Trên thuyền, bầu không khí dường như nhẹ nhõm hơn hẳn sau những lùm xùm ở nhà bếp.
Quan Hải và Tô Trí Hiên phân công nhau rất nhịp nhàng, một người chiếm chỗ ngồi, người kia xông xáo vào bếp bưng đồ ăn giúp.
"Hoàng Phủ đệ, cứ để ta làm cho." Tô Trí Hiên đưa tay ra đón lấy khay thức ăn.
Hoàng Phủ Thiết Ngưu cũng không khách sáo, đưa khay đồ ăn cho hắn rồi tự mình bưng phần của mình và phu lang.
Tô Trí Hiên cúi đầu nhìn lướt qua khay đồ. Dù chỉ là những món thanh đạm, đơn giản nhưng mùi thơm nức mũi tỏa ra khiến hòn đá trong lòng hắn hoàn toàn rơi xuống. Chờ khi đồ ăn đã được bày biện lên bàn, hắn mới cảm thán: "Thật không ngờ Hoàng Phủ đệ lại biết nấu nướng, tay nghề còn tốt thế này nữa."
"Quá khen rồi, ăn được là tốt rồi." Hoàng Phủ Thiết Ngưu điềm đạm đáp, tay thoăn thoắt chia thức ăn cho phu lang.
Nguyên liệu trên thuyền vốn dĩ rất hạn chế, trời lại nóng nên rau củ đều khô héo, quắt queo, còn thịt thì toàn là đồ khô hoặc thịt muối mặn chát. Hắn biết Hiển Linh vốn sợ mùi tanh nồng của loại thịt muối này nên lúc chế biến đã đặc biệt dụng tâm xử lý.
Thang Hiển Linh rót cho Thiết Ngưu một chén trà lạnh, lại đưa khăn tay qua: "Ngươi lau mồ hôi đi."
"Hì hì, được." Hoàng Phủ Thiết Ngưu lộ rõ vẻ vui mừng, nhận lấy khăn lau mồ hôi rồi đưa đũa cho phu lang: "Hôm nay ta đích thân xuống bếp, ngươi ăn nhiều một chút."
"Thế thì ta nhất định phải ăn sạch sành sanh rồi!" Thang Hiển Linh cực kỳ hưởng ứng, giọng điệu đầy vẻ cổ vũ.
Quan Hải và Tô Trí Hiên thấy cảnh phu phu ân ái thì tế nhị dời tầm mắt, không nhìn thêm nữa mà dứt khoát cúi đầu tập trung vào bát cơm của mình. Vừa nếm thử miếng đầu tiên, cả hai đều không kìm được mà kinh hô: "Ngon quá!", "Thật sự rất ngon, không ngờ tay nghề của Hoàng Phủ huynh đệ lại xuất sắc đến vậy."
Hai người bọn họ vốn là người đọc sách, tuy không đến mức không phân biệt nổi ngũ cốc nhưng bảo nhóm lửa nấu cơm thì chịu chết. Hoàng Phủ Thần dùng đúng những nguyên liệu như gã đầu bếp hôm qua, vậy mà hương vị lại thanh tao, đậm đà hơn gấp bội.
"Nhà ta vốn mở tiệm ăn, nên ta cũng học lỏm được đôi chút." Thiết Ngưu giải thích ngắn gọn.
"Hèn chi!"
"Vậy là hai anh em ta đi đường gặp được quý nhân rồi, thật là có phúc." Quan Hải vừa ăn vừa nói. Vốn dĩ hắn vẫn luôn áy náy vì chuyện cãi cọ của mình mà làm ảnh hưởng đến chuyện ăn uống của cả nhóm, giờ lại tình cờ va phải cao thủ nấu nướng thế này, nỗi tự trách trong lòng cũng tan biến sạch.
Thang Hiển Linh vừa ăn vừa gật gù, tay nghề của Thiết Ngưu nhà cậu đúng là tiến bộ vượt bậc rồi.
"Ngon lắm!"
Ngày hôm đó, Thang Hiển Linh đã ăn sạch sành sanh bát cơm của mình. Hoàng Phủ Thiết Ngưu nhìn thấy vậy thì trong lòng vui mừng khôn xiết, hắn thở phào nhẹ nhõm, thầm nghĩ: "Đáng lẽ mình nên làm thế này sớm hơn, như vậy Hiển Linh đã không phải chịu đói suốt ba ngày vì kén ăn."
Cứ như thế trôi qua ba ngày, bữa nào cũng do một tay Hoàng Phủ Thiết Ngưu nấu nướng. Khi thì hắn làm bánh có nhân, lúc lại nấu một nồi mì sợi. Trên thuyền vốn chẳng có thịt thà rau dưa gì ngon, đúng kiểu có bột mới gột nên hồ, nên chỉ có thể nấu nướng đơn giản như vậy.
Đến trưa ngày hôm nay, thuyền cập bến. Quản sự thông báo thuyền cần tiếp tế thêm nhu yếu phẩm, sẽ dừng lại một đêm, đến chiều mai mới tiếp tục xuất phát.
Hầu hết hành khách trên thuyền đều lũ lượt xuống bờ. Người thì đi vào trấn nhỏ mua thêm đồ ăn, người thì muốn tìm một khách đ**m ở lại một đêm để tắm rửa cho thỏa thích, trên thuyền không gian chật hẹp, mọi người chỉ có thể lau người qua loa chứ chẳng cách nào tắm táp tử tế được.
Thang Hiển Linh và Hoàng Phủ Thiết Ngưu cũng bàn nhau lên bờ xem sao, chủ yếu là tìm một nơi để tắm một cái cho thật sảng khoái. Nghe hai người nói vậy, Quan Hải và Tô Trí Hiên cũng xin đi cùng.
Bốn người họ cùng chung mâm cơm suốt mấy ngày nay nên quan hệ cũng dần trở nên thân thiết. Lúc ăn cơm khó tránh khỏi chuyện trò dông dài, Thang Hiển Linh nhận thấy hai người này vừa có khí chất chính trực, lại vừa rất biết điều. Chẳng hạn như việc Thiết Ngưu nấu cơm, họ đều chủ động đề nghị trả thêm tiền công vất vả cho hắn.
Quan Hải năm nay 26 tuổi, còn Tô Trí Hiên đã 30, cả hai đều là người đã có gia đình, đang trên đường đến Lục Kinh để bái sư cầu học.
Nơi này vốn là trạm tiếp tế cho các đoàn thuyền xuôi ngược nam bắc nên trấn nhỏ này có quy mô khá lớn và rất phồn hoa. Bốn người đeo tay nải, trước tiên tìm một khách đ**m, gọi nước nóng tắm rửa, vệ sinh cá nhân sạch sẽ xong xuôi mới gọi một bàn thức ăn tươi ngon.
Thang Hiển Linh gọi thêm mấy món rau xào mùa vụ, những đĩa rau tươi xanh mơn mởn. Trước cửa khách đ**m có người gánh hoa quả đi bán dạo, Thiết Ngưu liền mua một ít lê tươi mang về.
"Ngày tháng trên thuyền đúng là khô héo thật, giờ ăn cái gì cũng thấy thơm ngon." Thang Hiển Linh nhận lấy quả lê đã rửa sạch, cắn một miếng "rắc rắc". Nước lê tuôn ra tràn trề, không quá ngọt đậm mà mang vị ngọt thanh lẫn chút chua dịu.
Cậu ăn rất ngon lành, cảm giác cả khoang miệng đều được tưới mát.
Quan Hải và Tô Trí Hiên cũng liên tục gật đầu, chạy ra mua lê. Trong lúc chờ đồ ăn dọn lên, bốn người cứ thế ngồi gặm lê "rắc rắc", không khỏi cảm thán: "Nếu bảo ta sống trên thuyền năm này qua tháng nọ, đúng là khổ không thấu."
"Chứ còn gì nữa." Tô Trí Hiên phụ họa một câu, rồi như sực nhớ ra điều gì: "Đội tàu của đại Vinh triều chúng ta ra khơi cũng được năm sáu năm rồi nhỉ?"
Quan Hải thì không nhớ rõ lắm.
Thang Hiển Linh vẫn nhớ, bèn nói: "Năm Văn Định thứ 25 đội tàu bắt đầu xuất phát, ta cũng chỉ nghe mấy chưởng quầy ở chợ Tây kể lại thôi, chẳng biết thực hư thế nào."
"Thế thì chắc là thật rồi." Quan Hải gật đầu, "Ta cũng có chút ấn tượng, tính ra thì năm nay là năm thứ 6."
"Năm thứ 6 rồi, chắc cũng sắp về đến nơi rồi nhỉ?"
"Lần đầu ra biển hình như cũng chỉ mất có bốn năm thôi."
"Thuyền nhỏ như chúng ta đây, gặp chút sóng to gió lớn hay dòng nước xiết là quản sự đã sốt sắng xình xịch lên rồi. Nghe nói biển khơi còn rộng lớn hơn sông lục địa gấp nhiều lần, hy vọng họ có thể thuận lợi trở về. Lần trước họ về mang theo bao nhiêu là hạt giống mới, giúp giải quyết bao nhiêu khó khăn cho dân sinh đấy thôi."
"Đúng vậy, đúng vậy."
Thang Hiển Linh nghe hai người bọn họ nói chuyện phiếm mà cũng có chút xuất thần. Đã ra khơi tận sáu năm rồi, cậu thầm tính toán, trong lịch sử Trịnh Hòa hạ Tây Dương bảy lần, thời gian mỗi chuyến dài ngắn khác nhau, nhưng đi biền biệt sáu năm thì quả thực là vừa xa vừa lâu.
Chẳng lẽ nơi này không phải trái đất sao? Có khi là một hành tinh khác cũng nên.
Thang Hiển Linh cứ thiên mã hành không mà nghĩ ngợi vẩn vơ, nhưng chủ yếu vẫn là vì cậu... thèm ớt. Dạo gần đây cậu thường xuyên tự vẽ ra trong đầu mấy món ăn có ớt để giải tỏa cơn thèm.
Thiết Ngưu thấy phu lang nhà mình thất thần, bộ dạng ngẩn ngơ trông rất đáng yêu. Hắn thầm nghĩ: "Hiển Linh chắc chắn lại đang mơ về cái ớt kia rồi."
Đồ ăn được dọn lên, mọi người cùng nhau dùng bữa.
Tô Trí Hiên và Quan Hải không ở lại khách đ**m, hai người họ muốn tiết kiệm tiền phòng nên tranh thủ lúc cửa thành chưa đóng đã vội vã quay lại thuyền. Thang Hiển Linh và Thiết Ngưu thì ở lại khách đ**m ngủ một đêm cho thoải mái.
Màn đêm buông xuống.
Thang Hiển Linh trằn trọc mãi không ngủ được, cậu chớp chớp mắt đầy vẻ cạn lời: "Ta quen với cái cảnh lảo đảo lắc lư trên thuyền mất rồi, giờ giường nằm im bất động, ta lại không ngủ được."
"Để ta ôm ngươi lay nhẹ nhé." Hoàng Phủ Thiết Ngưu vòng tay ôm lấy phu lang, nhẹ nhàng đung đưa cánh tay, thỉnh thoảng lại vỗ nhẹ lên lưng cậu như dỗ dành.
Kết quả là Thang Hiển Linh ngủ say như chết thật.
Thang lão bản: "..." Cạn lời thật sự. Khả năng thích ứng của con người đúng là đáng kinh ngạc.
Ngày thứ hai sau một giấc ngủ ngon lành, tiểu nhị mang quần áo đã giặt sạch đến. Thang Hiển Linh và Thiết Ngưu ăn sáng xong xuôi, đeo tay nải ra trấn chọn mua thêm nhu yếu phẩm như đậu thơm, bột đánh răng, và quan trọng nhất là trái cây, rau dưa tươi.
Tính ra chỉ còn bốn ngày đường thủy nữa là đến Lục Kinh, sau đó thuyền sẽ không cập bến tiếp tế thêm lần nào nữa.
Thang Hiển Linh mua thêm ít lê, Thiết Ngưu thì vác một quả bí đao hơi nhỏ, lại mua thêm hai con gà sống cùng ít hải sản khô và một túi gạo nhỏ, gạo trên thuyền toàn là gạo cũ, ăn rất chán.
"Ngày mai để ta xuống bếp cho." Thang Hiển Linh xoa tay đầy hăng hái.
Hoàng Phủ Thiết Ngưu thấy vậy thì vui lắm, Hiển Linh lấy lại tinh thần là tốt rồi, chỉ cần cậu chịu ăn thì bảo hắn làm gì cũng được.
"Được."
Khi quay lại thuyền, đêm đến, con thuyền lại bắt đầu lắc lư theo nhịp sóng. Thang Hiển Linh rúc vào lòng Thiết Ngưu, nghe tiếng nước sông rì rào vỗ vào mạn thuyền, cậu đặt lưng xuống là ngủ ngay lập tức. Hoàng Phủ Thiết Ngưu lắng nghe tiếng sóng nước ngoài cửa sổ, nhìn phu lang đang ngủ say trong lòng, cảm thấy lòng mình kiên định lạ thường, chẳng hề có chút cảm giác gần quê nhà lòng thêm lo sợ nào cả.
Đúng như những gì hắn đã nói, đối với Lục Kinh hay nhà họ Hoàng Phủ, Thiết Ngưu đều mang tâm thế của một người xa lạ, chẳng mảy may để tâm hay lo sợ.
Sáng sớm ngày thứ hai, mọi người lót dạ bằng cháo loãng ăn kèm bánh chiên. Quan Hải và Tô Trí Hiên đều là người biết điều, sao có thể để Hoàng Phủ huynh đệ phải phục vụ cả ba bữa mỗi ngày, nên bữa sáng họ thường tự giải quyết bằng số bánh mua ở trấn hôm qua.
Đến giờ ngọ, hai người lại ra đứng đợi ngoài bếp xem Hoàng Phủ huynh đệ có cần giúp gì không. Thiết Ngưu trước giờ chưa bao giờ để hai người vào phụ, vả lại trong bếp vẫn còn mấy gã đầu bếp của thuyền ở đó, nên hai người họ cứ đứng ngoài hiên mà ôn lại văn chương, người này khảo người kia.
Nhưng hôm nay khác ở chỗ, Thang phu lang cũng đích thân xuống bếp.
"Vất vả cho Thang phu lang quá."
"Có việc gì cần hai huynh đệ ta phụ giúp không?"
Thang Hiển Linh cười tủm tỉm từ chối tất cả.
Quan Hải và Tô Trí Hiên lại đứng ở một góc khuất gần đó để ôn bài. Bình thường hai người học rất tập trung, nhưng hôm nay đang đọc sách mà tâm trí cứ bay đi đâu mất.
"Mấy giờ rồi nhỉ?"
"Vẫn còn sớm mà."
Hai người nhìn nhau, thấy rõ sự thèm thuồng trong mắt đối phương, rồi đồng thanh thốt lên: "Thơm quá!"
Dứt lời lại bồi thêm một câu: "Mùi hương hôm nay lạ lắm."
"Đúng là không giống mọi khi, quá sức mời gọi."
Cả hai cùng ngóng cổ nhìn về phía nhà bếp.
Căn bếp trên thuyền khá rộng nhưng đồ đạc chất đống lộn xộn. Toàn bộ hành khách và thuyền viên cộng lại cũng hơn 60 người, hai gã đầu bếp mỗi ngày phải lo ngần ấy suất ăn nên nấu nướng rất cẩu thả, cốt sao cho no bụng là được. Đặc biệt là gã đầu bếp béo từng đe dọa họ, trông gã cực kỳ lôi thôi.
Lúc Thang Hiển Linh bước vào, gã béo kia vẫn liếc xéo cậu. Thiết Ngưu lập tức đứng chắn trước mặt phu lang, khiến gã chỉ biết hừ lạnh một tiếng rồi quay đi làm việc của mình.
Trời hè nóng nực, gã đầu bếp mặc chiếc áo cộc tay, vừa nhào bột vừa lấy tay quẹt mặt, mồ hôi cứ thế nhỏ tong tong xuống sàn bếp. Nhìn cảnh đó, Thang Hiển Linh cảm thấy mình quyết định tự nấu cơm là hoàn toàn sáng suốt.
Thang Hiển Linh thu hồi ánh mắt không dám nhìn nữa, cậu sợ mình sẽ buồn nôn mất, dù sao sau khi lên thuyền cậu cũng đã phải ăn cơm nhà bếp suốt hai ngày trời. Cậu bắt đầu nấu nướng, hôm nay vẫn làm mì, nhưng là món mì lạnh. Thiết Ngưu làm thịt gà, động tác nhanh nhẹn vặt lông sạch sẽ, còn có quả bí đao họ mới mua, ngày thường bí đao vốn chỉ để hầm hoặc xào, hôm nay cậu lại làm món bánh bí đao chiên.
Bí đao cắt thành từng lát thật dày, rắc muối để ép ra bớt nước, sau đó bọc một lớp bột, bột này cần phải nêm gia vị, rồi dùng chút dầu ít ỏi, từ từ chiên đến khi hai mặt vàng ruộm là được.
Phu phu hai người nấu ăn luôn rất ăn ý. Thang Hiển Linh nhào bột, Hoàng Phủ Thiết Ngưu thì xử lý xong con gà, lại bóc vỏ tỏi rồi giã nhuyễn. Hoàng Phủ Thiết Ngưu có sức khỏe nên đảm nhận việc cán bột, Thang Hiển Linh thì đi luộc gà.
Trên thuyền thiếu thốn hương liệu, chỉ có gừng và tỏi đơn giản nhất, Thang Hiển Linh định luộc thịt gà để lát nữa làm món mì lạnh gà xé, tiện thể mượn bàn tay vàng của mình để khử sạch mùi tanh của thịt. Một con gà cho bốn tráng hán ăn là vừa đủ.
Thang Hiển Linh duỗi cánh tay gầy gò chân tay khẳng khiu của mình ra, tự diễn vai tráng hán cho thêm phần rôm rả. Cậu vừa nấu vừa ngân nga hát, tâm tình rất tốt, đặc biệt là khi mùi hương tỏa ra ngày càng thơm, đó chính là mùi của bánh bí đao chiên.
Hai gã đầu bếp bên cạnh thấy hai người nấu cơm, nhất là gã đầu bếp béo từng có hiềm khích còn xì một tiếng: "Bí đao à." Ý khinh rẻ bí đao thì có gì ngon. Con gà kia trông cũng được đấy, nếu mang chiên ngập dầu thì mới thơm.
Chẳng mấy chốc, gã đầu bếp béo nhìn cậu phu lang mảnh khảnh luộc gà bằng nước trắng, ánh mắt lộ rõ vẻ khinh khỉnh xen lẫn đau lòng, hoàn toàn là kiểu: "Tên phu lang này chẳng biết nấu nướng gì cả, phí cả con gà. Luộc bằng nước lã thì không có vị gì, ăn chắc chắn sẽ chán ngắt. Một con gà ngon lành thế mà bị hủy hoại rồi!
Thế nhưng, khi mùi bánh bí đao chiên bay ra đầu tiên, hai gã đầu bếp liền nhìn sang. Gã đầu bếp không có xích mích với họ còn bắt chuyện với Thiết Ngưu vài câu: "Bình thường toàn thấy bí đao hầm hoặc xào, phu lang nhà ngươi làm kiểu này xem ra cũng lạ lẫm đấy."
Thiết Ngưu liền gắp một miếng đưa cho đối phương, dù sao vị đầu bếp này cũng không đắc tội với bọn họ.
Vị đầu bếp ngẩn người, không ngờ đối phương lại chia cho mình một miếng. Ông nghĩ một miếng bí đao cũng chẳng phải món gì quý hiếm nên không khách sáo mà nếm thử. Miếng bí đao mới chiên xong, lớp bột bên ngoài vàng ươm, ăn vào lớp vỏ thì giòn mà bên trong thì mềm tuy bí đao không giòn được như vỏ.
"Ơ kìa?" Đầu bếp cảm nhận kết cấu của bánh bí đao, vô cùng kinh ngạc: "Sao mà thanh mát thế."
Bên trong không hẳn là quá mềm hay quá nhừ, nhưng cảm giác đầu tiên là sự thanh mát. Rõ ràng là đồ chiên qua dầu nhưng lại rất thanh và tươi. Ông cẩn thận nhai kỹ, nhận ra vị tươi ngọt này từ đâu mà có, hình như trong lớp bột có cho tôm? Nhưng rõ ràng chẳng thấy con tôm nào. Thật là lạ, mà cũng thật là ngon.
"Bánh bí đao này ngươi cho thêm cái gì thế?"
Thang Hiển Linh nghe hỏi, liếc mắt nhìn vị đầu bếp không gây sự kia mới đáp: "Tép phơi khô rồi nghiền thành bột, đừng nghiền mịn quá, để hơi thô một chút thì ăn sẽ có cảm giác hạt lợn cợn."
"Hóa ra là vậy."
Tép vừa rẻ vừa có sẵn, dân chúng ở các thành trấn ven sông nhà nào cũng có thể mua được, bí đao thì lại càng không phải bàn, đều là những thứ rau củ rẻ mạt. Thế nhưng khi kết hợp hai thứ này lại, thêm chút bột mì, lại hóa thành một món ngon vô cùng sáng tạo.
Thiết Ngưu đã cán xong mì, Thang Hiển Linh cũng vớt thịt gà ra, dùng đũa tách thành từng miếng lớn để cho nguội bớt, lát nữa mới xé sợi. Lúc này cậu bắt đầu pha chế nước sốt...
Mì lạnh vốn là món ăn nguội, mùi hương không tỏa ra nồng nàn, mời gọi một cách mạnh bạo như những món nóng.
Quan Hải và Tô Trí Hiên lúc nãy ngửi thấy mùi thơm chính là từ bánh bí đao chiên. Hai người vốn đứng cách xa cửa bếp một chút, giờ cứ thế nhích lại mỗi lúc một gần. Vừa vặn cũng đến giờ cơm trưa, không ít hành khách kéo đến cửa bếp mua cơm, có người còn đang hỏi hôm nay ăn món gì thì câu nói bị đứt quãng giữa chừng, nối tiếp bằng một tiếng: "Thơm quá!".
Hai gã đầu bếp bên trong biết thừa: mùi thơm này chắc chắn không phát ra từ mấy món họ nấu.
Khi Thiết Ngưu gọi Tô Trí Hiên và Quan Hải vào ăn cơm, cửa bếp đã vây quanh không ít hành khách chờ mua cơm. Thiết Ngưu giao phần cơm cho hai người, mỗi người tự bưng về phòng ăn. Đó là một bát lớn mì lạnh gà xé, bên trên còn xếp một hàng bánh bí đao chiên vàng.
"Cảm ơn, cảm ơn nhiều."
"Hôm nay làm phiền Hoàng Phủ huynh đệ quá."
Thiết Ngưu liền nói: "Hôm nay là do Thang lão bản nhà ta ra tay đấy."
"Làm phiền quá." Hai người lại lần nữa lên tiếng cảm ơn.
Lúc này đang giữa trưa, bên ngoài nắng gắt, hai người liền vào trong phòng nhỏ để ăn. Căn phòng ấy ngoài chiếc giường ra thì chỉ có một cái bàn nhỏ hẹp, cũng không có ghế ngồi, hai người đành bưng bát ngồi bệt ở mép giường mà ăn.
"Hôm nay cơm ngon thật đấy."
"Mấy miếng vàng ươm bên trên này là gì nhỉ? Ngửi đúng là thơm nức."
Hai người cầm đũa gắp ngay một miếng đưa vào miệng, lập tức bị chinh phục hoàn toàn, quả thực là quá ngon. Cứ thế một miếng rồi lại một miếng, hai người ăn sạch sành sanh mấy miếng bánh bí đao xếp trên mặt bát, rồi mới nhìn xuống bên dưới, vội vàng trộn mì lên. Sợi mì không hề bị dính vào nhau, hẳn là nhờ đã được trụng qua nước lạnh.
Quan Hải không nhịn được ăn một miếng mì lớn: "Tô huynh mau ăn đi, ngon tuyệt!"
Tô Trí Hiên gắp một đũa mì đưa vào miệng, thế là đến một lời cũng chẳng buồn nói nữa, chỉ lo vùi đầu vào ăn lấy ăn để. Cả hai đều là người phương Bắc, bất kể là ở phủ huyện hay thị trấn, thứ gì có thể thiếu chứ quán mì thì luôn sẵn, không nói đến hàng quán bên ngoài, ngay cả người trong nhà ai cũng biết làm một bát mì ngon. Thế nhưng bát mì lạnh hôm nay, nói không ngoa thì đây là bát mì ngon nhất mà hai người họ từng được ăn.
Quá đỗi thơm ngon.
Chẳng mấy chốc bát mì đã cạn sạch. Lúc này Quan Hải mới nhớ lại hình tượng người đọc sách, giữ kẽ lau miệng rồi nói: "Lúc trước tay nghề của Hoàng Phủ tiểu huynh đệ đã không tồi, không ngờ tay nghề của Thang phu lang còn tuyệt hơn. Một bát mì đơn giản mà làm ngon đến thế này, đỉnh quá đi mất."
"Nhà họ mở tiệm cơm, ta chỉ biết là ở trong thành Phụng Nguyên, chứ chưa hỏi thăm địa chỉ cụ thể." Tô Trí Hiên có chút hối hận: "Lúc đầu ta sợ đường đột nên không dám hỏi."
Quan Hải gật đầu, hắn lúc trước cũng vậy, người ta không nói thì hắn cũng không tiện hỏi kỹ.
Nhưng giờ đây... hai người nhìn nhau, cơm Thang lão bản nấu thơm như thế này, nhất định phải hỏi cho rõ ràng mới được, để sau này học thành tài trở về còn có thể tìm đến tận cửa mà ăn.
Bữa tối hôm đó, Thang Hiển Linh làm món cơm cháy, cũng là một nồi nấu ra rất đơn giản, sau đó bốn người chia nhau thức ăn. Thịt thì dùng thịt muối, gà để dành cho ngày mai, còn khối thịt muối này Thang Hiển Linh đã phải tốn kha khá công sức để xử lý, sau đó đem chiên sơ qua, vớt ra rồi dùng chính lớp mỡ đó để xào cháy cạnh với mầm tỏi.
Cách làm này có chút hơi hướng của món thịt chiên muối hay thịt kho tàu hâm lại.
Dưới đáy nồi cơm ngũ cốc là một tầng cơm cháy giòn rụm, phía trên là lớp cơm mềm dẻo, hương thơm tỏa ra bốn phía, ăn còn ngon hơn hẳn thứ gạo trước kia.
"Gạo này là chúng ta mới mua, không phải gạo trên thuyền đâu." Thiết Ngưu giải thích.
Quan Hải và Tô Trí Hiên nghe vậy, vừa ăn vừa gật đầu lia lịa: "Hèn chi mà thơm thế.", "Hai vị này, tiền gạo cứ để hai huynh đệ ta chia một phần, không thể cứ chiếm tiện nghi của phu phu hai người mãi được."
"Được thôi." Thang Hiển Linh sảng khoái đồng ý.
Cậu thầm nghĩ hai vị thư sinh này tính tình thật tốt, rất biết điều.
Chạng vạng, cả nhóm ngồi ăn cơm ở bàn lớn ngoài boong tàu. Trong lúc họ vừa ăn vừa trò chuyện, thỉnh thoảng lại có người hướng mắt về phía này đầy thèm thuồng. Quan Hải thấy vậy liền nói: "Họ chắc chắn là ngửi thấy mùi thức ăn của chúng ta rồi."
"Đầu bếp trên thuyền nấu ăn chẳng khác nào cám lợn, tất nhiên là không đời nào so được với tay nghề của Thang lão bản."
Lúc trước hai người họ vẫn gọi Thang Hiển Linh là "Thang phu lang", giờ qua hai bữa cơm ngon nhớ đời, họ cũng thuận miệng gọi theo tiếng "Thang lão bản" luôn.
Tối muộn hôm đó, có vài hành khách khác trên thuyền tìm đến, hỏi xem ngày mai có thể nấu thêm cơm để họ góp gạo ăn chung được không. Thang Hiển Linh từ chối ngay. Chỗ này chật chội, mượn nhà bếp trên thuyền nấu nướng vốn đã không thuận tay, nếu còn phải lo thêm phần cơm cho ngần ấy con người thì cậu chỉ thấy phiền phức thêm thôi.
Đối phương lộ rõ vẻ thất vọng, thậm chí còn đề nghị trả thêm tiền, nhưng Thiết Ngưu một mực khước từ.
Ngày tiếp theo, Thang Hiển Linh lại xuống bếp thêm một ngày. Lần này còn khoa trương hơn, có mấy hộ gia đình ở tầng hai còn cầm bạc đến thỉnh Thang lão bản nấu cơm cho. Thang Hiển Linh giả vờ như mình bị say nắng, xua tay bảo ngày mai sẽ không nấu nữa. Thiết Ngưu cũng đứng bên cạnh phụ họa rằng sắp đến Lục Kinh rồi, đến lúc đó muốn ăn gì mua nấy, chứ trên thuyền giờ cũng chẳng còn thịt thà rau dưa gì tươi ngon.
Đối phương nghe xong thấy cũng có lý, phu phu nhà này chắc chắn là dân làm ăn, một người đóng vai thiện một người đóng vai ác, phối hợp ăn ý để không làm mất lòng ai.
Vị khách kia thầm nghĩ: Cũng giống mình thôi, đúng là hòa khí sinh tài.
Hai ngày cuối cùng, Thiết Ngưu quay lại đảm nhận việc nấu nướng. Việc này đã dập tắt hẳn ý định muốn thử vận may của nhiều người, nhưng trong không khí lại phảng phất chút ai oán: "Mùi hương nức mũi của hai ngày trước giờ chẳng còn ngửi thấy nữa rồi."
Vẫn có người tò mò hỏi thăm phu phu hai người có phải làm nghề ăn uống hay không, địa chỉ ở đâu.
Thang Hiển Linh và Hoàng Phủ Thiết Ngưu còn chưa kịp mở lời, Quan Hải và Tô Trí Hiên đã nhanh nhảu quảng bá một hồi, nhiệt tình mời mọi người nếu có dịp hãy ghé tiệm cơm Thang Ngũ Ca ở phường Bát Hưng, thành Phụng Nguyên để thưởng thức.
Có lẽ nhờ được ăn ngon mà thời gian trôi qua thật nhanh. Buổi sáng ngày hôm đó, người chèo thuyền hô lớn: "Bến đò Xuân Phong tới rồi!"
Tất cả mọi người trên thuyền đều ùa ra, đứng trên boong tàu phóng tầm mắt nhìn ra xa.
Bến đò Xuân Phong nằm rất gần Lục Kinh, chỉ cần đổi sang xe ngựa đi nửa ngày là có thể vào thành. Mọi người đã bị kẹt trên thuyền suốt tám ngày trời, giờ rốt cuộc cũng tới được đích đến nên ai nấy đều vui mừng khôn xiết. Thuyền còn cách bờ một đoạn nhưng mọi người đã vội vàng về phòng thu dọn hành lý.
Thang Hiển Linh và Thiết Ngưu đứng trên boong tàu quan sát một lát. Vì thuyền cao và khoảng cách còn xa nên người trên bến tàu trông nhỏ xíu như đàn kiến, xung quanh là đủ loại thuyền bè lớn nhỏ đang neo đậu.
"Cuối cùng cũng tới nơi." Thang Hiển Linh cảm thán, thời cổ đại đi xa một chuyến thật sự không dễ dàng chút nào.
Khi thuyền cập bến, tại bến tàu đã có sẵn những người khuân vác đợi việc, có thể giúp chuyển hàng hóa và hành lý. Xa hơn một chút là những gánh hàng rong bán đồ ăn thức uống, tóm lại là đủ loại hình kinh doanh hoa hòe hoa sói, còn có cả kiệu phu đón người, xa phu cho thuê xe đứng chờ khách.
Quan Hải và Tô Trí Hiên cũng vào Lục Kinh, bốn người họ cùng nhau bàn bạc việc thuê xe, tất nhiên là thuê hai chiếc, nhưng vẫn mặc cả giá chung một thể. Hai vị thư sinh đã có chỗ dừng chân, bạn học của họ khi viết thư khuyên đi bái sư đã cung cấp sẵn chỗ ở, giúp hai người có nơi che mưa che nắng trước.
"... Chỗ của người huyenh đệ kia cũng nhỏ hẹp, thêm hai chúng ta vào đã là làm phiền rồi..." Quan Hải giải thích, nếu là nhà mình, hắn nhất định sẽ mời Thang lão bản và Hoàng Phủ tiểu huynh đệ tới ở.
"Chúng ta hiểu mà, lần này gặp gỡ đồng hành tám ngày đã là duyên phận, ngày sau có duyên sẽ lại tụ họp." Hoàng Phủ Thiết Ngưu chắp tay nói.
Thang Hiển Linh chỉ cảm thán: Nhân gian vẫn luôn có chân tình.
Thế đạo này, kẻ lòng dạ hiểm ác tuy có nhưng chỉ là số ít, đa số mọi người vẫn sống với nhau rất chân thành.
Sau khi vào thành, họ chia tay nhau như vậy. Cơ duyên của con người vốn là thế, chỉ là một đoạn đồng hành ngắn ngủi. Trong thời buổi thông tin liên lạc khó khăn, lại là mối quan hệ bèo nước gặp nhau, có lẽ sau này sẽ chẳng còn sau này nữa.
Thang Hiển Linh và Thiết Ngưu lúc này không thể ngờ được rằng, ngày sau họ thực sự sẽ gặp lại nhau lần nữa.
Đó chính là sự chấp niệm của những tâm hồn ăn uống.
Hai người tùy tiện tìm một khách đ**m để nghỉ lại, việc tiếp theo chính là tắm rửa chỉnh đốn và ăn cơm. Tuyệt nhiên không ai nhắc gì đến chuyện đi bái phỏng nhà họ Hoàng Phủ.
Lục Kinh và thành Phụng Nguyên mang hai vẻ đẹp hoàn toàn khác biệt. Cả hai đều to lớn, phồn hoa nhưng phong thổ và cách phục sức của dân chúng lại tương phản rõ rệt. Nếu thành Phụng Nguyên mang vẻ ngay ngắn, vững chãi thì Lục Kinh lại có phần linh động hơn, hệ thống kênh rạch nhỏ trong thành chằng chịt, nhà cửa dọc hai bờ sông cao thấp nhấp nhô không đều, màu sắc trang phục của dân chúng cũng rực rỡ hơn nhiều.
Giữa cái nóng ngày hè, phụ nhân và phu lang ở Lục Kinh ăn mặc khá phong phanh, để lộ cả cổ và cánh tay, điểm này thì cũng giống với thành Phụng Nguyên.
Thang Hiển Linh tỉ mỉ quan sát sự khác biệt, rồi chợt nhận ra: "Ta biết rồi, dân ở đây chuộng trâm hoa, thế nên trông ai cũng sinh động, đầy sức sống."
Dù là thường dân đại chúng, nhưng cả nam lẫn nữ ở đây đều cài hoa tươi lên đầu. Chẳng quản là hoa to hoa nhỏ hay hoa dại, cứ thế giắt vào búi tóc hay vành tai, nhìn qua là thấy ngay một sự yêu đời và kỳ vọng vào cuộc sống.
"Ta cũng muốn trâm hoa!" Thang Hiển Linh hào hứng nói.
Hoàng Phủ Thiết Ngưu mỉm cười, nắm tay phu lang đi đến một sạp hàng ven đường. Nơi đó bày đủ loại hoa tươi còn đọng những giọt nước li ti. Bé gái bán hoa nhanh nhảu giới thiệu hoa của mình vừa mới hái lúc sớm và được đặt trong bóng râm giữ tươi ra sao.
"Bao nhiêu tiền một cành?"
"Cành này ba văn, cành này bốn văn..."
Giá cả không đồng nhất nhưng nhìn chung mức giá này khá ổn, không chênh lệch là bao so với thành Phụng Nguyên. Thang Hiển Linh chọn cho Thiết Ngưu một cành, Thiết Ngưu tuy có chút ngượng ngùng đỏ mặt nhưng vẫn ngoan ngoãn cúi thấp người để phu lang cài hoa lên đầu cho mình.
Thang Hiển Linh cười khúc khích, rất nghiêm túc nhận xét: "Đẹp lắm."
Hoàng Phủ Thiết Ngưu chọn một bông hoa đỏ rực rỡ, trịnh trọng cài lên đầu phu lang.
Thang Hiển Linh: "..." Đúng là Thiết Ngưu thẳng nam mà.
Sao lại là hoa lớn thế này? Nhưng thôi, đóa mẫu đơn đỏ này là đóa đắt nhất, to nhất và đẹp nhất sạp rồi.
Thang Hiển Linh lại thấy vui vẻ, đã đến đây rồi thì cứ nhập gia tùy tục, ăn mặc như dân địa phương mới cảm nhận được những thú vui khác biệt.
Ban ngày hai người ra ngoài du ngoạn, ban đêm lại la cà các quán ăn vặt. Thang Hiển Linh vốn định phòng bệnh hơn chữa bệnh, tìm hiểu chút ít về nhà họ Hoàng Phủ, nhưng ngặt nỗi khi hỏi đến thì dân tình đều ngơ ngác: Nhà họ Hoàng Phủ nào? Có nhà họ Hoàng Phủ sao? Quan mấy phẩm thế?
Vừa nghe là tổ tiên từng làm quan ngũ phẩm, lại còn là võ tướng.
Gã sai vặt bưng trà: "..."
Thang Hiển Linh nhìn ra một chút khinh khỉnh trong ánh mắt của gã. Đúng là ở đất kinh thành này, rớt một miếng ngói xuống cũng có thể trúng đầu một ông quan tam phẩm, hèn chi gã lại có thái độ đó.
"Ngũ phẩm, lại còn là đời tổ tiên, thế thì tính là quan cán gì."
"Đúng đấy, lại còn là võ quan."
Thang Hiển Linh: "..." Ngươi châm chọc nhà họ Hoàng Phủ thì ta vui đấy, nhưng đừng có quơ đũa cả nắm, võ quan thì đã làm sao!
"Võ quan bảo quốc vệ dân, đáng được kính trọng." Thang Hiển Linh lên tiếng.
Ngoại tổ của Thiết Ngưu cả đời chinh chiến, hy sinh nơi biên ải, tuy không có chức tước gì to tát, chỉ như một con ốc vít nhỏ bé, nhưng con ốc vít cũng có tác dụng và giá trị riêng của nó.
Bên cạnh quán trà có người tán thưởng gật đầu: "Vị phu lang này nói rất đúng, có lý lắm."
Thang Hiển Linh cũng chỉ gật đầu chào hỏi lại cho có lệ. Những lời cậu nói đều xuất phát từ tận đáy lòng chứ không định nịnh bợ ai, cũng chẳng muốn phá chuyện làm ăn của gã sai vặt kia, chẳng qua là đạo bất đồng bất tương vi mưu, chẳng còn chuyện gì để nói với hạng người đó nữa.
Sau đó, họ cũng chẳng buồn tìm hiểu về nhà họ Hoàng Phủ thêm nữa.
Thiết Ngưu nói: "Không sao đâu, ngày mai chúng ta cứ đến đó đi."
Nhà họ Hoàng Phủ sa sút, thực ra ngay từ những năm cuối đời của tổ phụ Thiết Ngưu, ở mảnh đất Lục Kinh này, họ đã không còn vị thế gì nữa rồi...