Trọng Sinh Thập Niên 80: Vợ Tôi Có Chút "Nóng Tính"

Chương 59: Chuyện rắc rối nộp thuế lương thực

Hạ Tiểu Lan chẳng hề hay biết rằng mình lại vừa thoát được một bàn thua trông thấy trước sự quấy rối của nhà họ Hạ.

Nếu Hạ Đại Quân thực sự vác mặt đến xin ăn, chắc chắn hắn chẳng sơ múi được gì, nhưng dù sao tránh được rắc rối vẫn là tốt nhất. Thời gian của Hạ Tiểu Lan bây giờ quý như vàng, cô không rảnh để lãng phí vào những kẻ chẳng liên quan.

Cũng may, mỗi thành viên nhà họ Hạ đều có một bàn tính riêng, không ai đồng lòng với ai nên họ cũng chẳng thể thường xuyên kéo đến quấy rầy cuộc sống của cô.

Thông báo thu mua lương thực đã được gửi đến từng nhà. Hạ Tiểu Lan cùng mợ Lý Phượng Mai phải mang lúa đến trạm thu mua của xã để nộp "lương thực công". Đây là một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ với Hạ Tiểu Lan, điều mà kiếp trước cô chưa từng nếm trải.

Lúa nộp cho nhà nước phải được phơi khô đến độ giòn nhất, tuyệt đối không được lẫn cát đá hay tạp chất. Chỉ khi từng hạt lúa đều căng tròn, vàng óng, không có một hạt lép nào thì mới vượt qua được vòng kiểm định khắt khe của cán bộ trạm.

Mỗi năm có vài đợt nộp lương thực như thế. Sau vụ lúa mùa thì nộp lúa, trước đó còn có lúa mì và hạt cải dầu. Một phần sản lượng làm ra phải nộp không công cho nhà nước để thay thế thuế nông nghiệp. Tuy nhiên, "lương thực công" đôi khi vẫn không đủ bù thuế, phần thiếu hụt nông dân phải tự bỏ tiền túi ra đóng. Trước đây, đội sản xuất sẽ đứng ra nộp chung, nhưng từ khi thực hiện khoán sản phẩm đến từng hộ, nhà nào nhà nấy phải tự lo phần của mình.

"Bây giờ không gọi là thuế nữa, mà gọi là phí trích nộp."

Lưu Phân bận đi bắt lươn, nên Hạ Tiểu Lan giúp mợ đóng bao. Số lúa này đã được phơi phóng và sàng sảy kỹ lưỡng, sạch đến mức không tìm ra nổi một hạt thóc lép. Nghe mợ nhắc đến "phí trích nộp", Hạ Tiểu Lan không khỏi ngơ ngác.

Vùng nông thôn những năm 80 có quá nhiều khái niệm mà cô chưa kịp hiểu. Cô không biết làm ruộng, cũng chẳng rõ cuộc sống bần nông thời kỳ này gian nan đến mức nào. Không chỉ là công việc đồng áng bán mặt cho đất bán lưng cho trời, mà ngay cả khoản thuế lương thực tưởng chừng nhỏ bé cũng là một gánh nặng ngàn cân trên vai người nông dân. Công nghệ lúa lai tuy đã có bước đột phá từ những năm 70, nhưng ở vùng phía nam tỉnh Hà Nam này, việc trồng đại trà vẫn chưa phổ biến.

Nông dân huyện An Khánh vẫn chủ yếu canh tác theo phương pháp truyền thống. Lúa lai có thể cho năng suất cả tấn mỗi mẫu, trong khi giống lúa cũ tốt nhất cũng chỉ đạt bảy tám trăm cân. Sau khi xay xát, 100 cân lúa chỉ thu được chưa đầy 70 cân gạo. Một gia đình ba miệng ăn có tầm 5 mẫu ruộng, nhưng không phải chỗ nào cũng trồng được lúa, phần lớn là đất đồi dốc, bạc màu, năng suất thấp lẹt tẹt. Hạn ngạch nộp cho nhà nước thì không được bồi thường, phần dư thừa bán lại cho chính phủ với giá rẻ mạt. Nếu không bán lúa, nông dân lấy đâu ra tiền? Mà tiền bán lúa cũng chẳng giữ được trong túi lâu — nó lại quay vòng vào tiền thuốc trừ sâu, hạt giống, phân bón và các loại "phí trích nộp" mà mợ Lý Phượng Mai vừa nhắc tới.

Cái gọi là "phí trích nộp thống nhất" thực chất bao gồm ba khoản trích lại cho thôn và năm khoản nộp chung cho xã. Năm khoản nộp cho xã gồm: phụ phí giáo dục, phí kế hoạch hóa gia đình, phí huấn luyện dân quân, phí ưu đãi dân sự và phí vận tải. Ba khoản thôn giữ lại là: quỹ tích lũy công, quỹ phúc lợi và phí quản lý (dùng để trả lương cho cán bộ thôn).

Lý Phượng Mai chắc chắn chẳng hiểu rạch ròi những con số đó; chính quyền bảo nộp bao nhiêu thì dân tình răm rắp nộp bấy nhiêu. Hạ Tiểu Lan lại càng mù mờ hơn. Những ngày đầu sau khi trọng sinh, cô chỉ lo bị đói, nhưng rồi việc buôn bán suôn sẻ nên cô chưa thực sự nếm trải cái nghèo kiệt quệ của nông thôn.

Vài bao lúa vàng óng, sạch bong đã được đóng gói kỹ càng. Hạ Tiểu Lan nhất quyết không chịu ở nhà học bài. Mấy ngày nay, mẹ và mợ cứ muốn nhốt cô trong nhà, nhưng cô là hạng người không chịu ngồi yên, thế là cô đòi theo mợ lên trấn giao lúa bằng được. Lý Phượng Mai cũng sợ cháu gái ở nhà buồn chân buồn tay nên gật đầu đồng ý.

Lúc này mới thấy chiếc xe đạp thồ quý giá đến mức nào; một chiếc xe đạp 28 inch có thể thồ được vài trăm cân lúa. Nhà nào không có xe thì phải dùng xe đẩy tay, kéo đến trạm lúa thì cũng bã cả người. Trên đường đi, họ bắt gặp đội giao lúa của làng do Trần Vương Đa dẫn đầu. Mẹ của Trần Thanh vừa thấy hai người liền gọi lớn:

"Đi cùng nhau đi cho có bạn có phường!"

Lý Phượng Mai mừng rỡ, đon đả chào chị dâu họ Trần. Hạ Tiểu Lan cũng ngoan ngoãn chào dì. Cô khá có cảm tình với dân làng Thanh Tĩnh. Tuy họ cũng hay hóng hớt, bàn tán chuyện thiên hạ, nhưng bản chất không hề độc ác. Cùng là làng ở huyện An Khánh, nhưng bầu không khí ở Thanh Tĩnh và Đại Hà khác nhau một trời một vực... Hạ Tiểu Lan thầm nghĩ, có lẽ điều này có công lớn của vị trưởng làng Trần Vương Đa.

Mẹ Trần Thanh tỏ ra rất quan tâm đến Hạ Tiểu Lan, liên tục hỏi han chuyện học hành. Biết Tiểu Lan đạt điểm tuyệt đối môn Tiếng Anh trong cả hai lần thi — môn học vốn là nỗi ác mộng của Trần Thanh — cô liền nhớ đến ơn giúp đỡ của ông Trần nên chủ động đề nghị:

"Nếu dì không chê, kỳ nghỉ hè này cháu sẽ kèm tiếng Anh cho anh Trần Thanh ạ."

Môn Tiếng Anh thi đại học thời bấy giờ thực ra không quá khó, chỉ cần nắm vững tầm 3.000 từ vựng là đủ. Thế nhưng với các thí sinh năm 1983, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, 3.000 từ đó chẳng khác nào một ngọn núi cao không thể vượt qua. Họ không có nền tảng, không có môi trường, giáo viên thì dạy theo kiểu mò mẫm. Ngay cả Trần Vương Đa có quan hệ rộng trên huyện cũng chẳng tìm đâu ra một giáo sư ngoại ngữ cho cháu đích tôn.

Không ai biết Hạ Tiểu Lan học tiếng Anh kiểu gì, nhưng hai lần điểm tuyệt đối là bằng chứng thép. Mẹ Trần Thanh mừng như bắt được vàng, cứ quấn quýt lấy Tiểu Lan không rời. Trần Thanh vốn học không tệ, nếu gỡ được "điểm chết" tiếng Anh thì cửa vào đại học coi như đã mở rộng.

"Tiểu Lan, lát đến trạm lúa, con cứ xếp hàng ngay sau dì nhé."

Hạ Tiểu Lan chưa hiểu ý của mẹ Trần Thanh, nhưng thấy mợ Lý Phượng Mai cứ mỉm cười đầy ẩn ý. Chỉ là xếp hàng thôi mà, có gì quan trọng đâu?

Mãi cho đến khi đứng trước cổng trạm lương thực, nhìn dòng người rồng rắn và những gương mặt khó đăm đăm của cán bộ thu mua, Hạ Tiểu Lan mới nhận ra cái "đặc quyền" của việc được người nhà trưởng làng Trần che chở nó có giá trị đến mức nào.

Nếu Hạ Đại Quân thực sự vác mặt đến xin ăn, chắc chắn hắn chẳng sơ múi được gì, nhưng dù sao tránh được rắc rối vẫn là tốt nhất. Thời gian của Hạ Tiểu Lan bây giờ quý như vàng, cô không rảnh để lãng phí vào những kẻ chẳng liên quan.

Cũng may, mỗi thành viên nhà họ Hạ đều có một bàn tính riêng, không ai đồng lòng với ai nên họ cũng chẳng thể thường xuyên kéo đến quấy rầy cuộc sống của cô.

Thông báo thu mua lương thực đã được gửi đến từng nhà. Hạ Tiểu Lan cùng mợ Lý Phượng Mai phải mang lúa đến trạm thu mua của xã để nộp "lương thực công". Đây là một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ với Hạ Tiểu Lan, điều mà kiếp trước cô chưa từng nếm trải.

Lúa nộp cho nhà nước phải được phơi khô đến độ giòn nhất, tuyệt đối không được lẫn cát đá hay tạp chất. Chỉ khi từng hạt lúa đều căng tròn, vàng óng, không có một hạt lép nào thì mới vượt qua được vòng kiểm định khắt khe của cán bộ trạm.

Mỗi năm có vài đợt nộp lương thực như thế. Sau vụ lúa mùa thì nộp lúa, trước đó còn có lúa mì và hạt cải dầu. Một phần sản lượng làm ra phải nộp không công cho nhà nước để thay thế thuế nông nghiệp. Tuy nhiên, "lương thực công" đôi khi vẫn không đủ bù thuế, phần thiếu hụt nông dân phải tự bỏ tiền túi ra đóng. Trước đây, đội sản xuất sẽ đứng ra nộp chung, nhưng từ khi thực hiện khoán sản phẩm đến từng hộ, nhà nào nhà nấy phải tự lo phần của mình.

"Bây giờ không gọi là thuế nữa, mà gọi là phí trích nộp."

Lưu Phân bận đi bắt lươn, nên Hạ Tiểu Lan giúp mợ đóng bao. Số lúa này đã được phơi phóng và sàng sảy kỹ lưỡng, sạch đến mức không tìm ra nổi một hạt thóc lép. Nghe mợ nhắc đến "phí trích nộp", Hạ Tiểu Lan không khỏi ngơ ngác.

Vùng nông thôn những năm 80 có quá nhiều khái niệm mà cô chưa kịp hiểu. Cô không biết làm ruộng, cũng chẳng rõ cuộc sống bần nông thời kỳ này gian nan đến mức nào. Không chỉ là công việc đồng áng bán mặt cho đất bán lưng cho trời, mà ngay cả khoản thuế lương thực tưởng chừng nhỏ bé cũng là một gánh nặng ngàn cân trên vai người nông dân. Công nghệ lúa lai tuy đã có bước đột phá từ những năm 70, nhưng ở vùng phía nam tỉnh Hà Nam này, việc trồng đại trà vẫn chưa phổ biến.

Nông dân huyện An Khánh vẫn chủ yếu canh tác theo phương pháp truyền thống. Lúa lai có thể cho năng suất cả tấn mỗi mẫu, trong khi giống lúa cũ tốt nhất cũng chỉ đạt bảy tám trăm cân. Sau khi xay xát, 100 cân lúa chỉ thu được chưa đầy 70 cân gạo. Một gia đình ba miệng ăn có tầm 5 mẫu ruộng, nhưng không phải chỗ nào cũng trồng được lúa, phần lớn là đất đồi dốc, bạc màu, năng suất thấp lẹt tẹt. Hạn ngạch nộp cho nhà nước thì không được bồi thường, phần dư thừa bán lại cho chính phủ với giá rẻ mạt. Nếu không bán lúa, nông dân lấy đâu ra tiền? Mà tiền bán lúa cũng chẳng giữ được trong túi lâu — nó lại quay vòng vào tiền thuốc trừ sâu, hạt giống, phân bón và các loại "phí trích nộp" mà mợ Lý Phượng Mai vừa nhắc tới.

Cái gọi là "phí trích nộp thống nhất" thực chất bao gồm ba khoản trích lại cho thôn và năm khoản nộp chung cho xã. Năm khoản nộp cho xã gồm: phụ phí giáo dục, phí kế hoạch hóa gia đình, phí huấn luyện dân quân, phí ưu đãi dân sự và phí vận tải. Ba khoản thôn giữ lại là: quỹ tích lũy công, quỹ phúc lợi và phí quản lý (dùng để trả lương cho cán bộ thôn).

Lý Phượng Mai chắc chắn chẳng hiểu rạch ròi những con số đó; chính quyền bảo nộp bao nhiêu thì dân tình răm rắp nộp bấy nhiêu. Hạ Tiểu Lan lại càng mù mờ hơn. Những ngày đầu sau khi trọng sinh, cô chỉ lo bị đói, nhưng rồi việc buôn bán suôn sẻ nên cô chưa thực sự nếm trải cái nghèo kiệt quệ của nông thôn.

Vài bao lúa vàng óng, sạch bong đã được đóng gói kỹ càng. Hạ Tiểu Lan nhất quyết không chịu ở nhà học bài. Mấy ngày nay, mẹ và mợ cứ muốn nhốt cô trong nhà, nhưng cô là hạng người không chịu ngồi yên, thế là cô đòi theo mợ lên trấn giao lúa bằng được. Lý Phượng Mai cũng sợ cháu gái ở nhà buồn chân buồn tay nên gật đầu đồng ý.

Lúc này mới thấy chiếc xe đạp thồ quý giá đến mức nào; một chiếc xe đạp 28 inch có thể thồ được vài trăm cân lúa. Nhà nào không có xe thì phải dùng xe đẩy tay, kéo đến trạm lúa thì cũng bã cả người. Trên đường đi, họ bắt gặp đội giao lúa của làng do Trần Vương Đa dẫn đầu. Mẹ của Trần Thanh vừa thấy hai người liền gọi lớn:

"Đi cùng nhau đi cho có bạn có phường!"

Lý Phượng Mai mừng rỡ, đon đả chào chị dâu họ Trần. Hạ Tiểu Lan cũng ngoan ngoãn chào dì. Cô khá có cảm tình với dân làng Thanh Tĩnh. Tuy họ cũng hay hóng hớt, bàn tán chuyện thiên hạ, nhưng bản chất không hề độc ác. Cùng là làng ở huyện An Khánh, nhưng bầu không khí ở Thanh Tĩnh và Đại Hà khác nhau một trời một vực... Hạ Tiểu Lan thầm nghĩ, có lẽ điều này có công lớn của vị trưởng làng Trần Vương Đa.

Mẹ Trần Thanh tỏ ra rất quan tâm đến Hạ Tiểu Lan, liên tục hỏi han chuyện học hành. Biết Tiểu Lan đạt điểm tuyệt đối môn Tiếng Anh trong cả hai lần thi — môn học vốn là nỗi ác mộng của Trần Thanh — cô liền nhớ đến ơn giúp đỡ của ông Trần nên chủ động đề nghị:

"Nếu dì không chê, kỳ nghỉ hè này cháu sẽ kèm tiếng Anh cho anh Trần Thanh ạ."

Môn Tiếng Anh thi đại học thời bấy giờ thực ra không quá khó, chỉ cần nắm vững tầm 3.000 từ vựng là đủ. Thế nhưng với các thí sinh năm 1983, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, 3.000 từ đó chẳng khác nào một ngọn núi cao không thể vượt qua. Họ không có nền tảng, không có môi trường, giáo viên thì dạy theo kiểu mò mẫm. Ngay cả Trần Vương Đa có quan hệ rộng trên huyện cũng chẳng tìm đâu ra một giáo sư ngoại ngữ cho cháu đích tôn.

Không ai biết Hạ Tiểu Lan học tiếng Anh kiểu gì, nhưng hai lần điểm tuyệt đối là bằng chứng thép. Mẹ Trần Thanh mừng như bắt được vàng, cứ quấn quýt lấy Tiểu Lan không rời. Trần Thanh vốn học không tệ, nếu gỡ được "điểm chết" tiếng Anh thì cửa vào đại học coi như đã mở rộng.

"Tiểu Lan, lát đến trạm lúa, con cứ xếp hàng ngay sau dì nhé."

Hạ Tiểu Lan chưa hiểu ý của mẹ Trần Thanh, nhưng thấy mợ Lý Phượng Mai cứ mỉm cười đầy ẩn ý. Chỉ là xếp hàng thôi mà, có gì quan trọng đâu?

Mãi cho đến khi đứng trước cổng trạm lương thực, nhìn dòng người rồng rắn và những gương mặt khó đăm đăm của cán bộ thu mua, Hạ Tiểu Lan mới nhận ra cái "đặc quyền" của việc được người nhà trưởng làng Trần che chở nó có giá trị đến mức nào.

Một hàng dài người rồng rắn xếp hàng bên ngoài trạm thu mua ngũ cốc. Nhà họ Trần đã đến lượt giao lúa nhưng không vội chen lấn, họ đứng thong thả trò chuyện trên con lộ bên ngoài. Bên trong trạm, không khí vô cùng nhộn nhịp, các lãnh đạo xã cùng các trưởng thôn đang tất bật kiểm tra chất lượng lương thực.

Hạ Tiểu Lan cứ ngỡ việc nộp lương thực đơn giản chỉ là cân lên theo danh sách, kiểm tra qua loa rồi nhập kho là xong cho một hộ. Cô đúng là quá ngây thơ! Việc vận chuyển ngũ cốc cho nhà nước thời này chẳng bao giờ là chuyện suôn sẻ.

Khi đến lượt một hộ trong hàng, nhân viên trạm lúa sẽ cầm một cái ống sắt rỗng, thọc mạnh vào bao tải lúa rồi kéo ra một vốc để kiểm tra. Lúa mì ở phía nam Hà Nam chín vào tháng Sáu và đã được nộp xong từ đợt trước; lần này, người dân mang gạo đến nộp.

Gã nhân viên đổ nắm gạo từ ống sắt vào lòng bàn tay, đảo qua đảo lại rồi phán một câu xanh rờn: "Không đạt tiêu chuẩn."

Người nông dân tội nghiệp chỉ biết cười cầu hòa, nói đủ lời ngon ngọt, nhưng chẳng hiểu sao số gạo vốn trắng bong ấy vẫn bị gán cho cái mác "hạng ba". Ngũ cốc hạng ba vẫn được chấp nhận, nhưng vì chất lượng bị đánh giá thấp nên hộ đó phải giao nộp nhiều cân hơn để bù vào — cái tiêu chuẩn ấy nằm gọn trong lòng bàn tay kẻ kiểm định. Họ luôn tìm cách dìm chất lượng xuống mức thấp nhất có thể, thế nên cái gọi là "ngũ cốc hạng nhất" hầu như chẳng bao giờ xuất hiện ở trạm này.

Mãi đến gần trưa mới tới lượt gia đình họ Trần. Vừa thấy bóng dáng chị dâu Trần, mấy gã ở trạm dù mặt vẫn khó đăm đăm nhưng lại nhanh nhảu đánh giá gạo nhà chị là "hạng nhất". Hạ Tiểu Lan nhìn bằng mắt thường cũng chẳng thấy gạo nhà họ Trần khác gì nhà người ta, những người xung quanh chắc chắn cũng không tin, nhưng tuyệt nhiên không ai dám ho he nửa lời với nhân viên trạm; chỉ có những tiếng xì xào len lỏi trong đám đông:

"Nhà họ Trần ở làng Thanh Tĩnh đấy." "Trần Vương..." "Suỵt, khẽ cái mồm thôi!"

Trần Vương Đa thậm chí chẳng cần lộ mặt; ông lão đang bận tháp tùng các lãnh đạo xã ở phía trong. Chỉ cần biết là người nhà ông, nhân viên trạm tự động "bật đèn xanh" cho lên hạng nhất. Hạ Tiểu Lan nhìn thấu cái mánh khóe này: danh tiếng đôi khi còn quyền lực hơn cả tiền bạc. Uy tín của ông cụ Trần quá lớn, khiến đám nhân viên trạm không dám giở trò gian lận.

Lô hàng nhà họ Trần được thông quan thần tốc, và ngay sau đó là đến lượt mợ Lý Phượng Mai. Ở nhà, hai mợ cháu đã cân rất kỹ, mỗi bao đúng 100 cân (50kg), nhưng khi đặt lên cái cân của kho lương, kim chỉ chưa đầy 80 cân (40kg). Lý Phượng Mai dù tức nổ đom đóm mắt nhưng cũng đành ngậm bồ hòn làm ngọt.

Hạ Tiểu Lan đã quá quen với những tiểu xảo này. Liệu cô có nên bước ra vạch trần chúng không? Không phải mọi cuộc đấu tranh đều mang lại kết quả tốt đẹp, cô hiểu rõ đối phó với những kẻ "địa phương xà" này khó khăn đến mức nào.

"Đây cũng là lúa của nhà tôi." Chị dâu Trần thản nhiên bồi thêm một câu khi đến lượt bao lúa của mợ cháu Tiểu Lan.

Mấy gã ở trạm nhìn vào biên lai. Chủ hộ họ Lưu, chẳng liên quan gì đến họ Trần, sao lại là người một nhà được?