9
Công xã Thanh Sơn nằm trong khe núi cách huyện lỵ tám mươi dặm về phía Bắc.
Đường núi tháng Tư vẫn còn tuyết đọng, tôi xỏ đôi giày vải đế khâu, đi bộ suốt hơn bốn tiếng đồng hồ.
Trạm y tế chỉ là hai gian nhà vách đất, vôi tường tróc gần hết, trong phòng có một cái bàn gỗ, một tủ thuốc và một giường khám bệnh. Trên tủ thuốc bày khoảng hai mươi loại thuốc cơ bản, nhiều ngăn còn trống rỗng.
Ông bác sĩ già họ Hứa, hơn sáu mươi tuổi, lưng còng xuống, một bên mắt bị đục thủy tinh thể, muốn nhìn ai cũng phải ghé sát lại gần.
Ông nhìn thấy tôi bước vào, đánh giá tôi từ trên xuống dưới một hồi lâu.
"Cô là người từ huyện phân về à?"
"Vâng."
"Bao nhiêu tuổi?"
"Hai mươi sáu."
"Biết tiêm không?"
"Biết."
"Biết đỡ đẻ không?"
"Con đã học qua, từng thực hành hai lần cùng bác sĩ Giang."
Bác sĩ Hứa ừ một tiếng, lôi từ sau tủ thuốc ra một bọc vải, mở ra, bên trong là một bộ kim châm cứu.
"Biết châm cứu không?"
Tôi nhìn bộ kim châm, lòng chợt nhớ tới cha mình.
"Cha con từng dạy con thủ thuật cơ bản. Nhưng con chưa thạo, cần phải luyện thêm."
Bác sĩ Hứa đưa bộ kim cho tôi.
"Thế thì luyện đi. Trong núi này thiếu thốn thuốc men lắm, cái gì cô cũng phải biết." Ông mò trong túi ra một củ khoai lang đưa cho tôi, "Ăn gì chưa? Lót dạ trước đi, tí nữa theo tôi đi khám bệnh."
Tôi nhận lấy củ khoai, cắn một miếng. Khoai lạnh, cứng ngắc, nhưng mà ngọt.
Ngoài cửa sổ, gió núi thổi qua, mang theo hương vị của nhựa thông và đất đai.
Tôi hít một hơi thật sâu.
Đây là lần đầu tiên trong suốt hai mươi sáu năm cuộc đời, tôi được hít thở bầu không khí hoàn toàn thuộc về chính mình.
---
Những ngày tháng ở công xã Thanh Sơn khổ hơn tôi tưởng rất nhiều, nhưng cũng thiết thực hơn nhiều.
Trạm y tế phụ trách sáu thôn tự nhiên trong bán kính ba mươi dặm, cộng lại có hơn một nghìn nhân khẩu. Đi khám bệnh đều trông cậy vào đôi chân cả.
Bác sĩ Hứa tuổi cao, đi đường xa đau khớp gối. Thế là những ca đi khám ở xa dần dần đều dồn lên vai tôi.
Tôi khoác hòm thuốc trên lưng, băng đèo vượt suối.
Lần xa nhất, tôi đi mất bảy tiếng để tới đỡ đẻ cho một sản phụ khó sinh. Khi tôi đến nơi, người mẹ đã đau đớn suốt hai ngày hai đêm, người nhà định bỏ cuộc rồi.
Mẹ chồng sản phụ đứng chắn trước cửa, vẻ mặt lạnh lùng vô cảm: "Đừng hành hạ nhau nữa, không giữ được mẹ thì bỏ, giữ lấy đứa nhỏ thôi."
Tôi gạt bà ta sang một bên.
"Cả mẹ lẫn con đều phải giữ được. Tránh ra."
Tôi áp dụng phương pháp cô Tề từng dạy, kết hợp với các thao tác xử lý khẩn cấp mà bác sĩ Giang đã truyền đạt trong lớp tập huấn, loay hoay suốt cả đêm dài.
Đến lúc trời hửng sáng, tiếng khóc của đứa trẻ vang vọng phá tan không gian tĩnh mịch.
Chồng của sản phụ quỳ trước cửa dập đầu lạy tôi ba cái.
Tôi không để anh ta lạy xong, liền ngăn lại: "Đừng lạy nữa. Sau này vợ anh ở cữ, đừng bắt cô ấy xuống đất làm việc. Cô ấy là người, không phải là con vật."
Anh ta liên tục gật đầu. Còn bà mẹ chồng, kẻ từng nói câu "giữ đứa lớn bỏ đứa nhỏ", lúc này đứng trong góc tường, không dám hé răng nửa lời.
Tôi bước ra khỏi nhà họ, mặt trời trên núi vừa mới ló rạng. Ánh nắng vàng óng len lỏi qua rặng thông, chiếu xuống đôi giày vải lấm lem bùn đất của tôi.
Tôi chợt nhớ đến câu nói trong lá thư của Triệu Trường Phong.
"Tống Quế Trân không có việc làm, không có hộ khẩu, ly hôn rồi thì chẳng là cái gì cả."
Tôi cúi đầu nhìn bàn tay mình.
Đôi bàn tay này, bốn tháng trước còn đang nhào bột, hấp bánh bao.
Còn bây giờ, chúng có thể châm cứu, bốc thuốc, đỡ đẻ.
Chúng đã giành giật mạng sống từ tay tử thần.
Tôi siết chặt nắm tay, tiếng xương khớp kêu răng rắc.
Triệu Trường Phong, anh nói tôi chẳng là cái gì cả.
Anh xem cho kỹ đi.
---
10
[Triệu Trường Phong ]
Triệu Trường Phong chưa đợi được ngày thăng chức, thì đã đợi được cảnh nhà họ Triệu sụp đổ.
Mùa đông đầu tiên sau khi Quế Trân bỏ đi, vết loét tì đè của mẹ chồng đã lở loét trầm trọng. Triệu Trường Quân lúc ấy mới mười bảy tuổi, thằng bé lớn chưa đủ khôn, làm sao biết cách chăm sóc người bệnh. Nó cố bắt chước cách Quế Trân hay làm để trở mình, lau rửa cho bà cụ, nhưng sức yếu, phương pháp lại sai, vết loét càng lúc càng nặng, cuối cùng bị nhiễm trùng rồi sốt cao.
Khi đưa đến trạm y tế thị trấn, bác sĩ chỉ nhìn một cái rồi lắc đầu: "Muộn quá rồi. Nếu sớm hai tháng thì đã không đến nỗi nào."
Triệu Trường Quân đứng trước cửa trạm y tế, hốc mắt đỏ hoe như mắt thỏ.
Nó đánh điện báo cho anh cả: Mẹ bệnh nặng, về ngay.
Triệu Trường Phong xin nghỉ phép vội vã chạy về.
Vừa về đến nhà, anh sững sờ.
Quế Trân đi chưa đầy nửa năm mà ngôi nhà đã chẳng còn ra hình thù gì nữa. Ruộng đất không ai cày cấy, bỏ hoang quá nửa. Trên bếp phủ một lớp bụi dày, nồi niêu đóng cặn đen kịt. Giấy dán cửa sổ phòng khách rách một lỗ to, gió lạnh cứ thế lùa vào vù vù.
Mẹ chồng nằm trên giường đất, gầy gò như một thanh củi khô, lớp đệm bên dưới tỏa ra mùi hôi thối nồng nặc. Thấy con trai cả bước vào, đôi môi khô khốc của bà mấp máy, không thốt nổi một câu trọn vẹn, nước mắt cứ thế chảy dọc theo những nếp nhăn đuôi mắt.
Triệu Trường Phong ngồi xổm bên mép giường, nhìn vào chỗ thịt da lở loét dưới thân mẹ, dạ dày anh cuộn lên từng đợt.
Anh chợt nhớ ra, suốt hai năm trời, ngày nào Quế Trân cũng trở mình, lau rửa, thay thuốc, phơi đệm cho bà. Vậy mà chưa một lần nào anh đích thân làm những việc đó.
Thậm chí anh còn chưa từng ngửi thấy cái mùi này.
Bởi vì mỗi lần anh về nhà, Quế Trân đều thu vén mọi thứ gọn gàng sạch sẽ, ngay cả đệm trên giường cũng trải tấm ga mới giặt.
Anh cứ ngỡ đó là điều hiển nhiên.
Em trai thứ hai là Triệu Trường Dũng vẫn đang đi học ở thị trấn, thường ở nội trú, nghỉ lễ cũng chẳng mấy khi về. Triệu Trường Quân từng hỏi xin tiền cậu ta để lo cho mẹ, cậu ta liền gắt: "Em còn đang đi học, lấy đâu ra tiền mà đưa."
Triệu Trường Quân cắn môi, không nói thêm lời nào.
Nhà họ Triệu không có Quế Trân, giống như một cỗ máy bị rút mất linh kiện cốt lõi, từng bánh răng cứ thế chạy không, từng vòng bi đều phát ra những tiếng kêu rít c.h.ói tai.
Mẹ chồng đã không qua khỏi vào tháng Chạp năm đó.
Trước lúc tắt thở, bà cụ nắm c.h.ặ.t t.a.y Triệu Trường Quân, thều thào nói hai tiếng.
Triệu Trường Quân ghé sát tai vào miệng bà nghe hồi lâu mới nhận ra.
"Quế Trân..."
Triệu Trường Quân vùi mặt vào bàn tay gầy guộc của bà, bờ vai rung lên bần bật.
Triệu Trường Phong đứng lặng bên cạnh giường.
Anh nhớ lại nửa năm trước, cái ngày mẹ chồng lên huyện tìm Quế Trân, bà từng ngồi dưới đất rủa xả cô là "đồ không có lương tâm".
Khi ấy, Quế Trân ngồi xổm xuống nói chuyện cùng bà, còn lấy từ trong túi ra hai mươi đồng tiền - đó là toàn bộ tiền lương hai tháng cô làm việc ở căng tin.
Sau khi đi rồi, cô vẫn gửi tiền về mua thuốc cho bà.
Bà cụ đã chửi cô suốt bốn năm trời.
Vậy mà đến lúc chếc, cái tên bà gọi lại chính là cô.
11.
Ngày tháng trôi qua như dòng suối nhỏ trong núi, không vội vã, nhưng cứ thế mãi chảy về phía trước.
Năm 63 đã qua. Năm 64 đã qua. Năm 65 cũng đã qua đi.
Ba năm qua, tôi đã đỡ đẻ cho bốn mươi bảy đứa trẻ, chữa trị không biết bao nhiêu ca nhức đầu sổ mũi, chấn thương tay chân. Mắt của thầy thuốc Hứa ngày càng mờ đi, trạm y tế dần dần chỉ còn một mình tôi gồng gánh.
Huyện mỗi năm đều có hai suất đi bồi dưỡng, năm nào tôi cũng đăng ký. Tôi học cách bào chế thuốc Đông y, học châm cứu xoa bóp, học cả những kỹ thuật khâu vết thương cơ bản. Thầy Tề thỉnh thoảng lại gửi sách cho tôi, từ sách giáo khoa y học đến sách xóa mù chữ, cái gì cũng có.
Vốn từ vựng của tôi đã tăng từ vài trăm chữ lên hơn ba ngàn chữ.
Đã có thể đọc báo, đọc hiểu dược điển, tự mình viết bệnh án rồi.
Cán sự Phương viết thư về nói, Triệu Trường Phong vẫn đang trả nợ đều đặn. Mỗi tháng mười lăm đồng, đúng ngày chuyển vào tài khoản của Hội Phụ nữ, rồi Hội Phụ nữ lại chuyển cho tôi.
Ba năm, anh ta đã trả được năm trăm bốn mươi đồng.
Còn lại một trăm bảy mươi tư đồng ba hào.
Cán sự Phương viết ở cuối thư: "Nghe nói mẹ anh ta đã qua đời vào mùa đông năm ngoái. Đến giờ anh ta vẫn chưa tái hôn. Cuộc sống trong quân ngũ không mấy suôn sẻ, có người mắng anh ta là 'Trần Thế Mỹ', chuyện đề bạt lên chức mãi vẫn chưa thấy động tĩnh gì."
Đọc xong, tôi đặt lá thư xuống.
Trong lòng chẳng rõ là vị gì. Không phải vui, cũng chẳng phải buồn. Chỉ thấy một thứ gì đó rất xa xăm, rất nhạt nhòa, tựa như tiếng vọng nghe được cách một ngọn núi.
Mẹ chồng cũ đã mất rồi.
Tôi chợt nhớ đến cảnh bà đứng trước cửa Hội Phụ nữ, tay run rẩy cầm lấy hai mươi đồng mà tôi đưa.
Tôi ngồi lặng đi trước tủ thuốc trong trạm y tế một lúc.
Rồi đứng dậy, đi lên núi hái thuốc.
Ngày tháng vẫn phải trôi. Bệnh của người sống vẫn phải chữa.