thánh thượng với dân chúng bình thường. Cứ thế mà xây nối dài thêm về phía Bắc thôi......"
Thang Hiển Linh nghe xong cách nói của vị khách này, quay đầu lại liền bảo với Thiết Ngưu: "Dạo trước đúng là ta tự hạn chế tầm mắt, cứ nghĩ như kiểu hoàng hậu nương nương thì đi rán bánh rán lớn, còn hoàng đế lão gia thì đi cày bằng cuốc vàng vậy."
Hóa ra người ta chẳng thèm động vào cấu trúc sẵn có của thành Phụng Nguyên, mà trực tiếp xây mở rộng thêm ra.
"Bằng không thì thật sự không đủ chỗ chứa. Thành Phụng Nguyên mình hiện tại có được bao nhiêu quan viên đâu, chứ một khi đã biến thành kinh đô, ngươi cứ nhìn số lượng quan lại ở Lục kinh là đủ hiểu rồi."
"Không chỉ mở rộng thêm về phía Bắc đâu, nghe đâu cả phía Nam bên mạn hồ cũng đều phải nới rộng ra hết."
"Đến lúc đó thành Phụng Nguyên chúng ta sẽ đông đúc hơn bây giờ nhiều, tha hồ mà náo nhiệt."
Chuyện dời đô này không chỉ khiến giới cầm quyền và các quan chức ở kinh thành bận rộn, mà những người dân nhạy bén bên dưới cũng đã rục rịch tính đến chuyện làm ăn với người Lục kinh. Dạo gần đây, ở thành Phụng Nguyên đã mọc lên không ít tiệm ăn nhỏ nấu theo khẩu vị Lục kinh, và điều đáng nói nhất là giá nhà đất ở Phụng Nguyên đã bị đẩy lên cao chót vót, bắt đầu sánh ngang với Lục kinh rồi.
Thang đại lão bản mỗi ngày chỉ cần nán lại dưới đại sảnh một lát là đã hóng đủ các loại tin tức vỉa hè liên quan đến chuyện dời đô.
Từ chuyện vĩ mô như giá nhà đất tăng vọt, cho đến những việc nhỏ nhặt như sở thích ăn uống, kiểu dáng quần áo hay hoa văn trang sức của người dân bên bển.
Ngay cả Ngộ Xuân cũng biết lo xa, chủ động hỏi: "Sư phụ, hay là chúng ta cũng cân nhắc thêm bớt vài món cho hợp khẩu vị của người Lục kinh xem sao?"
Thang Hiển Linh và Thiết Ngưu từng ở lại Lục kinh suốt hai tháng trời. Hồi mới chân ướt chân ráo đến đó, hai người cũng tò mò về ẩm thực bản địa lắm, cứ gọi ăn liên tục. Nhưng ăn mãi rồi cũng chịu không nổi, cuối cùng phải thuê một gian sân nhỏ để tự đi chợ nấu nướng theo ý mình.
"Khẩu vị của người Lục kinh thiên về vị ngọt một chút."
"Lúc ấy trong đó chưa có ớt, nên người ta chủ yếu kho nấu bằng nước tương rồi bỏ thêm đường vào. Còn về thức uống thì bách tính bên bển chuộng uống trà lôi nhất, tức là đem lạc, hạt dưa với các loại hạt khô đã rang chín giã thành bột mịn, rồi chế nước sôi vào khuấy đều lên uống, mà nhớ là phải bỏ đường vào nhé."
Vừa ngọt lại vừa ngậy.
Thang Ngộ Xuân: ......
Thang Hóa Cát thì hơi há hốc mồm kinh ngạc.
"Món đấy mà cũng uống ngon được ạ?" Thang Ngộ Xuân ôm thái độ đầy hoài nghi.
Thang Hiển Linh nhớ lại hương vị lần đó, bảo: "Lần đầu ta uống thì thấy cũng khá được, sau này ta có cải tiến lại một chút, đem xào với bột mì thành món trà dầu, nhưng không bỏ đường nữa mà ăn vị mặn. Bên đó còn có món bánh vòng chiên, giòn rụm và xốp hơn bánh quẩy nhà mình một chút, bẻ ra thả vào bát nước dùng ăn kèm thì thơm phức."
Nói đoạn, Thang Hiển Linh chợt nảy ra ý định muốn bày cho Thôi Đại Bảo một tay. Hay là bảo tiệm đồ ăn sáng nhà y bán thêm món súp cay Hà Nam với trà dầu xem sao? Dẫu sao tiệm đó cũng chỉ phục vụ bách tính quanh phường, khách khứa đến mua toàn tự mang bát đĩa đi đựng mang về chứ quán không có chỗ ngồi ăn tại chỗ.
"Thế họ quen ăn ngọt như vậy, sau này tới thành Phụng Nguyên mà vào quán mình toàn gặp các món cay rát, tê lưỡi thì tính làm sao bây giờ?" Thang Ngộ Xuân bắt đầu lo xa cho tương lai.
Hóa Cát nghe vậy cũng đâm lo cho việc làm ăn của tửu lầu sau này.
Thang Hiển Linh bật cười, ôn tồn bảo: "Một phương khí hậu nuôi một phương người, người Lục kinh mới đầu đến thành Phụng Nguyên chắc chắn sẽ có đủ kiểu không hợp, thèm nhớ ẩm thực quê nhà. Thế nhưng thời gian lâu dần, họ tự khắc cũng sẽ quen và thích ứng với cách ăn uống của xứ mình thôi."
Chẳng hạn như bách tính thành Phụng Nguyên chuộng ăn thịt dê, ấy là vì mùa thu đông nơi này có phần kéo dài và giá rét, ăn thịt dê vừa bổ dưỡng cho cơ thể lại vừa đuổi lạnh. Họ thích bỏ thêm chút hạt tiêu cho nhanh thoát mồ hôi, và mức độ tiếp nhận ớt cay cũng rất cao, tất cả đều là vì mục đích giữ ấm cả.
Còn Lục kinh thì sông ngòi dày đặc, người dân ăn nhiều thủy hải sản, nào là cá, tôm, cua, mực các loại. Món kho nấu của họ thường thiên về vị ngọt của nước tương, thủy sản thì chuộng đem hấp, đến cả nước dùng chan mì cũng đa phần lấy nước ninh cá làm nền.
"Nhà mình cũng đâu phải không có món thanh đạm. Như vậy đi, đến lúc đó chúng ta cứ tung thêm một hai món thủy sản thanh nhẹ làm món chính là ổn." Thang Hiển Linh ngẫm nghĩ một lát, thấy kết hợp một chút cũng hay.
Dẫu sao quán nhà cậu cũng chẳng phải bán đồ ăn chính tông của thành Phụng Nguyên, mà đều là món ăn kết hợp, món gì cũng làm, cốt là xem dạo gần đây Thang lão bản đang thèm ăn cái gì mà thôi.
Năm Thái Bình thứ hai này không chỉ riêng tửu lầu nhỏ bận rộn, mà toàn bộ thành Phụng Nguyên đều trải qua một năm tất bật và có phần lộn xộn. Thấy rõ nhất là lượng thương nhân từ phương Nam đổ về ngày một đông và giá nhà đất thì đúng là tăng lên vùn vụt.
Thang Trân đâm ra có chút hối hận, dạo trước biết thế mình đừng chỉ mua hai gian cửa hàng, đáng lý phải gom mua nhiều thêm chút nữa. Sau này mấy đứa Nhị Nương, Tam Nương rồi Tứ ca nhi lớn lên, lúc ấy đất cát mới gọi là đắt đỏ quý giá...
Thang Hiển Linh nghe xong mà dở khóc dở cười, cậu bảo: "Nhị tỷ tốt của ta ơi, ba đứa nhỏ hiện tại mới bao nhiêu tuổi đâu, tỷ đừng lo nghĩ chuyện xa xôi quá làm gì. Giá nhà đất lúc này đang bị thổi lên quá cao, ta thấy chắc chắn sẽ có một khoảng thời gian bị chững và hạ nhiệt xuống, đến lúc đó chúng ta nắm bắt thời cơ mua vào sau cũng chưa muộn."
Những thương nhân phương Nam đến đây vốn tiền tài dư dả, họ chẳng màng giá cả đắt đỏ mà vung tiền mua nhà, nhưng cũng có những người không muốn làm kẻ ngốc chịu bị chém đẹp, dứt khoát chọn phương án thuê nhà mà ở.
Hai căn nhà hai tiến ở phường Phong Nhạc mà Thang Hiển Linh mua đợt trước, một căn dùng làm phòng trọ cho người làm, còn căn sát vách thì cho một hộ thương nhân phương Nam thuê lại, mỗi năm thu về tới năm mươi lượng tiền nhà.
Hồi trước thì không đắt đến mức ấy, trước kia một căn như vậy chỉ thuê tầm ba bốn mươi lượng là cùng. Bây giờ nhà đất bị thổi giá, tiền thuê nhà cũng vì thế mà tăng theo. Thang Hiển Linh đem nhà ký gửi cho bên môi giới cho thuê, cậu cũng dặn trước là cứ lấy giá cả phải chăng, vừa tầm là được rồi.
Nhờ vậy mà mỗi năm, tiền học phí của Thang Lạt Lạt ít nhất là đã có chỗ lo liệu dư dả.
Trong năm này, Điềm Điềm xuất giá, tửu lầu nhỏ tạm đóng cửa nghỉ ba ngày. Trước khi nghỉ, Thang lão bản còn chu đáo dán thông báo xin phép thực khách công khai, đồng thời giảm giá 10% cho tất cả các bàn, lại còn tặng kèm cho mỗi bàn một hộp kẹo mừng nữa.
Đống kẹo ấy đều do tự tay Thang lão bản làm gồm kẹo lạc, kẹo hạnh nhân và kẹo mạch nha hạnh nhân.
Các thực khách ai nấy đều hớn hở ra mặt, vừa được phát kẹo ngọt lại vừa được bớt tiền cơm, tất cả đều đồng loạt chắp tay lên tiếng chúc mừng.
"Chúc mừng, chúc mừng nhà họ Thang nhé!"
"Cô cháu gái lớn nhà Thang lão bản gả vào nhà ai thế nhỉ?"
"Là Thang Đại Nương đúng không?"
Thang Hiển Linh cùng Thiết Ngưu vui tươi hớn hở đồng thanh đáp lời cảm ơn: "Tạ ơn các vị, con rể là người Tố Tuyền, hiện giờ đang làm việc ở phủ nha thành Phụng Nguyên chúng ta......"
"Hóa ra là Chu sư gia, ta bảo sao vừa nghe tên đã thấy quen tai."
"Mối lương duyên tốt quá, Chu sư gia có tài, Thang đại nương tử có sắc, đúng là trai tài gái sắc."
"Nhà người ta đâu chỉ có sắc, Thang đại nương tử còn có tài tính toán sổ sách cực giỏi, gảy bàn tính tanh tách đấy."
"Dẫu sao thì cũng là nhân duyên tốt."
Chu sư gia làm việc ở phủ nha, tuy bảo không có chức sắc phẩm cấp, nhưng tổng không đến mức để nương tử nhà mình sau này phải đến nhà ai làm chân thu chi nữa. Tài tính toán của Thang đại nương tử từ nay về sau e là không cần dùng đến bên ngoài nữa rồi.
Trước khi tửu lầu tạm nghỉ ba ngày, quán đã thông báo trước cho thực khách biết lịch nghỉ tết. Tưởng Vân dạo này cũng bận rộn không kém, trước đó cả tháng, bà đã bắt đầu tóm lấy Lạt Lạt để nhờ thằng bé viết thiệp mời.
Bà ở phường An Nghiệp này không quen biết mấy người. Khu này nhà cửa rộng rãi, các gia chủ không giống như hồi ở phường Bát Hưng cứ rảnh rỗi là lại chạy sang chơi, đi lại thăm hỏi nhau. Đến tận bây giờ, nhà hàng xóm bên cạnh trông như thế nào Tưởng Vân còn chẳng rõ, ngược lại mấy người đầy tớ đi mua thức ăn thì bà lại quen mặt và hay nói chuyện phiếm cùng.
"Mời cả Hương Bình tới ăn tiệc nữa, bảo nó dắt theo cả trượng phu với mấy đứa nhỏ tới luôn."
"Còn có Xảo Liên, Trâu Lăng, rồi cả Tam Nương nữa." Tưởng Vân ngồi nhẩm tên từng người với Lạt Lạt.
Thang Ngộ Xuân vừa nghe thấy cái tên Lư Tam Nương thì lông mày liền nhíu chặt lại. Nhưng thấy sư nãi không mảy may để tâm, nàng chỉ có thể lén ra sau lưng cằn nhằn với Hóa Cát: "Còn gọi nàng ta tới làm cái gì không biết."
Hóa Cát vốn là cái đuôi nhỏ của sư tỷ, nên cậu nhóc hiểu rõ tính nết của nàng vô cùng.
Sư tỷ ngoài mặt thì lạnh lùng nhưng trong lòng rất ấm áp, ghét ác như kẻ thù, lại đặc biệt, đặc biệt để ý đến những người mà sư phụ quan tâm, cũng như rất trân trọng nhà họ Thang. Kỳ thực không riêng gì sư tỷ, chính cậu nhóc cũng như vậy.
Năm đó cậu nhóc được sư phụ nhặt về từ ngay trước cửa quỷ môn quan. Hóa Cát không có nhà, giữa thế đạo này chỉ có lẻ loi một mình, chính sư phụ đã cho cậu nhóc một mái ấm, truyền dạy tay nghề cho cậu nhóc. Sư tỷ và Lạt Lạt đối với Hóa Cát mà nói chẳng khác nào chị ruột và em trai ruột thịt.
"Sư nãi tuổi tác đã cao rồi, giờ lại đúng vào ngày vui trọng đại của đại tỷ Điềm Điềm. Người già đến nơi này không có người quen thuộc để trò chuyện, đi lại, lúc buồn chán kiểu gì người cũng sẽ nhớ về những người quen cũ ngày trước thôi. Dù cho dạo này không chung một chí hướng, nhưng đã lâu không gặp, hẳn là người cũng thấy có thể ngồi chung một mâm ăn bữa cơm được." Thang Hóa Cát bảo.
Thang Ngộ Xuân hừ hừ hai tiếng: "Ngươi bây giờ nói năng nghe giọng điệu giống hệt sư phụ đấy." Nàng đưa tay vỗ vỗ lên đầu nhỏ của sư đệ: "Coi như ngươi nói có lý, qua cửa nhé. Thôi, ngày đại hỷ ta cũng chẳng thèm sưng mặt sưng mày với ai làm gì."
"Sư tỷ, tỷ vỗ trán ta thế này cũng đặc biệt giống sư phụ luôn."
Câu này làm Thang Ngộ Xuân sướng rơn, nở mũi nở lòng.
Kỳ thực nàng cũng hiểu, sư phụ là người có tấm lòng rộng lượng, bao dung cực kỳ. Năm đó lúc nhận Lư Tam Nương vào tiệm cơm, sợ là người cũng đã lường trước được sẽ có ngày hôm nay. Tay nghề người ta đã học được vào thân, lại là cái nghề có thể giúp nuôi thân kiếm tiền, người ta đã muốn ra riêng làm ăn thì có lén lút hay quang minh chính đại gì thì họ cũng sẽ làm thôi.
Dẫu sao thì năm đó Lư Tam Nương cũng còn biết mở lời hỏi xin đàng hoàng, lại còn gửi tiền học nghề cho sư phụ nữa.
Nói rồi nàng lại nghĩ đến phận nữ nhi đi lấy chồng, thực sự chẳng khác nào một canh bạc, đã bước chân về nhà chồng là coi như cả đời gắn chặt với người ta, thành người một nhà. Thang Ngộ Xuân cảm thán xong xuôi liền chém đinh chặt sắt bảo: "Ta đây mới thèm lấy chồng, mà sau này có tính đến chuyện thành gia lập thất thì ta cũng phải rước một vị tiểu nam lang về ở rể, để cùng ta hiếu thuận, phụng dưỡng sư phụ với sư công cả đời."
Thang Hóa Cát phụ họa: "Sư tỷ thật có bản lĩnh, ta tin tỷ làm được."
Thang Ngộ Xuân vỗ vỗ ngực tự đắc, dĩ nhiên rồi, nàng lại quay sang bảo: "Ngươi đừng có lo cho ta, sau này nếu ngươi mà muốn lấy chồng, bọn ta sẽ chọn cho ngươi một người thật tốt."
"...... Sư tỷ, ta còn chưa nghĩ đến chuyện này đâu, ta chỉ thích cuộc sống êm đềm như bây giờ thôi." Thang Hóa Cát gãi đầu nói.
Đúng thế chứ lỵ, nàng cũng thích cuộc sống hiện tại vô cùng, ở nhà ăn sung mặc sướng biết bao nhiêu.
Chu Tân làm sư gia nên tích cóp được của cải cũng khá phong phú. Bữa tiệc cưới lần này hắn mời đích thân Đại Viên đứng bếp xử lý, mỗi mâm cỗ có giá tận hai lượng bạc, chơi lớn bày hẳn mười mâm.
Trước hôm cưới hai ngày, Trương thúc cùng Vương thẩm dắt theo Hải Ngưu đến chơi, trên tay còn mang theo quà mừng là một tấm da hươu rất đẹp. Trương Hoài cười ha hả bảo: "Ta già cả rồi nên cái này không phải ta săn đâu nhé, là thằng Hải Ngưu nhà ta vào rừng săn được đấy."
Thang Hiển Linh ngạc nhiên: "Trời đất, Hải Ngưu vào rừng săn được từ lúc nào thế?"
Thì ra là từ đợt mùa thu năm ngoái.
Đến ngày vui, cả đại tỷ lẫn tam tỷ thảy đều dắt díu các con tới đông đủ.
Vào chính ngày tân hôn, Viên đại nhân đích thân tới làm chủ hôn để điều hành các nghi thức, đón Điềm Điềm về Chu gia. Vì Chu Tân tính chuyện cưới vợ, trước kia hắn vốn đi thuê nhà, nên từ năm ngoái hai người đã bàn bạc ổn thỏa rồi xuống tiền mua đứt một căn nhà đàng hoàng.
Cũng may là họ mua từ năm ngoái, chứ nếu để dây dưa sang năm nay mới mua thì giá cả ít nhất phải đắt hơn tới năm trăm lượng bạc.
Tống Kiệt nghe chuyện xong còn trêu chọc: "Cưới được vợ tốt có khác, Thang đại nương tử đúng là có số vượng phu, mang lại may mắn cho ngươi rồi."
Chu Tân lại bảo: "Ta chẳng mong cầu vượng hay không vượng, chỉ cần cái số của ta không đem lại vận rủi làm khổ nàng là ta đã tạ ơn trời đất lắm rồi."
Tống Kiệt gạt đi: "Lại thế rồi, ngày đại hỷ đến nơi, đừng có nói mấy lời gở như vậy chứ."
Càng cận kề giờ lành, Chu Tân càng bồn chồn, lo lắng khôn nguôi, nhưng trộm vía mọi việc đều diễn ra vô cùng thuận lợi, suôn sẻ cho đến lúc bái đường thành công. Hắn cùng Điềm Điềm vào phòng tân hôn nghỉ ngơi một lát, ngoài sân đã bắt đầu ngào ngạt hương thơm của thức ăn, hai vợ chồng bèn dắt nhau ra ngoài tiếp đón họ hàng, bạn bè thân thích dùng bữa.
Tưởng Vân là người vui mừng nhất, ngày thường bà vốn chẳng mấy khi đụng đến rượu, vậy mà hôm nay cũng hào hứng uống liền mấy chén. Bà đon đả mời mọc đám khách quen cũ ở phường Bát Hưng ăn uống cho thật ngon miệng. Đối mặt với những lời khen ngợi, chúc tụng của Trần Xảo Liên và Chu Hương Bình, Tưởng Vân không giấu nổi nụ cười hạnh phúc rạng rỡ trên môi, bà bảo: "Chứ còn gì nữa, Điềm Điềm nhà ta tìm được một tấm chồng như Chu Tân, ta thật sự mừng rơi nước mắt."
"Con bé có cuộc sống tốt đẹp, êm ấm là ta cũng nhẹ cả lòng."
"Mấy năm nay, Nhị Nương nhà ta phải chạy ngược chạy xuôi vất vả trăm bề không dễ dàng gì. Điềm Điềm là đứa ngoan ngoãn, hiểu chuyện nhất, nó biết mẹ nó nhọc nhằn nên đã đỡ đần cho gia đình rất nhiều việc. Con bé là một tay ta nhìn từ nhỏ đến lớn, giờ thấy nó yên bề gia thất thế này, ta cũng an tâm rồi."
"Cái thân già này giờ dẫu có nhắm mắt xuôi tay..."
Chu Hương Bình vội vàng nắm chặt lấy tay Tưởng thẩm: "Ngày vui đại hỷ, thẩm nói mấy lời gở ấy làm gì, đúng là mừng quá hóa lú rồi."
Tưởng Vân uống có chút quá chén, xác thực là mừng quá hóa lú thật, bà sực tỉnh lại liền vội vàng phân trần: "Đúng đúng đúng, mừng đến lú lẫn cả đi. Vẫn là Hương Bình hiểu ta nhất, ngày vui không nhắc chuyện không may mắn trước kia nữa, qua đi tất thảy đều qua đi rồi."
"Chứ còn gì nữa thẩm, bây giờ thẩm toàn gặp ngày lành tháng tốt. Nhị Nương thì làm ăn khấm khá thuận lợi, phụ nữ phu lang khắp phường Bát Hưng với phường Đinh Nhất ai nấy đều kính nể. Thang lão bản thì mua bán lớn, đón thẩm về ở hẳn nhà cao cửa rộng. Rồi con bé Đại Nương lại hiếu thảo, dăm bữa nửa tháng lại vào thành thăm thẩm. Đến cả Tam Nương nữa, con bé trông vẫn cứ như thiếu nữ chưa chồng ấy, đúng là cuộc sống thuận buồm xuôi gió nên người mới trẻ đẹp ra như vậy." Chu Hương Bình hết lời khen ngợi.
Tưởng Vân ngẫm lại thấy Hương Bình nói câu nào cũng chí lý, hiện tại bà còn việc gì phải nhọc lòng nữa đâu.
Toàn là chuyện tốt lành cả.
Mọi người cứ thế ăn uống vui vẻ, ai nấy đều rạng rỡ tiếng cười.
Tửu lầu nhỏ cho nghỉ hẳn ba ngày. Tính cả thời gian tham gia hôn lễ của Điềm Điềm với một ngày chuẩn bị trước đó, tính đi tính lại thì thời gian thực sự được thảnh thơi chỉ có đúng một ngày. Sáng ngày ra, Thang lão bản nằm ườn trên giường tre mãi không chịu dậy, cậu trở mình một cái rồi cảm thán: "Thành thân xem ra cũng tốt thật đấy."
Chẳng phải là thành thân tốt, Thiết Ngưu nhìn một cái là rõ ngay, phu lang nhà hắn đơn giản là thích được nghỉ ngơi mà thôi.
Hắn tiến lại gần bóp bả vai cho Hiển Linh.
"Hay là hoãn thêm mấy ngày nữa rồi hãy mở cửa quán?"
Thang Hiển Linh lắc đầu nguầy nguậy không chịu: "Vẫn là nên có chút tinh thần cầu tiến."
"Ngươi như thế này đã là có chí tiến thủ lắm rồi."
Thang Hiển Linh vắt chéo chân, nhìn Thiết Ngưu nói mấy lời trái với lương tâm như vậy thì không khỏi híp mí cười cong cả mắt: "Ngẫm mà xem, đến mấy sạp đồ ăn vặt ngoài kia còn chưa từng được nghỉ hai ngày cuối tuần bao giờ, nhịp sống nhà mình tính ra đã thong thả, ung dung lắm rồi."
Thiết Ngưu còn định tiếp lời thì Thang Hiển Linh đột nhiên hỏi: "Hai đứa mình thành thân với nhau tính ra cũng được mười năm rồi nhỉ?"
"Năm nay là năm thứ mười hai rồi." Thiết Ngưu đáp.
Thang Hiển Linh: "......" Cậu quay sang nhìn kỹ Thiết Ngưu một lượt: "Sao ta cứ có cảm giác hai đứa mình vẫn ngọt ngào y như hồi mới cưới thế nhỉ."
"Vì ngươi chẳng thay đổi chút nào cả."
Thiết Ngưu nghe xong thì trong lòng sướng rơn: "Ngươi cũng có thay đổi tí nào đâu."
Tình cảm hai người vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu, thật sự rất tốt.
Hôm nay hai người cứ dính lấy nhau nũng nịu, chẳng buồn nấu cơm nấu nước gì cả, cứ thế lười biếng thả lỏng cả một ngày tròn, đúng nghĩa là một ngày xả hơi hoàn toàn.
Khi tiết trời dịu mát hơn chút ít, Thang Hiển Linh lại nghe cánh thực khách khấp khởi bàn tán chuyện triều đình sắp sửa đào sông. Nha môn đang tuyển người, tuy không trả tiền công nhưng bù lại được bao ăn, người làm nông thì được miễn thuế ruộng đất, còn bách tính trong thành thì được miễn thuế đầu người.
Tính ra thì triều đình cũng có chút chính sách bồi thường thỏa đáng.
Thực khách trong quán vừa ăn vừa tán dóc, có người bảo được miễn chút thuế như vậy cũng bõ công, có người lại xua tay bảo có cho tiền cũng chẳng dám đi, cái việc đào lòng sông lúc băng vừa tan ấy tốn sức vô cùng, có khi mệt đến đứt hơi mất mạng như chơi......
"Thế là khác xưa rồi, thời này đi phu còn được miễn thuế chứ không phải bị bắt ép c**ng b*c, điều này chứng tỏ quan lão gia vẫn còn coi bách tính chúng ta là con người."
"Ai muốn đi thì đi chứ ta đây chịu, nhà ta chẳng thiếu mấy đồng tiền lẻ ấy."
Những người có tiền vào tiệm ăn nhà họ Thang dùng bữa thì dĩ nhiên không thiếu chút tiền đó, nhưng đối với những bách tính nghèo khổ thì họ thực sự vô cùng động tâm. Trong nhà chỉ cần ra một suất tráng đinh là năm sau được miễn hẳn thuế lương của năm mẫu ruộng, đây rõ ràng là món hời lớn từ trên trời rơi xuống.
Đến cả thuế đầu người trong thành cũng vậy, không phải miễn cho một người lẻ loi, mà là miễn trọn gói thuế đầu người cho cả một hộ bốn khẩu.
Mọi người mồm năm miệng mười bàn luận về chính sách tuyển phu, nói một hồi lâu, Thang lão bản đang nép sau quầy cắn hạt dưa hóng chuyện thực sự không nhịn nổi nữa, bèn rướn người hỏi xen vào: "Mà sao tự dưng lại phải đào sông thế? Định đào đoạn nào vậy ạ?"
"???"
"!!!"
"Ối chu choa Thang lão bản ơi, ngài thật khéo làm ta giật bắn cả mình."
"Vừa lơ đễnh một cái không biết ngài từ xó nào chui ra nữa."
Thang Hiển Linh chỉ biết mỉm cười trừ.
Cậu thèm vào mà nói là mình đã đứng đây hóng hớt từ lâu lắm rồi, chẳng qua là Thiết Ngưu vừa mật báo cho cậu biết hôm nay lại có tin sốt dẻo mới về chuyện dời đô, nên cậu mới lật đật chạy ra nghe xem rốt cuộc là có chuyện gì.
"Ủa mà đào con sông nào vậy?"
"Quanh thành Phụng Nguyên chúng ta làm gì có con sông nào."
"Gần nhất thì chỉ có sông ở phủ Đình Giang..."
"Đúng là phủ Đình Giang nằm sát sông Lục Thủy, trước kia nước sông vốn chảy về hướng khác, nhưng hiện tại chính lệnh ban xuống nói sẽ đào một nhánh dẫn nước đổ về gần chỗ thành Phụng Nguyên chúng ta. Như vậy đi lại bằng đường thủy sẽ rất thuận tiện."
Thang Hiển Linh nghe xong thầm nghĩ: "Tuy nói việc đào sông rẽ nhánh rất hao tài tốn của, nhưng một khi đã đào thông, việc giao thương đi lại giữa hai miền Nam Bắc sẽ càng thêm thuận tiện. Mà cái mấu chốt nhất là, từ nay về sau cậu muốn ăn thủy hải sản cũng dễ dàng hơn nhiều."
Ngoài việc đào sông dẫn nước, triều đình còn cho tu sửa đường sá, xây dựng mở rộng thêm nhiều bề.
Cả năm Thái Bình thứ hai này, kể từ sau khi thánh chỉ được ban xuống, thành Phụng Nguyên dường như đã sống lại, nói sống lại thì cũng không hẳn, vốn dĩ trước kia tòa thành này đã tràn trề sinh khí, sức sống rồi, nên hiện tại chỉ có thể dùng từ náo và vội để miêu tả mà thôi.
Mãi sau này khi đại tỷ vào thành, Thang Hiển Linh mới biết chuyện Lâm Đại Lang đã chạy đi làm phu đào sông. Cậu từng nghe thực khách xì xào rằng việc đào sông vô cùng gian khổ, dễ làm mất mạng người nên trong lòng cũng có chút kinh hồn bạt vía, nhưng lại chẳng dám nói nhiều vì sợ làm đại tỷ thêm lo.
"Trong nhà cũng đâu đến nỗi nghèo túng, cớ sao lại để Đại Lang đi đào sông cực khổ thế?"
Thang Xảo bảo: "Nó lập gia đình rồi nên tự có chủ kiến riêng, vợ nó lại đang mang bầu, sắp sinh đứa thứ hai đến nơi rồi. Nó muốn đứng ra gánh vác việc nhà, nghĩ bụng cứ nhàn rỗi ở nhà thì thà đi đào sông ba tháng, ít nhất sang năm cũng gánh được khoản thuế lương cho năm mẫu ruộng."
"Chỗ đó có xa không?" Thang Hiển Linh thấy đại tỷ tiều tụy, lo âu, nếp nhăn giữa trán hằn sâu thêm, tóc mai cũng điểm bạc mà không khỏi xót xa.
Thang Xảo đáp: "Đi về hướng Tây Nam, mất hơn nửa ngày đường."
"Vậy để ta bảo Thiết Ngưu năng qua đó thăm nom, mang cho đứa nhỏ chút đồ ăn bồi bổ." Thang Hiển Linh nhẹ giọng trấn an đại tỷ.
Thang Xảo nghe vậy liền cự tuyệt: "Ta định cùng đại tỷ phu của ngươi qua bên đó làm đồ ăn đem bán. Nghe người ta bảo trên đó tuy được bao ăn nhưng toàn là rau cải trắng với bánh ngô, chẳng có tí mỡ màng thịt thà nào. Ta tính mua ở chỗ ngươi ít cốt lẩu, dạo này trời lại đang trở lạnh, có chút đồ mặn nóng hổi ăn cùng cơm mới nuốt trôi được."
Chuyện này đương nhiên là không thành vấn đề.
Đại tỷ cũng vì thương con mà liều mạng. Trước kia tỷ ấy vốn chẳng thiết tha chuyện buôn bán, nhưng hiện tại thấy Đại Lang vì mưu sinh mà phải làm lụng cực nhọc như vậy, đại tỷ xót xa không đành lòng.
Mua bán trong nhà, Thang Hiển Linh chỉ lấy đại tỷ đúng giá gốc tiền cốt lẩu. Nhưng đại tỷ không chịu cái giá thấp như vậy, nhất quyết trả dư thêm năm mươi văn, ý tứ là muốn để cho cậu kiếm chút tiền lời.
Thang Hiển Linh bèn giận dỗi bảo: "Đại tỷ làm thế này là đang bêu rếu ta đấy, quay đầu lại mẹ biết được kiểu gì cũng đánh ta một trận cho xem."
Thang Xảo nghe vậy liền bật cười, rồi sau đó cũng không nhắc tới chuyện trả thêm năm mươi văn kia nữa.
Tỷ ấy cùng trượng phu dựng một sạp hàng ngay ven bờ sông chuyên bán đồ hầm. Mỗi ngày nấu bán hai nồi to bự chảng, nhờ có vị cay nồng quyện chút dầu đỏ thơm phức của cốt lẩu nhà cậu, giá cả lại bình dân không hề đắt đỏ nên buôn bán vô cùng đắt hàng. Không riêng gì đám phu sông ăn, mà đến mấy vị quản sự cũng mò tới mua.
Nơi đó cách xa thành thị, bốn bề hoang vu chẳng có bóng dân cư, hiếm hoi lắm mới có một sạp bán thức ăn, đồ ăn lại đậm đà mỡ màng. Bọn họ đem chỗ bánh ngô được phát bẻ vụn rồi thả vào bát đồ hầm nóng hổi, ăn no nê xong thì ai nấy đều có sức mà tiếp tục cày cuốc.
. . . . . . . . . . . .
Mùa đầu hạ năm Thái Bình thứ ba.
Thành Phụng Nguyên ngày càng có nhiều người phương Nam đổ về.
Mấy tòa tửu lầu lớn ở chợ Đông và chợ Tây thi nhau tung ra đủ loại chiêu trò để hút khách, thực đơn thanh đạm xuất hiện nhiều hơn, các món thủy sản cũng tăng lên đáng kể, thậm chí có nơi còn vung tiền tấn để mời bằng được các đầu bếp danh tiếng từ Lục kinh về đứng bếp, nhờ vậy mà danh tiếng lẫn việc làm ăn bỗng chốc phất lên như diều gặp gió.
Chủ yếu là cánh thương nhân phương Nam ra sức khen ngợi không tiếc lời:
"Hồi trước ai cứ bảo thành Phụng Nguyên có cái tửu lầu nhỏ ăn ngon lắm, ta có tới ăn thử rồi, nhà đấy toàn món cay rát, ta nuốt không trôi. Trông đi trông lại, luận về đẳng cấp và bề thế thì vẫn phải là Ngọc Mãn Kim Lâu."
"Bên bển còn mời được cả đầu bếp Lục kinh về nấu, đúng là chuẩn hương vị quê nhà."
"Ngon tuyệt cú mèo."
"Dẫu sao thì đây mới là kiểu tửu lầu chính tông, đứng đắn."
"Chứ cái tửu lầu nhỏ kia toàn bán mấy món nướng BBQ, khách khứa cứ ngồi tuốt ra ngoài vỉa hè mà ăn, trông chẳng nhã nhặn, lịch sự tí nào."
"Món ăn thì cay xè, suốt ngày chỉ toàn ăn thịt với thịt, ăn xong nhìn người ngợm cứ sưng phù, béo múp cả lên."
Thang Ngộ Xuân những ngày ấy tức đến nổ đom đóm mắt, nóng ruột nổ đốm lửa, nàng đứng giữa sân mắng oang oang: "Ta đây còn chẳng nuốt nổi cái vị tương ngọt lợ của các người đây này! Bản thân ăn không được ớt mà dám mở mồm chê đồ cay không ngon à, mặt mũi đâu mà lớn thế không biết. Ta thấy chính cái bản mặt của các người mới sưng phù, béo múp ấy!"
Con bé vốn đang ở cái tuổi dậy thì dở dở ương ương, từ trước đến nay chưa từng ngang bướng nghịch ngợm bao giờ, vậy mà lần này vì ấm ức quá hóa ra phát hỏa, làm cho khuôn mặt nổi đầy những mụn là mụn.
Thang Hiển Linh nhìn thấy cảnh đó cũng đến cạn lời, chẳng biết phải giáo huấn đứa đại đồ đệ này thế nào cho phải.
"Hóa Cát, ngươi trông chừng tỷ tỷ ngươi uống hết bát nước hoàng liên này cho ta."
"Trưa nay cấm không được cho Ngộ Xuân đụng vào một miếng thịt nào hết, cứ mướp đắng xào trứng với cháo đậu xanh mà ăn, đói bụng thì cho ăn màn thầu bột kiều mạch."
Thang đại sư phụ nghiêm nghị cảnh cáo cả nhà, tuyệt đối không ai được lén lút tiếp tế đồ ăn cho Ngộ Xuân.
Cả nhà đều gật đầu lia lịa: "Vâng vâng vâng, rõ rồi ạ, thảy đều nghe theo lời ngươi."
Bữa trưa hôm ấy, Thang Ngộ Xuân phải ngậm ngùi xơi trọn suất ăn giải nhiệt hạ hỏa. Đến buổi chiều, Thang Lạt Lạt cắp chiếc cặp sách nhỏ đi học về, thằng bé liền lén lén lút lút mò sang phòng của Ngộ Xuân tỷ trước tiên, rồi từ trong cặp sách lôi ra một chiếc bánh bao hấp nhân thịt còn ấm nóng.
"Đồ chiên rán dễ bị tích nhiệt trong người lắm, cái này là đồ hấp nha, ta còn đặc biệt chọn loại nhân bánh toàn thịt nạc thôi đấy." Thang Lạt Lạt nghiêm túc cụp mi bảo.
Thang Ngộ Xuân: ...... Nuốt làm sao trôi nổi đây trời.
Nhưng nhìn cái điệu bộ mắt tròn xoe mong ngóng của Thang Lạt Lạt nhìn mình, nàng đành chịu thua.
"Thôi được rồi, cảm ơn đệ nhé, ta ăn là được chứ gì." Thang Ngộ Xuân uể oải gặm bánh, hương vị cái bánh này tính ra còn chẳng bằng một góc đồ do sư công tự tay làm, nhưng dẫu sao đây cũng là tấm lòng của Lạt Lạt, ăn vào vẫn thấy ấm lòng.
Lát sau, Hóa Cát lại bưng một bát sữa tươi đậu xanh đi vào, nhỏ giọng thì thầm: "Sư nãi dặn cho cả tổ yến vào hầm cùng đấy, sư nãi bảo tỷ cứ lặng lẽ uống hết đi, đừng để sư phụ bắt gặp."
Chẳng là dạo trước, Điềm Điềm vừa khám ra là đã mang thai.
Tưởng Vân vốn chẳng phải kiểu người quen ăn dùng mấy thứ xa xỉ như tổ yến, nhưng vừa nghe tin cô cháu gái lớn có tin vui, lại thêm việc bà ở khu này lâu ngày, hay nghe mấy người đầy tớ quanh vùng rỉ tai nhau rằng phụ nữ có thai mà được tẩm bổ tổ yến thì tốt cho cả mẹ lẫn con, thế là Tưởng Vân liền tự móc tiền riêng ra mua một ít tích sẵn.
Số tổ yến ấy còn chưa kịp gửi qua cho Thang Điềm Điềm, thì đã gặp ngay vụ con bé Ngộ Xuân vì nóng ruột đổ lửa mà nổi mụn khắp mặt. Tình hình thực sự trông khá nghiêm trọng, làn da của Ngộ Xuân vốn thuộc tông màu khỏe khoắn, không quá đen cũng không quá trắng, vậy mà hiện tại từ cằm cho đến hai bên má đều đỏ ửng, nổi mụn bọc chi chít.
Thang Hiển Linh còn phải đích thân dắt Ngộ Xuân qua tiệm thuốc ở chợ Tây để thăm khám...
Vị đại phu ở đó kê cho chút thuốc mỡ mát lạnh để bôi ngoài da, cốt là để Ngộ Xuân bớt cảm giác ngứa ngáy rồi ngứa tay gãi bậy, còn lại thì dặn cứ cho con bé dùng các món ăn thức uống thanh nhiệt, hạ hỏa là được.
Suốt ba ngày liền phải ăn uống như vậy, mặt mũi Ngộ Xuân trông còn héo úa, đắng ngắt hơn cả quả mướp đắng.
Thang sư phụ làm sao mà không biết mấy trò mèo của Lạt Lạt với mẹ nhà mình cho được, chẳng qua là cậu mắt nhắm mắt mở cho qua mà thôi. Dẫu sao mấy món họ cho Ngộ Xuân ăn vụng cũng đều thuộc hàng thanh đạm cả. Cậu quay đầu lại liền cảm thán với Thiết Ngưu: "Cái tính nết của con bé Ngộ Xuân này ấy à, đúng là ngang ngạnh, bướng bỉnh y như nhà ngươi vậy."
"Lại còn hay tự chuốc lấy áp lực vào người nữa chứ."
"Mấy cái tửu lầu kia buôn bán đắt hàng thì cứ kệ mẹ người ta đi, quán nhà mình cũng đâu có thiếu khách, việc gì phải đi tranh cao thấp với họ làm gì không biết."
"Mà nói đi cũng phải nói lại, người trẻ tuổi có lòng háo thắng, muốn tranh quyền đoạt lợi thì cũng tốt, dẫu sao ai chẳng có cái ngạo khí của riêng mình. Con bé cũng chẳng phải hạng người thích chơi trò ném đá giấu tay hay dùng thủ đoạn bẩn thỉu sau lưng ai, ngặt nỗi nó tự làm mình tức đến phát hỏa, nổi mụn đầy mặt thế này thì thật là......"
Thang sư phụ vừa ra sức che chở, bênh vực đồ đệ, lại vừa chỉ biết lắc đầu bó tay bất lực.
Quán nhà cậu có phải là đồng tiền đâu mà đòi ai ai cũng yêu mến cho được. Nói đi cũng phải nói lại, dạo gần đây cứ dăm ba bữa lại có mấy kẻ mặt lạ hoắc mò tới quán nhảy nhót, cố tình oang oang mấy lời chê bai như vậy, Thang lão bản thừa sức hoài nghi đây là trò bẩn của mấy tòa tửu lầu kia, bỏ tiền thuê thủy quân tới để chọc gậy bánh xe.
Bởi vì sau khi mấy vị khách mặt lạ hoắc kia nói kháy xong xuôi, quả thực cũng có không ít thực khách tò mò muốn biết cái gã đầu bếp Lục kinh kia nấu món ăn địa đạo ra cái vị gì. Phàm là thứ mình chưa từng được ăn thì ai chẳng muốn nếm thử một lần, đó là tâm lý thường tình của con người, hết sức bình thường.
Người ta có làm ăn phát đạt, đông khách nườm nượp thì cứ mặc xác người ta đi, đằng này đứa đại đồ đệ nhà cậu lại tự rước cục tức vào người đến mức phát hỏa.
Thiết Ngưu nghe Hiển Linh lầm bầm, lúc ban đầu thấy cậu còn đùng đùng nổi giận giùm đồ đệ, thế mà nói một hồi lại tự mình đả thông tư tưởng, tự khuyên nhủ bản thân xuôi tai xuôi chèo. Hắn bèn bảo: "Ta thấy sắc mặt của Ngộ Xuân vẫn chưa đỡ hơn là bao, hay là ngày mai lại dắt con bé đi gặp đại phu bốc thêm vài thang thuốc nữa xem sao?"
"Chẳng cần đâu." Thang sư phụ đối với việc nắm bắt tâm lý đồ đệ nhà mình thì vẫn luôn chuẩn lộc chuẩn phát, "Nàng ta là bị tâm bệnh đấy thôi."
Thế là đến ngày nghỉ cuối tuần, Thang lão bản không thèm dắt đại đồ đệ đi khám xét gì nữa, cậu í ới gọi cả hai đứa đồ đệ đi theo mình ra thẳng chợ Tây xách một đống hải sản về, rồi một đầu chui tọt vào trong bếp lớn......
Đến tuần kế tiếp, tửu lầu nhỏ liền tung ra một món át chủ bài mới.
Món Hải sản Phật Nhảy Tường, phiên bản giản lược do chính tay Thang Hiển Linh tự chế, đi kèm thêm một món mì lươn xé sợi sốt mỡ hành thơm nức mũi.
Chưa hết, cậu còn đẩy ra thêm một loạt đồ ngọt hệ matcha: nào là sữa tươi matcha, rồi cả bánh ngọt matcha nữa.
Mấy món này vừa trình làng một cái, đống mụn trên mặt Thang Ngộ Xuân tự khắc lặn sạch sành sanh, đúng nghĩa là "thuốc đến bệnh trừ".
Nàng thầm nghĩ sư phụ nhà mình quả thực là bậc thần y tái thế rồi!!!