Trùng Cái Từ Tinh Tế Xuyên Thành Ca Nhi Nông Thôn

Chương 130

  Chỉ một loáng sau, Bạch Thuật lại tới nữa.

Tạ Lăng định đứng dậy, Bạch Thuật đã lên tiếng cản lại: “Không cần, hôm nay đệ là nhân vật chính, đừng khách sáo với ta.”

Dứt lời, cậu liền tùy ý ngồi xuống bên cạnh Tạ Lăng, từ trong tay áo lấy ra một chiếc tráp, nói: “Cho đệ xem cái này, đây là món đồ ta và đại ca đệ chuẩn bị cho đệ.”

Mở tráp ra, bên trong đặt một phần văn khế, chính là trang viên Bạch Ngọc ở Nam Dương, cùng với vạn lượng ngân phiếu. Ngoài ra còn có không ít bạc vụn, tiền đồng và lá vàng xếp đầy một hộp, gom lại cũng khoảng vài trăm lượng.

“Mấy món vụn vặt này là ca ca đệ bảo ta chuẩn bị, nói là để đệ thưởng cho kẻ hầu người hạ.” Bạch Thuật bảo: “Ta vốn không hiểu mấy chuyện này, nhưng ca ca đệ nói chốn nhà cao cửa rộng không thể thiếu tiền thưởng bao. Hơn nữa ngân phiếu không tiện đổi ngay lập tức, có số bạc này đệ cũng dễ xoay xở hơn.”

“Tuy nói một tháng nữa đệ sẽ theo Ngụy Quỳnh đi nhậm chức, nhưng dù sao vẫn phải ở lại Ngụy gia một tháng, mọi sự cứ chu toàn trước vẫn hơn.”

“Cảm ơn tẩu tẩu và đại ca.” Tạ Lăng vốn đang tràn ngập niềm vui, nay nghe Bạch Thuật dặn dò, nghĩ đến việc sắp sửa rời xa Tạ gia, lòng không khỏi dâng lên niềm chua xót.

Nghĩ lại thì khoảng thời gian qua chính là những ngày tháng vui vẻ nhất của hắn tại Tạ gia. Chỉ tiếc chuỗi ngày ấy sắp khép lại, ngày sau phải xa cách người thân, chẳng biết bao lâu mới có thể gặp lại một lần.

“Được rồi, mau thu lại tâm tình đi, đừng để rơi nước mắt.” Bạch Thuật mỉm cười trêu: “Vài ngày nữa là lại mặt rồi, nếu có chỗ nào không quen cứ việc nói với ta. Ngụy gia mà có kẻ dám bắt nạt đệ, cứ thế mà quay về nhà, không cần phải đi cái chốn Nam Sa khỉ ho cò gáy ấy nữa.”

Lời này của Bạch Thuật lập tức chọc Tạ Lăng bật cười, hắn gật đầu đáp: “Đệ biết rồi tẩu tẩu, trong nhà lúc nào cũng có mọi người chống lưng cho đệ.”

Hai người đang trò chuyện thì bên ngoài có người vội vã chạy vào báo tin: “Đến giờ rồi! Tân nương tử chuẩn bị xuất giá thôi!”

Bạch Thuật và Tạ Lăng bấy giờ mới vội đứng dậy, cùng nhau bước ra ngoài.

Đi chưa được mấy bước đã thấy Tạ Hòe Ngọc đứng đợi sẵn ngoài viện, bảo: “Đi thôi, còn một đoạn đường nữa, để đại ca cõng đệ qua.”

Sống mũi Tạ Lăng chợt cay cay, hắn không ngờ Tạ Hòe Ngọc lại bằng lòng làm đến mức này vì mình.

Việc đại ca cõng đệ đệ xuất giá là tập tục dân gian ở Đại Tuyên. Nhà ngoại làm vậy là để chứng tỏ tân nhân luôn có một chỗ dựa vững chắc ở gia tộc mẫu thân.

Có điều, phong tục này không phải ai cũng chịu thực hiện.

Đặc biệt là ở những gia tộc huân quý như bọn họ, các vị quý công tử vốn trói gà không chặt, chẳng mấy ai có sức lực.

Để giữ gìn phong độ lịch lãm, họ đã sớm bãi bỏ tập tục này, vậy mà nay Tạ Hòe Ngọc lại muốn khôi phục nó.

“Mau lên đi, đừng lề mề nữa.” Tạ Hòe Ngọc khẽ nhíu mày giục.

Tạ Lăng bấy giờ mới tiến lên một bước, leo lên tấm lưng rộng của ca ca.

Cũng may vóc dáng hắn khá thanh mảnh, Tạ Hòe Ngọc tuy hơi tốn sức nhưng vẫn chịu đựng được, liền vững vàng cõng người tiến về phía trước.

“Hôm nay huynh tiễn đệ ra cửa thế này, Ngụy gia nhìn thấy chắc chắn sẽ hiểu ý, không ai dám tùy tiện bắt nạt đệ nữa.” Tạ Hòe Ngọc lên tiếng.

“Đa tạ đại ca…” Tạ Lăng nghẹn ngào, gục đầu trên vai Tạ Hòe Ngọc.

Trên trán Tạ Hòe Ngọc đã rịn ra một lớp mồ hôi mỏng, hắn nói tiếp: “Lần trước huynh cõng đệ là khi đệ vô ý rơi xuống nước. Lúc vớt được đệ lên, đệ còn nhỏ xíu, lại hôn mê bất tỉnh. Huynh sợ đến mức tay chân lạnh toát, cứ lo đệ sẽ thế mà đi luôn, chẳng bao giờ tỉnh lại nữa. May mà sau đó đệ tai qua nạn khỏi, ta mới dám yên tâm rời nhà.”

Tạ Lăng biết chuyện mình từng đuối nước, nhưng việc được Tạ Hòe Ngọc cõng về thì hắn hoàn toàn không hay biết.

Năm ấy hắn chẳng rõ bị kẻ nào đẩy xuống hồ, sau khi ngã xuống thì sốt mê man suốt ba ngày ba đêm mới tỉnh.

Khi tỉnh lại, trong lòng ngập tràn sợ hãi, hắn dáo dác tìm kiếm bóng dáng Tạ Hòe Ngọc thì lại nghe người ta bảo huynh ấy vừa mới đi khỏi để lên thư thục học bài.

Lúc ấy Lâu thị và Tạ Kỳ đứng bên cạnh, không ngừng rót vào tai hắn: “Cái vị đại ca kia của ngươi thật là vô tâm, bào đệ ruột thịt gặp nạn mà chẳng thèm nán lại nhà thêm vài ngày, lạnh lùng tuyệt tình đến thế là cùng, chỉ chăm chăm đến trường học.”

Nghe những lời đó, lòng hắn lạnh ngắt, trong dạ không khỏi sinh lòng oán hận Tạ Hòe Ngọc, nào có ngờ người liều mạng cứu hắn năm xưa lại chính là đại ca của mình.

Hóa ra đại ca vẫn luôn đối xử tốt với hắn như vậy. Tạ Lăng thầm nghĩ, trong đầu như chiếc đèn kéo quân, tái hiện lại biết bao ký ức từ thuở nhỏ đến khi khôn lớn của hai anh em.

Lúc này đã cách đại môn không xa, Tạ Lăng có thể nghe rõ tiếng pháo nổ vang trời cùng tiếng nhạc hỷ rộn rã bên ngoài.

Chỉ cần bước qua ngưỡng cửa này, hắn sẽ thực sự rời khỏi Tạ gia.

Tạ Lăng siết chặt tay, ôm lấy cổ đại ca chặt hơn một chút.

Khoảnh khắc bước qua bậc cửa, giọt nước mắt hắn kìm nén bấy lâu rốt cuộc cũng lã chã rơi xuống, thấm đẫm bờ vai Tạ Hòe Ngọc.

“Cảm ơn đại ca…” Vẫn là một câu nói ấy, nhưng Tạ Hòe Ngọc lại nghe ra sự khác biệt rõ rệt so với lúc trước.

Lúc này hắn đã ướt đẫm mồ hôi, sống mũi cũng chợt cay cay.

Thế nhưng khi nhìn thấy ánh mắt rực rỡ ngập tràn tình ý của Ngụy Quỳnh đang hướng về phía Tạ Lăng, lòng hắn cũng nhẹ nhõm đi vài phần.

Đệ đệ của hắn, cuối cùng cũng đã gả cho người xứng đáng…

Tạ Hòe Ngọc đặt Tạ Lăng vào trong kiệu, rèm kiệu lập tức hạ xuống.

Ngụy Quỳnh tiến lên một bước, cung kính cúi đầu hành lễ với Tạ tước gia.

Sau đó, hắn xoay người lên ngựa, dẫn đầu đoàn đón dâu rời đi. Sính lễ và của hồi môn mà Tạ gia chuẩn bị cho Tạ Lăng nối đuôi nhau phía sau, kéo dài thành một hàng dài dằng dặc, trông vô cùng bề thế và uy nghi.

Bạch Thuật dùng tay áo thấm mồ hôi trên trán cho Tạ Hòe Ngọc, trêu chọc: “Thể lực của huynh kém quá đấy, mới cõng Tạ Lăng có một đoạn đường mà đã mệt đến mức này rồi.”

Tạ Hòe Ngọc: “……”

Tạ phủ rộng lớn như vậy, từ sân của Tạ Lăng ra đến đại môn hắn phải đi mất gần một khắc đồng hồ, mệt là chuyện đương nhiên.

Thế nhưng bị Bạch Thuật chê bai thể lực yếu, Tạ Hòe Ngọc thầm hạ quyết tâm, đợi sau khi đứa trẻ chào đời, nhất định phải khiến Bạch Thuật có cái nhìn hoàn toàn khác về mình!

Phía bên Ngụy gia, trước cửa đã vây kín khách khứa, ai nấy đều háo hức chờ tân lang rước người về.

Trong ngày đại hỉ này, Văn gia với tư cách là thông gia của Ngụy gia đương nhiên không thể vắng mặt.

Trưởng tử Văn gia là con rể Ngụy gia nên đã đến từ sớm để đỡ đần một tay, Văn phu nhân cũng dẫn theo một cặp nhi nữ đến dự.

Vì chuyện tình cảm năm xưa giữa Văn Tú Nga và Ngụy Quỳnh, sự xuất hiện của Văn phu nhân ít nhiều mang theo vài phần gượng gạo.

Dù sao sau khi Văn Tú Nga chọn gả cho người khác, Ngụy Quỳnh đã chịu cảnh phòng không chiếc bóng suốt một thời gian dài.

Bà ta cũng nghe nói Ngụy Khương thị từng đi khắp nơi nhờ người mai mối cho những cô nương lỡ thì, chẳng hiểu sao cuối cùng lại chọn trúng ca nhi nhà Tạ gia này.

Văn phu nhân cùng mọi người đứng đợi ở cửa, thấy Ngụy Khương thị gương mặt rạng rỡ niềm vui, diện một bộ hoa phục lộng lẫy, lưng thẳng tắp đầy tự hào.

Văn Tú Nga thấy vậy liền ghé sát tai Văn phu nhân, nhỏ to: “Cái tên Ngụy Quỳnh kia thật chẳng có tiền đồ, cưới không nổi nữ tử nên giờ đành phải rước một ca nhi về làm chính thất, thế mà cũng khiến Ngụy Khương thị kia đắc ý đến tận trời.”

Văn phu nhân khẽ giọng nhắc nhở: “Đó là đích ca nhi của Tạ gia, bà ta đương nhiên phải mừng rỡ rồi. Bằng không, Ngụy Quỳnh nhà bà ta e là chỉ cưới được người có gia thế thấp kém hơn. Giờ cưới được một ca nhi như vậy đã là phúc phần lớn lắm rồi.”

“Tạ ca nhi kia đúng là nghĩ quẩn.” Văn Tú Nga cười giễu cợt: “Với gia thế của hắn, thà gả cho đích trưởng tử của Ngụy hầu gia làm thiếp còn hơn.”

“Chẳng qua là nông nổi tuổi trẻ thôi.” Văn phu nhân khẽ che miệng cười: “Nghe nói Tạ Lăng và Ngụy Quỳnh đã qua lại từ trước, chắc là bị mấy lời đường mật của Ngụy Quỳnh dụ dỗ nên mới đòi đi theo hắn. Đợi đến cái chốn khỉ ho cò gáy kia chịu khổ vài ngày, hắn sẽ biết thế nào là hối hận.”

Hai người đang thì thầm to nhỏ thì giờ lành đã đến, tiếng kèn trống của đoàn đón dâu vang lên rộn rã từ xa tiến lại gần.

Hôm nay Ngụy Quỳnh cưỡi một con tuấn mã, khoác trên mình bộ hỷ phục đỏ rực, mày mắt đều ngập tràn niềm hân hoan.

Kiệu hoa dừng lại trước cửa Ngụy phủ, Ngụy Quỳnh nhanh nhẹn xoay người xuống ngựa, động tác vô cùng dứt khoát và phong nhã.

Văn Tú Nga thoáng ngẩn người, nàng cảm thấy Ngụy Quỳnh của ngày hôm nay có gì đó rất khác so với người mà nàng từng biết trước đây. Mỗi cử chỉ, điệu bộ của hắn đều khiến lòng người rung động, ánh mắt hắn đong đầy tình ý thâm sâu, một ánh mắt dịu dàng mà nàng chưa từng được thấy bao giờ.

Nàng siết chặt hai tay, trong lòng không kìm được mà dâng lên một nỗi đố kỵ mãnh liệt.

Năm xưa Ngụy Quỳnh vốn là đối tượng đính ước của nàng, vậy mà hắn lại luôn lạnh nhạt, thờ ơ. Nay cưới một ca nhi nhà Tạ gia, hắn lại hân hoan, vui mừng đến thế.

Trước đây nàng từng nghe loáng thoáng việc Ngụy Quỳnh tìm gặp Tạ ca nhi, sau đó Tạ Lăng lại cố tình đến cửa hàng hỏi thăm nàng về chuyện của Ngụy Quỳnh, khi ấy nàng đã đoán định sự tình này mười phần là thật.

Về sau nghe tin Tạ gia gả Tạ Lăng cho Ngụy Quỳnh, nàng còn thầm đắc ý, nghĩ rằng Tạ Lăng gả thấp như vậy thì tiền đồ coi như bỏ, chẳng có gì tốt đẹp.

Thế nhưng hôm nay tận mắt chứng kiến cảnh Ngụy Quỳnh đi đón dâu, lòng nàng lại khó chịu vô cùng. Chẳng lẽ tài học và dung mạo của nàng lại không bằng một ca nhi của Tạ gia hay sao?

Ngụy Quỳnh vén rèm kiệu, Tạ Lăng vừa định bước ra.

Nào ngờ Ngụy Quỳnh nhanh tay lẹ mắt, dứt khoát bế bổng Tạ Lăng vào lòng.

Tạ Lăng giật mình kinh hãi, cảm giác thẹn thùng xen lẫn ngọt ngào ùa đến. Hắn vội vùi đầu vào lồng ngực vững chãi của Ngụy Quỳnh, không dám ngước nhìn xung quanh.

Đám đông đứng xem bên cạnh lập tức ồ lên trêu chọc: “Tạ ca nhi sao lại trốn đi thế kia? Mau cho chúng ta chiêm ngưỡng chút đi chứ!”

“Tân nương tử dung mạo xinh đẹp như hoa, sao lại giấu kỹ thế kia?”

Tạ Lăng lén lút liếc nhìn Ngụy Quỳnh, hai ánh mắt chạm nhau, trong con ngươi đen lánh của đối phương lúc này chỉ có hình bóng của người kia hiện hữu.

Ngụy Quỳnh ghé sát tai hắn, khẽ thì thầm: “Mớ trâm cài tóc kia… nặng lắm đúng không… Tối nay ta sẽ tự tay gỡ xuống cho em…”

Nghe vậy, sống lưng Tạ Lăng chợt cứng đờ, khuôn mặt nóng bừng lên như muốn rỉ máu, hắn ngượng ngùng không dám nhìn Ngụy Quỳnh thêm giây nào nữa.

Khóe miệng Ngụy Quỳnh không giấu nổi nụ cười hạnh phúc, hắn ôm chặt người thương trong lòng, sải bước tiến thẳng vào đại đường, chẳng mảy may để tâm đến ánh nhìn của những người xung quanh.

Đám đông hiếu kỳ cũng ùa theo phía sau, chen chúc vào trong.

Chỉ còn lại Văn Tú Nga đứng chôn chân tại chỗ, nhìn theo bóng lưng hai người mà lòng ngổn ngang trăm mối, không biết nên vui hay buồn.

Một mặt, nàng thầm tự nhủ trong lòng rằng thứ tình cảm yêu đương nồng nhiệt này chẳng qua cũng chỉ là mây khói thoảng qua, Tạ Lăng và Ngụy Quỳnh ngày sau tới Nam Sa nhất định sẽ phải chịu cảnh nghèo túng, khổ cực, chẳng thể có được ngày tháng ấm êm.

Nhưng mặt khác, tâm trí nàng lại chẳng thể nào bình lặng nổi. Nghĩ đến việc ngày sau mình phải gả cho vị biểu ca kia, trải qua một đời bình lặng, tẻ nhạt, lòng nàng bỗng dâng lên một nỗi bồn chồn, bất an khôn tả.

Tình cảm nồng nàn, mật ngọt hiện rõ trong ánh mắt của hai người họ rốt cuộc đã thiêu đốt lòng kiêu hãnh của nàng.

Văn phu nhân đứng bên cạnh khẽ kéo tay áo nàng, nàng mới bừng tỉnh rồi cùng mẫu thân bước vào Ngụy phủ, cố đè nén nỗi ngưỡng mộ xen lẫn ghen tị trong lòng xuống, kiêu hãnh ngẩng cao đầu.

Con đường nàng chọn không hề sai, con đường nàng chọn… nhất định là đúng đắn!

Ngụy gia lần này tuy là tam phòng cưới vợ, nhưng vì đối phương là ca nhi của Tạ gia, lại thêm việc Ngụy Quỳnh đang giữ quan chức trong người, thế nên hôn lễ vẫn phải được tổ chức vô cùng long trọng, linh đình, bày biện tới sáu mươi sáu bàn tiệc.

Tạ Lăng cùng Ngụy Quỳnh đi tới sảnh ngoài để dâng trà cho Ngụy Hãn và Ngụy Khương thị.

Ngụy Khương thị ra hiệu bằng mắt, gã sai vặt lập tức dâng lên một chiếc tráp quý giá. Đây là nghi thức thể hiện sự coi trọng và yêu mến của bà dành cho vị tân khẩu này.

Sau khi các nghi thức bái đường hoàn tất, có người tiến lên lớn tiếng tuyên đọc danh mục của hồi môn của Tạ Lăng.

Sính lễ và của hồi môn của Tạ Lăng tuy không thể dài dằng dặc như của Bạch Thuật ngày trước, nhưng những món đồ mà các danh môn khuê tú trong kinh thành thường có thì hắn đều có đủ, chẳng thiếu thứ gì.

Những vật phẩm mang ý nghĩa cát tường đương nhiên không cần bàn tới, còn về những đồ đạc nặng nề như bàn ghế, giường tủ, vì hai người sắp sửa đi xa nên gia tộc không chuẩn bị nhiều.

Tuy nhiên, số lượng của hồi môn bằng bạc mặt thì lại không hề nhỏ, tính ra có đến vạn lượng, so với năm ngàn lượng bạc sính lễ của Ngụy gia thì đã nhiều hơn gấp đôi.

Dù chỉ tính riêng khoản này thôi thì số của hồi môn đó ở kinh thành cũng đã thuộc hàng vô cùng xa xỉ, bề thế rồi.

Trong lòng Văn Tú Nga dâng lên cảm giác chua chát, nàng nghĩ đến của hồi môn của mình sau này chắc chắn chẳng thể nhiều bằng Tạ Lăng, lòng ít nhiều cảm thấy không vui.

Thế nhưng, của hồi môn của Tạ Lăng đâu chỉ dừng lại ở đó?

Nàng bỗng nghe thấy người phía sau lại tiếp tục xướng danh —— Sản nghiệp của hồi môn của Tạ ca nhi gồm có một thôn trang ở Nam Dương, nguồn thu mỗi năm ước tính khoảng hơn sáu vạn lượng bạc.

Lời vừa dứt, toàn trường lập tức xôn xao, bàn tán không ngớt.

Tạ Hòe Ngọc vậy mà lại hào phóng trao cho Tạ Lăng một thôn trang sinh lời lớn đến thế, sáu vạn lượng bạc cơ đấy!

Sáu vạn lượng bạc là khái niệm gì chứ?

Những gia tộc hầu môn có tước vị như họ, bổng lộc một năm cũng chỉ khoảng một vạn lượng. Sản nghiệp trên tờ danh mục của hồi môn kia có nguồn thu sáu vạn lượng một năm, tức là gấp sáu lần số bổng lộc đó!

Đừng nói là số của hồi môn ít ỏi của Văn Tú Nga, ngay cả của hồi môn của Tề Thanh Uyển e là cũng chẳng thể sánh bằng.

Ngụy Quỳnh mở to mắt kinh ngạc, hắn không ngờ mình vậy mà lại rước về một “hũ vàng” lớn đến thế.

Ngụy Khương thị lập tức không kìm nén được cảm xúc, mừng rỡ đến mức cuống cuồng, hốc mắt long lanh nước mắt, dường như vì quá vui sướng mà bật khóc. Hành động này khiến Ngụy phu nhân ngồi bên cạnh phải kín đáo giật mạnh tay áo bà, nhắc nhở đừng để thất thố trước mặt bàn dân thiên hạ.

Đến đây, nghi lễ ở sảnh ngoài mới thực sự kết thúc, các quan khách bắt đầu di chuyển ra phía sau để nhập tiệc, còn Tạ Lăng được đưa vào động phòng trước, Ngụy Quỳnh thì ở lại tiền sảnh để tiếp đãi khách khứa.

Thấy Ngụy Quỳnh ân cần đỡ Tạ Lăng rời đi trước, mọi người mới lục đục giải tán theo thứ tự.

Văn phu nhân vừa đứng dậy liền liếc mắt nhìn nữ nhi của mình.

Bấy giờ bà mới phát hiện Văn Tú Nga chẳng biết đã rơi lệ từ lúc nào, đang âm thầm lau nước mắt.

“Ngươi khóc cái gì đấy?” Trong lòng Văn phu nhân thắt lại, vội vàng lấy khăn che chắn cho nàng, bảo nàng mau lau đi, không biết đã bị ai nhìn thấy chưa.

“Đến cả Tạ Lăng mà cũng gả đi một cách vẻ vang như vậy.” Văn Tú Nga không kìm được uất ức trong lòng, không cam tâm nói: “Hắn chỉ là một ca nhi, dựa vào cái gì mà được nở mày nở mặt đến thế! Giờ hắn làm vậy, ngày sau con xuất giá, với chút của hồi môn ít ỏi kia thì biết giấu mặt vào đâu? Chắc chắn sẽ bị người ta chê cười, bàn tán.”

“Của hồi môn của ngươi sao lại không thể đem ra ngoài được? Cho dù có kém cạnh nhà Tạ gia, Tề gia một chút thì đó cũng là hàng bực nhất ở triều Đại Tuyên này rồi!” Văn phu nhân nghiêm giọng: “Chuyện đã đến nước này, ngươi khóc lóc thì có ích gì? Biểu ca ngươi đã là lựa chọn tốt nhất rồi. Mau thu lại cái bộ dạng đó đi, thể hiện cho tốt vào, nếu chuyện hôm nay lọt vào tai người ngoài, chẳng biết họ lại thêu dệt ra những lời khó nghe gì đâu.”

Văn Tú Nga trong lòng cũng hiểu rõ đạo lý này, bởi vậy nàng đứng điều chỉnh tâm trạng một hồi lâu, lúc này mới thu lại nét mặt, đi theo Văn phu nhân ra phía sau dự tiệc.

Cuộc liên hôn giữa Ngụy gia và Tạ gia nhờ có trận đại hôn này mà trở nên vô cùng rầm rộ, khiến khắp kinh thành ai nấy đều thầm ghen tị.

Họ cảm thấy Ngụy Quỳnh tuy bị điều đi nhậm chức ở nơi xa, nhưng cưới được một ca nhi có thế lực lớn như Tạ gia chống lưng, ngày sau nếu hai nhà cùng góp sức, việc được triệu hồi về kinh thành lập công danh chỉ là chuyện sớm muộn.

Chớp mắt đã qua hai ngày, đến ngày Tạ Lăng về lại mặt.

Ngụy Quỳnh từ sớm đã cùng hắn trở về Tạ gia, mang theo rất nhiều lễ vật quý giá. Tuy những món đồ này đối với Tạ gia chẳng phải của hiếm, nhưng đó cũng là tấm lòng thành của hai người.

Tạ Lăng lần này trở về, y phục diện trên người trông vô cùng sang quý.

Bộ y phục này hoàn toàn mới, không phải trang phục cũ mặc ở Tạ gia, xem ra là do Ngụy gia đã sớm chuẩn bị chu đáo cho hắn từ trước.

Gương mặt hắn rạng rỡ nét xuân, hồng hào đầy sức sống, rõ ràng là được phu quân chăm sóc vô cùng tốt.

Xem ra ở Ngụy gia hắn được đối xử rất tử tế, không phải chịu bất kỳ uất ức nào.

Tạ Hòe Ngọc nhìn thấy vậy, thái độ đối với Ngụy Quỳnh cũng hòa nhã hơn vài phần. Sau khi hai người hành lễ với Tạ tước gia xong, hắn liền gọi Ngụy Quỳnh vào thư phòng để đàm đạo chuyện chính sự.

Còn Tạ Lăng thì cùng Bạch Thuật và Tạ Cầm lui xuống hậu viện để trò chuyện tâm tình.

Bạch Thuật bảo với Tạ Lăng: “Đệ đã về rồi thì cứ ở lại nhà chơi vài ngày hãy đi, căn phòng của đệ ta vẫn sai người dọn dẹp sạch sẽ, giữ nguyên như cũ.”

Tạ Lăng gật đầu đồng ý: “Vâng, vậy đệ sẽ ở lại vài ngày rồi mới đi.”

Tạ Cầm ngồi bên cạnh mỉm cười trêu: “Sao ngươi lại tự tiện quyết định thế, không thèm hỏi qua ý kiến của phu quân ngươi một tiếng à?”

Tạ Lăng liền tỏ vẻ e thẹn, đáp: “Không sao đâu, huynh ấy… huynh ấy lúc nào cũng nghe theo lời ta.”

Bạch Thuật và Tạ Cầm nhìn nhau, trong lòng thầm cười khẽ, xem ra Tạ Lăng ở Ngụy gia quả thực sống rất hạnh phúc, nếu không hắn đã chẳng dám tự mình định đoạt như vậy.

Lúc này Bạch Thuật mới hỏi thêm vài chuyện về cuộc sống của hắn ở Ngụy gia, Tạ Lăng đều ngoan ngoãn trả lời từng câu một, chỉ bảo mọi người trong Ngụy phủ đều đối xử với hắn vô cùng khách khí, lễ độ.

Sáng ngày đầu tiên sau đêm tân hôn, hắn vì mệt mỏi mà không dậy nổi, phu quân cũng chiều chuộng hắn, tự tay bưng cơm nước vào tận phòng cho hắn dùng.

Càng nói, không khí lại càng ngập tràn mật ngọt.

Tạ Cầm có chút không chịu nổi, lắc đầu cười nói: “Ngươi đừng nói nữa, kẻo ta nghe xong, sau này gả đi rồi trong lòng lại sinh cảm giác không cân bằng đấy.”

Mọi người cười ha ha rộn rã, lúc này mới khéo léo chuyển sang đề tài khác, cùng nhau thưởng thức những món điểm tâm, hoa quả do gã sai vặt vừa bưng lên.

Sau đó, Tạ Lăng lại nhân cơ hội này thỉnh giáo Bạch Thuật rất nhiều chuyện liên quan đến việc quản lý trang viên ở Nam Dương, Bạch Thuật cũng kiên nhẫn giải đáp từng chút một. Cậu nhận thấy những câu hỏi lần này của Tạ Lăng đã sâu sắc hơn trước rất nhiều, có thể thấy hắn cũng đã bắt đầu nắm được một số quy tắc quản lý sản nghiệp.

Một tháng sau, khí hậu trong kinh thành vẫn còn khá lạnh giá, Tạ Lăng và Ngụy Quỳnh hai người bấy giờ phải lên đường đi nhậm chức.

Chuyến đi Nam Sa lần này, Bạch Thuật đã nhờ vả các mối quan hệ của Vạn gia, thu xếp cho hai người bọn họ đi cùng thương đội của họ. Làm vậy một mặt là để đảm bảo an toàn suốt dọc đường đi, mặt khác cũng là để họ tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với Vạn gia, giúp Tạ Lăng ngày sau dễ bề xoay xở công việc ở nơi đất khách quê người.

Ngày khởi hành, cả Ngụy gia lẫn Tạ gia đều đến bến sông để tiễn đưa.

Ngụy Khương thị lại không kìm được nước mắt, khóc sướt mướt vì lưu luyến không nỡ rời xa nhi tử.

Mọi người đứng trên bờ dõi mắt trông theo hai người bước lên thuyền giao thương, đợi cho đến khi đoàn thuyền khuất dạng sau khúc quanh sông mới lục đục quay trở về.

Khi trở lại Tạ phủ, Tạ Hòe Ngọc không khỏi dâng lên niềm cảm khái, hắn nắm lấy bàn tay mềm mại của Bạch Thuật, khẽ thở dài: “Tạ Lăng vừa đi, Tạ gia lại vắng bóng một người, tự dưng cảm thấy trong nhà trống trải hẳn đi. Cũng may qua hai tháng nữa là nhà ta đón thêm thành viên mới rồi, đến lúc đó không khí gia đình chắc chắn sẽ náo nhiệt, ấm cúng hơn nhiều.”

Bạch Thuật gật đầu đồng ý. Cậu hiện tại tuy đã cận kề ngày lâm bồn, nhưng vòng bụng trông qua dường như chỉ lớn bằng người mang thai năm tháng mà thôi.

Tạ Hòe Ngọc trong lòng vô cùng lo lắng, thậm chí còn chu đáo mời đại phu đến tận nhà thăm khám.

Tuy nhiên đại phu lại giải thích rằng đó là do vóc dáng Bạch Thuật vốn cao ráo, khung xương lại to hơn người bình thường, thế nên vòng bụng mới có phần nhỏ nhắn hơn so với các nữ tử hay ca nhi khác, cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh, không có bất kỳ dấu hiệu bất thường nào.

Tạ Hòe Ngọc bấy giờ mới thực sự trút được gánh nặng trong lòng.

Thời gian này Tạ Hòe Ngọc cũng sắp sửa bước vào kỳ thi mùa xuân, việc học hành thi cử vì thế mà trở nên vô cùng bận rộn, căng thẳng.

Bạch Thuật thấy hắn vất vả đêm ngày, còn thành tâm lặn lội đến đạo quan ngoại thành để cầu phúc cho hắn, xin một chiếc bùa bình an đeo lên người Tạ Hòe Ngọc.

Còn về phần trang viên Bạch Ngọc ở ngoại ô kinh thành, tuy công đạo sửa sang đã hoàn tất từ lâu, nhưng vì Bạch Thuật sắp đến ngày sinh nở, thực sự không còn tâm trí đâu mà quản lý, nên cậu quyết định gác lại mọi chuyện, đợi sau khi sinh con xong xuôi mới bắt tay vào việc kinh doanh.

Trong khi Tạ gia đang trong cảnh yên bình, phát triển rực rỡ thì Triệu Diễn và Tề gia lại đang phải trải qua những ngày tháng chẳng mấy dễ chịu.

Thời điểm Hoàng đế còn dành sự thiên vị cho Triệu Diễn, hắn cùng với Tề gia đương nhiên được hưởng vinh quang tột đỉnh, không ai sánh bằng.

Thế nhưng kể từ sau ngày đại hôn của hắn, Hoàng đế ngoài mặt lại có những động thái nâng đỡ Triệu Lương lộ liễu, khiến cho số lượng quần thần nghiêng về phía Triệu Lương ngày một đông đảo.

Tất nhiên, nhờ vào việc nắm giữ nhiều sản nghiệp béo bở của Tề gia, không ít triều thần trước nay đã nhận được rất nhiều lợi lộc từ họ, thế nên lúc này họ vẫn chưa muốn hoàn toàn trở mặt với Tề gia.

Chỉ là đám quan lại này vốn là lũ tham lam ích kỷ, bọn họ vừa muốn nhận tiền tài từ Tề gia, lại vừa nơm nớp lo sợ nếu sau này Triệu Lương lên ngôi vị hoàng đế sẽ quay lại tính sổ với mình. Bởi vậy ngoài mặt, bọn họ vẫn cố gắng giữ mối quan hệ giao hảo tốt đẹp với Triệu Lương.

Cứ như vậy, để lôi kéo và cứu vãn lòng người, Triệu Diễn không còn cách nào khác ngoài việc liên tục thúc ép Tề gia xuất thêm tiền bạc để đi mua chuộc đám triều thần kia.

Nguồn thu của Tề gia thời gian qua vốn dĩ không tăng lên, nay lại phải liên tục xuất tiền như nước chảy cho Triệu Diễn, trong lòng gia tộc họ đương nhiên sinh ra sự bất mãn, không mấy vui vẻ.

Về sau, Triệu Diễn cảm thấy phiền phức nên đã đẩy việc này cho Tề Thanh Uyển đứng ra dàn xếp.

Tề Thanh Uyển gắng gượng đi đi về về một hai lần, đến những lần sau ả dứt khoát từ chối không muốn can thiệp nữa, cũng vì chuyện này mà nàng và Triệu Diễn đã xảy ra những trận cãi vã nảy lửa, không ai nhường ai.

Triệu Diễn tuy thân là hoàng tử cao quý, nhưng vì có việc phải cầu cạnh Tề gia nên khi vấp phải thái độ cứng rắn của Tề Thanh Uyển, hắn cũng đành ngậm bồ hòn làm ngọt, không thể tùy tiện phát tác cơn thịnh nộ lên người nàng.

Có điều, trong lòng hắn đối với Tề Thanh Uyển lại càng thêm phần chán ghét, xa lánh. Dần dần, hắn không còn muốn đặt chân đến viện của ả để nghỉ ngơi nữa, mà lại quay về thói quen phóng túng như ngày chưa thành thân, thường xuyên lui tới chốn lầu xanh để uống rượu hoa giải sầu.

Tề Thanh Uyển vốn là nữ tử có lòng đố kỵ vô cùng mạnh mẽ, mỗi lần phát hiện ra chuyện phu quân lập lờ bên ngoài, nàng nhất định sẽ làm ầm ĩ lên, khiến trong phủ gà bay chó sủa.

Hệ quả là mối quan hệ giữa hai người bọn họ hiện giờ chẳng khác nào kẻ thù không đội trời chung, mỗi khi chạm mặt ngay cả một lời tử tế cũng chẳng buồn nói với nhau.

Tề Thanh Uyển gả vào hoàng thất tính đến nay đã được nửa năm trời, vậy mà bụng vẫn im lìm, không hề có chút động tĩnh nào.

Nếu cứ tiếp tục thế này thêm nửa năm nữa mà ả vẫn chưa thể hoài thai sinh hạ đích tử, các thiếp thị của Triệu Diễn theo quy củ sẽ được rước vào phủ.

Đến lúc đó, tình cảm giữa Tề Thanh Uyển và Triệu Diễn vốn đã rạn nứt nghiêm trọng, ả chắc chắn sẽ càng khó có được con nối dõi. Những thứ thiếp mới vào phủ kia biết đâu lại nhân cơ hội này mà trèo lên đầu lên cổ ả mà ngồi.

Một ngày nọ, Tề Thanh Uyển nhận được lời gọi của mẫu thân bảo ả trở về phủ một chuyến. Vừa bước chân vào cửa, ả đã sững sờ khi nhìn thấy các vị trưởng tộc lớn nhỏ của Tề gia đều đang tề tựu đông đủ tại đại sảnh.

Tề Thanh Uyển kinh ngạc, khép nép ngồi xuống bên cạnh mẫu thân. Ả bỗng nghe vị tộc trưởng đáng kính của gia tộc lên tiếng: “Hôm nay gọi ngươi về đây là có một chuyện quan trọng cần bàn bạc với ngươi. Hiện tại hai người thành thân đã được nửa năm, cũng đến lúc nên thu xếp nạp thiếp thị cho hắn rồi.”

“Vị thiếp thị này nếu chọn người của gia tộc khác, vạn nhất ả ta lại sinh hạ trưởng tử trước ngươi thì việc này hoàn toàn không có lợi cho ngươi. Chi bằng chúng ta cứ chọn lấy một người ngay trong tộc Tề gia này. Đều là người một nhà cùng dòng máu, như vậy cũng không làm ảnh hưởng đến địa vị vững chắc của Tề gia ta.”

Tề Thanh Uyển không ngờ ngày hôm nay trở về nhà lại phải nghe thấy cái tin sét đánh ngang tai như vậy, ả lập tức không kìm được uất ức định lên tiếng phản bác. Thế nhưng ả chưa kịp mở lời đã bị mẫu thân ngồi bên cạnh giữ chặt lấy tay, khéo léo đỡ lời: “Việc nạp thiếp thị này đương nhiên là phải tuyển chọn kỹ lưỡng, có điều về nhân tuyển, ta nghĩ tốt nhất nên chọn người từ chính trong phòng của chúng ta xuất ra thì hơn.”

Nói đoạn, bà ta đưa tay chỉ về phía đệ đệ của Tề Thanh Uyển, tiếp lời: “Ca nhi nhà ta năm nay vừa vặn mười bảy tuổi, cùng Thanh Uyển một mẹ sinh ra, tình cảm hai chị em trước giờ lại vô cùng hòa thuận. Thằng bé này cầm kỳ thi họa thứ gì cũng tinh thông, quả thực là một nhân tuyển không thể thích hợp hơn.”

Tề Thanh Uyển nghe xong mà như bị sét đánh ngang tai, nàng hoàn toàn đứng hình, không thể ngờ nổi chính mẫu thân ruột thịt của mình lại nhẫn tâm muốn dâng đệ đệ ruột của ả cho phu quân để làm thiếp.

Thế nhưng cho dù ả có muốn kịch liệt phản đối đi chăng nữa, đám người trong tộc vốn dĩ chẳng hề mảy may bận tâm đến ý kiến hay cảm xúc của ả. Sau một hồi bàn bạc, thương thảo nhanh chóng, bọn họ đã dứt khoát chốt xong xuôi đại sự này.

Nửa tháng sau, Triệu Diễn lại rước thêm một phòng tân nhân vào phủ. Người này cũng là con em xuất thân từ Tề gia, không ai khác chính là đệ đệ ruột của Tề Thanh Uyển.

Vị tề ca nhi này tính tình quả thực dịu dàng, ngoan ngoãn hơn Tề Thanh Uyển rất nhiều, bởi vậy rất được lòng Triệu Diễn, mối quan hệ căng thẳng giữa Triệu Diễn và Tề gia nhờ vậy mà cũng được xoa dịu, cứu vãn phần nào.

Tề tam phu nhân có cả hai người con đều gả vào hoàng gia, địa vị nhờ đó mà tăng tiến, bà ta đương nhiên lại tiếp tục thói vênh váo tự đắc, coi trời bằng vung như trước.

Trong khi đó, Tề Thanh Uyển lại ngày một tiều tụy, hốc hác đi trông thấy, dung mạo chẳng còn giữ được vẻ mỹ diễm, kiêu sa như thuở nào.

Chỉ hơn một tháng sau, từ trong phủ của Triệu Diễn đã truyền ra tin vui, nói rằng vị Tề ca nhi mới gả vào kia đã may mắn mang thai.

Triệu Diễn mừng rỡ khôn xiết, lập tức cho mở tiệc ăn mừng linh đình suốt ba ngày đêm, ngay cả Hoàng đế sau khi hay tin cũng đích thân ban thưởng rất nhiều vật phẩm quý giá xuống phủ.

Chuyện vốn dĩ là một đại hỷ sự của hoàng gia, thế nhưng vào ngày thứ ba của bữa tiệc, một biến cố kinh hoàng đã xảy ra.

Sáng sớm hôm ấy, các nha hoàn hầu hạ trong viện khi đẩy cửa bước vào đã kinh hãi phát hiện Tề Thanh Uyển đã treo cổ tự vẫn trên xà nhà tự bao giờ.

Gia đình Triệu Diễn còn chưa kịp đón chào thành viên mới thì đích thê chính thất đã thắt cổ chết một cách nhục nhã, khiến khắp kinh thành được một phen xôn xao, bàn tán ra vào không ngớt.

Tề Thanh Uyển gả qua đó tính ra mới được vẻn vẹn nửa năm trời, vậy mà lại hành động nông nổi, gây ra chuyện làm tổn hại nghiêm trọng đến thể diện và uy nghiêm của hoàng gia đến thế.

Hoàng đế sau khi biết chuyện thì nổi trận lôi đình, đập bàn quát tháo, trách phạt Tề hậu một trận lôi đình, mắng bà ta mù mắt mới chọn cho Triệu Diễn một vị thê tử bất tài, vô dụng như vậy, làm bôi tro trát trấu vào mặt hoàng tộc Triệu gia.

Sẵn dịp này, Ngài cũng không ngần ngại hạ chiếu khiển trách Tề công nghiêm khắc, chỉ trích ông ta nuôi dạy con cái vô phương, gia phong bại hoại, đức hạnh có vết nhơ lớn.

Ngay lúc đó, vài vị ngự sử của Ngự Sử Đài liên danh bước lên, dâng sớ luận tội Tề gia. Trong tấu chương liệt kê rõ ràng các tội trạng của Tề gia như lạm dụng quyền lực thao túng ngành muối để trục lợi bất chính, trốn lậu thuế cùng nhiều tội danh nghiêm trọng khác.

Hoàng đế lập tức hạ chỉ tước bỏ quan chức của Tề công, đuổi về quê nhà, đồng thời thu hồi lại toàn bộ quyền giám sát ngành muối của Tề gia. Động tác của Ngài vô cùng nhanh chóng và dứt khoát, khiến cho Tề gia hoàn toàn trở tay không kịp.

Triệu Diễn còn chưa kịp hoàn hồn trước biến cố của nhạc gia thì đã nhận được chỉ dụ bị cấm túc ngay tại phủ, toàn bộ binh quyền quân vụ đang nắm giữ trên tay cũng bị tạm thời bãi miễn.

Sự việc phát triển đến nước này, mọi người trong triều ai nấy đều thầm định bụng rằng Triệu Diễn và Tề gia phen này coi như đã tận số, vinh quang lụi tàn. Giang sơn này từ nay về sau chắc chắn sẽ là thiên hạ của Nhị hoàng tử Triệu Lương.

Thế nhưng, sau khi sự việc này xảy ra chưa được vài ngày, ngay trước thềm kỳ thi mùa xuân đúng một tuần lễ, Hoàng đế bỗng nhiên lâm bạo bệnh.

Trận bệnh này không chỉ ập đến một cách vô cùng đột ngột mà tình trạng còn diễn biến hết sức trầm trọng. Hoàng đế liên tiếp nhiều ngày liền không thể thiết triều quản lý chính sự, chỉ thỉnh thoảng triệu vài vị đại thần thân tín vào tẩm cung để bàn bạc mật nghị.

Trong lúc Hoàng đế lâm bệnh nặng, Triệu Diễn vốn đang chịu cảnh nhàn rỗi, cấm túc tại phủ đương nhiên đã mượn cớ vào cung để tận hiếu, túc trực bên long sàng để đích thân hầu hạ thuốc thang.

Để lấy lòng phụ hoàng, hắn chăm sóc vô cùng chu đáo, tận tâm. Hoàng đế vì vậy mà rất đỗi vui mừng, thái độ đối với Triệu Diễn cũng trở nên ôn hòa, dịu giọng hơn nhiều, trong cung lại hiện lên viễn cảnh phụ từ tử hiếu ấm áp. Điều này khiến cho những vị đại thần vốn đã có ý định nghiêng về phía Triệu Lương lại bắt đầu lung lay ý chí, do dự không quyết.

Thời điểm Hoàng đế trở bệnh nặng, Triệu Lương lại vừa vặn bị phái đi làm công vụ ở bên ngoài.

Khi y vội vã hoàn thành công việc trở về kinh thành thì đã muộn mất ba ngày. Nhận được tin tức, y lập tức muốn tiến cung để thỉnh an phụ hoàng nhưng lại bị đám nội quan trong cung cản lại ở cửa cung. Bọn họ truyền lời rằng Hoàng đế hiện tại long thể phi thường suy nhược, rất sợ tiếng ồn ào náo động, thế nên không cần quá nhiều người vào quấy rầy sự thanh tĩnh của Ngài.

Triệu Lương trong lòng dâng lên một nỗi bất an, cảm thấy sự việc này có điều gì đó vô cùng khuất tất, kỳ lạ. Thế nhưng tình cảnh hiện tại y chỉ có thể tuân theo thánh mệnh, tuyệt đối không thể liều lĩnh dẫn quân cưỡng ép xông vào hoàng cung.

Sau khi cùng Tạ Hòe Ngọc và Kỳ Cầm Nguyệt bàn bạc kỹ lưỡng phương sách, Triệu Lương trầm ngâm nói: “Hiện tại ta không thể tận mắt nhìn thấy phụ hoàng, cũng chẳng rõ tình hình thực sự của Ngài ra sao. Chỉ nghe thám tử nội tuyến trong cung truyền tin ra bảo rằng bệ hạ hiện tại thần trí vẫn tỉnh táo, có điều tinh thần sa sút rất nhiều, dặn ta không cần phải quá mức lo lắng.”

Tạ Hòe Ngọc suy nghĩ một lát rồi lên tiếng: “Chắc chắn là như vậy rồi, Hoàng đế đâu phải hạng người ngu muội, hồ đồ. Chuyện thanh trừng Tề gia hệ trọng như thế, chắc chắn Tề gia phải có quân bài tẩy phòng thân, và bệ hạ đương nhiên cũng đã có sự đề phòng từ trước. Tuy nhiên ngươi cũng không được phép lơ là, mất cảnh giác, nếu có chỗ nào cần đến tiền bạc, lương thảo cứ việc tìm ta giúp đỡ.”

“Chuyện đó là đương nhiên rồi.” Triệu Lương gật đầu đáp: “Thụy Thạch huynh, ngày sau ngươi phải bước vào trường thi mùa xuân rồi, chuyện của ta ngươi không cần quá bận tâm đâu, nhớ tập trung tinh thần để phát huy thật tốt.”

Tạ Hòe Ngọc nghe vậy liền mỉm cười tự tin: “Trọng Lễ huynh, Thụy Thạch ta nhất định không làm phụ lòng mong mỏi của ngươi, ngươi cứ yên tâm.”

------

Tác giả có lời muốn nói:

Tuyến truyện của Tạ Lăng và Ngụy Quỳnh đến đây là kết thúc rồi nhé ~ Câu chuyện đang dần đi đến hồi kết, chắc khoảng một tuần nữa là truyện sẽ chính thức khép lại thôi ~

Vốn dĩ ta định cuối tháng này sẽ mở hố truyện mới, nhưng vì vướng bận chuyện chuyển nhà nên đành phải lùi lịch sang đầu tháng sau nha.

Khoảng thời gian cuối tháng này ta sẽ tranh thủ viết thêm vài chương ngoại truyện cho mọi người đọc giải trí nhé ~ Ai muốn xem ngoại truyện về đề tài gì thì cứ thoải mái để lại bình luận cho ta biết nha, ví dụ như chuyện về bánh bao nhỏ nè, chuyện ở thôn Bạch Đường nè, cuộc sống của Ngụy Quỳnh và Tạ Lăng ở Nam Sa, hay thậm chí là câu chuyện của Bạch Thuật ở không gian song song Trùng Tinh đều được hết á. Ta sẽ xem xét và chọn ra vài đề tài hay ho để viết nha.