Lý Phong Mịch là người có cá tính mạnh mẽ và tràn đầy năng lượng. Sau khi đồng ý hợp tác, cô dồn hết tâm trí vào việc kinh doanh.
Vì nhà bà Dư không muốn có thêm người thuê mới, Hạ Tiểu Lan phải tìm chỗ ở cho gia đình ba người nhà cậu. Cô nhờ vợ Hồ Vĩnh Tài giúp đỡ.
"Đừng ở quá xa, nhà riêng hay chung cư đều được ạ."
Vợ Hồ Vĩnh Tài xúc động hỏi: "Cả nhà đều chuyển lên thành phố sống sao?"
Hạ Tiểu Lan khiêm tốn gật đầu: "Ở quê vất vả quá, lên Thương Đô kiếm sống dễ hơn."
Họ chỉ dám mạo hiểm khi đã có một khoản tiết kiệm nhất định. Lưu Vĩnh và Hạ Tiểu Lan đều có tiền trong tay, nếu không ai dám bỏ quê hương mà đi? Cuộc sống thành thị cái gì cũng phải mua, từ củi gạo dầu muối, không thể ngồi không tiêu tiền mãi được. Điều này buộc họ phải làm việc cật lực.
Thuật ngữ "lao động nhập cư" thời đó chưa phổ biến. Rất ít người đi làm ăn xa ở phía Nam. Hầu hết những người tự doanh ở Thương Đô vẫn là người thành phố. Hạ Tiểu Lan và Lưu Vĩnh nằm trong số những nông dân đầu tiên lên thành phố lập nghiệp vào những năm 1980.
Vợ Hồ Vĩnh Tài rất ngưỡng mộ lòng can đảm của họ. Thời nay, hiếm có nông dân nào dám bỏ ruộng đất lên phố. Các hộ cá thể có thể kiếm được nhiều tiền, nhưng chưa thấy công nhân nào bỏ việc để đi bán hàng rong cả. Tự kinh doanh bị coi là thấp kém, lại bấp bênh "nắng không có khách, mưa chẳng có tiền". Ngược lại, công nhân có thu nhập ổn định, phúc lợi tuyệt vời từ nhà ở đến trường học cho con cái. Nhưng sau này, khi các đợt sa thải quy mô lớn xảy ra, những người quá dựa dẫm vào hệ thống sẽ phải bắt đầu lại từ đầu ở tuổi 30, đau đớn hơn nhiều so với những người chủ động như Lưu Vĩnh.
Dĩ nhiên, vợ Hồ Vĩnh Tài chưa nhìn xa được đến thế. Cô chỉ khen ngợi khách sáo chứ chẳng bao giờ bảo chồng bỏ việc ổn định để đi buôn.
Căn hộ cuối cùng mà Lưu Vĩnh xem nằm trong khu tập thể của Cục Đường sắt Thương Đô, không quá xa nhà bà Dư. Đó là một dãy phòng trong tòa nhà chung cư. Thời đó nhà ở rất thiếu thốn, ai có nhà cho thuê chắc chắn phải có quen biết rộng. Hạ Tiểu Lan đi xem nhà: phòng tắm dùng chung cả tầng, có bếp riêng, một phòng ngủ lớn và một phòng khách nhỏ. Đây là kiểu bố cục "một phòng rưỡi" tiêu chuẩn của những năm 80: phòng khách nhỏ chủ yếu để ăn cơm, còn phòng ngủ thì rất rộng, khác hẳn với các căn hộ thương mại sau này.
Giá thuê nhà chỉ có 15 nhân dân tệ một tháng. Chủ nhà vốn tính lười, không muốn tháng nào cũng phải sang thu tiền nên hy vọng người thuê có thể trả luôn một cục cả năm.
Hạ Tiểu Lan vốn muốn tìm căn nào có hai phòng, nhưng hiện tại chỉ còn duy nhất căn trống này, e là gia đình ba người nhà cậu sẽ hơi chật chội. Tuy nhiên, Lý Phong Mịch lại rất hài lòng: "Lo gì, một chiếc giường nhỏ kê ở phòng khách là xong ngay!"
Vợ Hồ Vĩnh Tài cũng tiếp lời: "Nhà ở tập thể thì ai chẳng chen chúc như thế. Ở đây là rộng chán rồi, chứ như trên Bắc Kinh, Thượng Hải, cả nhà mấy thế hệ già trẻ gái trai còn phải ngủ chung một giường kia kìa."
Thời này tìm được nhà là cực khó. Chỉ có những đơn vị lớn như Cục Đường sắt mới có phòng trống cho thuê vì thanh niên đã có ký túc xá. Nếu không nhanh tay đặt cọc, dù giá 15 tệ không phải là rẻ, nhưng vẫn luôn có những gia đình khác đang chực chờ thuê ngay.
Việc chuyển trường cho bé Đào Đào cũng diễn ra thuận lợi nhờ mấy cây thuốc lá "Bướm Màu" mà Chu Thành để lại. Loại thuốc này làm quà biếu thì "hết ý". Qua sự môi giới của Hồ Vĩnh Tài, Lưu Vĩnh đưa vài cây thuốc đi ngoại giao, mời thêm một bữa cơm ở nhà hàng quốc doanh, vậy là thủ tục vào trường tiểu học gần đó đã xong xuôi. Hộ khẩu nông thôn thì đã sao? Người nông thôn bộ không được có tiền chắc?
Tại làng Thất Kình, Lý Phong Mịch quyết định thịt luôn hai con lợn đang nuôi, thuê thợ về làm tại nhà. Chuyện này khiến dân làng xôn xao bàn tán: "Chưa đến Tết mà nhà Vĩnh Tử đã thịt lợn rồi à?" "Hai con lợn này được chăm kỹ, béo tốt lắm, con nào cũng phải hơn 90kg ấy chứ!" "Tiếc nhỉ, nuôi thêm hai tháng nữa thì lên được cả tạ!"
Ở quê, lợn nặng cả tạ không phải dễ thấy vì không có thức ăn công nghiệp. Chỉ có lợn béo cỡ đó mới có lớp mỡ dày ba ngón tay—niềm tự hào của bất kỳ bà nội trợ đảm đang nào khi mua được miếng thịt như vậy.
Dưới sự giúp đỡ của vài người hàng xóm, con lợn bị trói chặt và đưa lên ghế dài. Người đồ tể lành nghề vung dao, dòng máu nóng hổi phun vào chậu nước muối, từ từ đông lại thành tiết. Tiết lợn tươi là món khoái khẩu: miền Bắc hầm cải chua, Tứ Xuyên làm Mao Huyết Uông, còn ở An Khánh thì đơn giản là xào với hành lá.
Sau khi làm sạch lông, con lợn nhà họ Lưu nặng đúng 100kg. Nhìn tảng thịt đỏ tươi và lớp mỡ trắng phau, ai nấy đều thèm thuồng hỏi: "Nhà Vĩnh Tử có bán thịt không đấy?"
Cùng làng cùng xóm, Lưu Vĩnh không nỡ bán đắt. Anh để lại vài cân cho mọi người giải cơn thèm thịt, phần còn lại thì bán lấy tiền. Lý Phong Mịch tính toán kỹ, chỉ giữ lại một ít để gia đình mang theo, còn lại bán hết để tối đa hóa số vốn từ hai con lợn béo mà họ đã dày công chăm sóc.
Đến lúc này, dân làng mới hay tin gia đình Lưu Vĩnh sắp chuyển lên thành phố. "Tất cả là vì chuyện học hành của thằng bé thôi!" – Lưu Vĩnh giải thích vậy, nhưng dân làng vẫn bán tín bán nghi. Họ giàu rồi sao? Đến ruộng đất cũng không thèm cày cấy mà giao lại cho nhà khác canh tác. Lưu Vĩnh chưa hẳn là giàu, nhưng anh biết nếu không rời khỏi cái nơi lạc hậu này thì chẳng bao giờ khấm khá lên được.
Ngày gia đình Lưu Vĩnh tay xách nách mang hành lý và thịt lợn lên đường đến Thương Đô, con dâu cả của Trần Vương Đả nhìn theo mà lòng đầy ghen tị: "Nhà họ Lưu này càng lúc càng kiêu ngạo!"
Chị ta vốn nghĩ nhà họ Lưu thuê nhà trên thành phố thì dễ, nhưng mua được nhà mới khó. Sang năm nộp thuế lương thực và các khoản phí khác, để xem họ lấy đâu ra tiền. Chị ta còn cằn nhằn với ông Trần việc chia đất cho Lưu Phấn và Tiểu Lan khi họ đã bỏ phố. Ông Trần gạt đi: "Sao chị lắm chuyện thế? Thích thì bảo chồng chị thay tôi làm trưởng thôn đi!"
Chị dâu Trần ấm ức. Chị nghi ngờ Hạ Tiểu Lan đã cặp kè với đại gia nào đó nên mới phất nhanh như vậy, kéo theo cả nhà chú cậu được nhờ. Chị định dỗ dành bé Đào Đào để hỏi xem chị nó làm gì ở Quảng Châu, nhưng thằng bé cứ ngây ngô ăn kẹo rồi bảo không biết gì. "Khốn kiếp, cái nhà này giả vờ ngốc là truyền thống rồi!" – chị ta lầm bầm.
Trước đây, chị ta đối tốt với mẹ con Tiểu Lan vì thấy họ đáng thương, bản thân ở vị thế cao hơn nên muốn ban phát chút lòng tốt. Giờ thấy Tiểu Lan bất ngờ vượt trội, sự cân bằng tâm lý của chị ta hoàn toàn sụp đổ.
Trong khi Lưu Vĩnh tiến vào thành phố, thì tại Bắc Kinh, Chu Thành cũng đã hoàn thành việc bàn giao hàng hóa cho Khang Vĩ. Anh gửi một bức điện tín cho Hạ Tiểu Lan trước khi nhận lệnh triệu tập về đơn vị.
"Ồ, cuối cùng thì Thiếu tá Chu của chúng ta cũng chịu ló mặt về rồi đấy à."