Kể từ khi Tần Lệ chính thức ban lệnh ngự giá thân chinh ngay trên triều đình, một bầu không khí căng thẳng tựa như gió mưa sắp kéo đến lập tức bao trùm cả trong và ngoài triều đình.
Vô số lời đồn đại lan truyền khắp đầu đường xó chợ chốn kinh thành, rồi lại từ kinh thành bay đi bốn phương tám hướng, lọt vào tai những kẻ có tâm tư riêng biệt.
Mãi cho đến hơn một tháng sau, bá tánh kinh thành mới tận mắt chứng kiến đại đội nhân mã rời khỏi doanh trại nơi kinh thành, đang chỉnh đốn trang bị, vó ngựa dồn dập rung chuyển mặt đất, trường thương và giáp trụ lóe lên những ánh sáng bạc lạnh lẽo.
Lá đại kỳ ba đuôi màu đen viền vàng tượng trưng cho Thiên tử phần phật tung bay trước gió. Dưới lá đại kỳ là chiếc kiệu rồng được kéo bởi tận tám chiến mã, lại càng thu hút ánh nhìn của mọi người. Quân Thiết Giáp Vệ được trang bị vũ khí tận răng, hiện đang xếp thành đội ngũ chỉnh tề cưỡi ngựa hộ vệ ở bên sườn, sát khí nghiêm nghị ngút trời.
Phải đợi đến khi bóng dáng đại quân khuất hẳn sau chân trời cuối dặm đường, mọi người lúc này mới rốt cuộc tin chắc rằng: hoàng đế muốn ngự giá thân chinh, trực tiếp nghênh chiến Khương Nhu!
Thành Nhân Xuyên.
Đây là tòa đại thành duy nhất nằm ở chỗ giao nhau giữa Trường Nhạc và Thục Trung, trấn giữ con đường giao thông trọng yếu của cả hai bên.
Địa lý Thục Trung vốn dĩ núi non trập trùng, đường sá hiểm trở, trời lại hay âm u nhiều mưa, vốn không thuận lợi cho việc hành tiến của đại quân. Nếu muốn hạ được thành thì ắt phải có quân số gấp bội đối phương.
Chuyện vận chuyển lương thảo ngựa xe thì lại càng khó hơn lên trời. Đi đường bộ thì dễ bị địch tập kích bất ngờ, đi đường thủy thì vừa chậm vừa vòng vo, gặp phải vách đứng hay nước xiết thì dễ bị chìm thuyền.
Mà thành Nhân Xuyên thì ngược lại. Một khi đánh hạ được nơi này, phía sau lưng tất thảy đều là dải đồng bằng bằng phẳng. Tần Lệ đóng giữ mấy vạn binh mã tại thành Nhân Xuyên để đối đầu với đại quân của Lý Phong Hạo, nhưng vì bị địa hình và binh lực trói buộc nên mãi vẫn không thể chủ động tiến công, chỉ đành giữ thế phòng thủ.
Gió bấc cuốn theo những làn mây lạnh ngắt đè nặng lên đầu thành, ánh ráng chiều tà nhuộm lên tường thành một màu máu u uất.
Trong bầu không khí của thành Nhân Xuyên, từ lâu đã phảng phất mùi rỉ sắt lẫn lộn với bụi đất nồng nặc không cách nào xua tan.
Cách thành Nhân Xuyên ba mươi dặm, ngay trong đại doanh của quân nhà họ Lý triều Cảnh, các binh sĩ truyền lệnh đưa tin cứ liên tục ra ra vào vào trong soái trướng.
Bên trong soái trường, một nam tử tầm chừng ba mươi tuổi đang ngồi ở vị trí chủ tọa, gương mặt vuông vức chính trực, diện mạo có đến năm sáu phần tương tự với Lý Tuyết Hoằng, duy chỉ có bên mắt trái là được che phủ bởi một tấm băng bằng da màu nâu, một vết sẹo kéo dài từ phía dưới tấm băng thẳng xuống tận gò má.
Đây chính là vị Tam hoàng tử năm xưa từng tranh đoạt ngôi vị với Lý Tuyết Hoằng nhưng rồi thất bại, sau đó dẫn quân tháo chạy, Lý Phong Hạo.
Đại tướng dưới trướng gã tên là Bàng Cẩn, chính là chú ruột của mẫu phi Lý Phong Hạo. Mẫu phi của Lý Phong Hạo là Bàng Quý phi từng được lão hoàng đế Cảnh Quốc vô cùng sủng ái, kéo theo cả Bàng Cẩn cũng được một đường thăng tiến dễ dàng, ngồi lên tới chức vị tướng quân.
Bàng Cẩn tuy rằng không có bản lĩnh cầm quân gì đặc biệt xuất chúng, nhưng lại đối với Lý Phong Hạo trung thành tận tụy.
Cho dù có bị đuổi ra khỏi kinh thành, phải co đầu rụt cổ ở Thục Trung, trong khi biết bao tướng lĩnh khác hoặc là đã tử trận, hoặc là đã đầu hàng trong những cuộc giao chiến với Tần Lệ, chỉ có Bàng Cẩn vẫn luôn theo sát Lý Phong Hạo không rời, là người được Lý Phong Hạo tín nhiệm nhất.
Lý Phong Hạo đương nhiên cũng biết điều mà đáp lại ân huệ. Năm vạn tinh binh do Bàng Cẩn thống lĩnh chính là đội quân có tỉ lệ trang bị giáp trụ cao nhất, cũng là lực lượng chủ lực tinh nhuệ nhất dưới trướng gã.
"Điện hạ." Bàng Cẩn hơi cúi người, ôm quyền bảo, "Tin tức từ mấy đường điệp báo gửi về cơ bản đều trùng khớp với nhau, đã có thể xác nhận Tần Lệ ngự giá thân chinh, tự mình thống lĩnh mười vạn đại quân tiến về phương Bắc nghênh chiến Khương Nhu."
"Hắn đã mang theo ba vạn Thiết Giáp Vệ cốt lõi nhất của mình đi rồi. Hện tại trong kinh thành chắc là chỉ còn chưa đầy mấy vạn cấm quân giữ thành. Đây chính là lúc phòng bị lỏng lẻo nhất."
Một vị tướng lĩnh khác ở bên cạnh gã là Triệu Thường Tam cũng gật gật đầu phụ họa theo: "Điện hạ, chỉ cần đạp nát tòa thành Nhân Xuyên này là có thể thừa cơ tiến thẳng vào nội địa. Nếu Đại vương tử Tạp Tang của Khương Nhu có thể cầm chân Tần Lệ đủ lâu, biết đâu chừng lần này chúng ta có thể đánh thẳng tới tận kinh thành!"
Lý Phong Hạo nhìn đống tình báo trong tay, chậm rãi gật đầu.
Chuyện Vương trữ Nhã Nhĩ Tư Lan của Khương Nhu bị thương mất tích, Tạp Tang thẳng tay thu gom bộ chúng chuẩn bị đại quân để nam hạ, gã sớm đã biết rồi.
Gã co cụm ở Thục Trung lâu như vậy, Tần Lệ không đánh vào, mà gã cũng chẳng dám đánh ra.
Nhưng người tinh mắt ai nấy đều biết rõ, nếu cứ tiếp tục tiêu hao theo kiểu này, đợi đến khi Tần Lệ chuẩn bị thêm vài năm nữa, ngai vàng hoàn toàn vững chãi, không còn mối lo ngại từ Khương Nhu rồi rảnh tay dốc toàn lực tiến công, thì gã căn bản chẳng phải là đối thủ của Tần Lệ, chỉ có nước ngồi chờ chết mà thôi.
Nay Tần Lệ đích thân thống lĩnh đại quân lên phía Bắc ngự địch, kinh thành trống trải, Tần Lệ cùng Tạp Tang đánh nhau đến sứt đầu mẻ trán, đây chính là cơ hội tốt nhất để gã lật đổ Tần Lệ, thu phục kinh thành, khôi phục lại Cảnh Quốc!
Lý Phong Hạo lần này gần như là dốc hết vốn liếng ra quân. Tám vạn binh mã vốn có trong tay cộng thêm số tráng đinh và dân phu được huấn luyện trong gần một năm qua, tính ra cũng tròn mười vạn người. Chỉ cần có thể nhanh chóng đánh hạ thành Nhân Xuyên thì trận chiến này coi như đã thắng được một nửa.
Lý Phong Hạo đứng dậy đi qua đi lại vài vòng, cau mày bảo: "Thế nhưng thành Kỳ Sơn vẫn còn nằm trong tay ngụy Diệu. Cái đinh này nếu không nhổ đi sẽ trực tiếp đe dọa đến đường lương thảo phía sau."
"Thành Kỳ Sơn cũng là một nơi dễ thủ khó công, nếu phái binh đi đánh, ít nhất cũng phải cần tới ba vạn nhân mã mới có thể nhanh chóng đánh hạ được. Chia bớt binh lực thế này thì quân mã tấn công thành Nhân Xuyên sẽ bị ít đi......"
Vị trí của thành Kỳ Sơn quá mức oái ăm, vừa vặn kẹt ngay trên con đường lương thảo, dẫn đến việc doanh trại công thành của Lý Phong Hạo đều đã dựng xong xuôi rồi mà vẫn chưa chính thức chốt hạ thời gian công thành.
Nhắc tới thành Kỳ Sơn, Triệu Thường Tam không nhịn được mà oán trách một câu: "Đều tại cái tên phản đồ Tạ Lâm Xuyên kia! Rõ ràng thân là Xích Tiêu tướng quân của Cảnh Quốc chúng ta, đầu hàng giặc diệt quốc không nói, lại còn leo lên tận long sàng để làm nam sủng, bây giờ còn giúp đỡ Tần Lệ đánh chiếm thành trì của Cảnh Quốc!"
"Nếu không phải hắn dùng quỷ kế lừa mở cửa thành Kỳ Sơn, thì với sự kiên cố của thành Kỳ Sơn, lại có thành Phòng Châu ở phía đối diện sẵn sàng chi viện bất cứ lúc nào, làm sao có thể dễ dàng rơi vào tay Tần Lệ như thế được!"
Bàng Cẩn liếc nhìn hắn ta một cái, thầm nghĩ, cho dù không có Tần Lệ thì tên Tạ Lâm Xuyên kia cũng chẳng đời nào giúp đỡ Tam điện hạ đâu.
Lý Phong Hạo thiếu kiên nhẫn bảo: "Đủ rồi, bây giờ nói mấy cái này thì có tác dụng gì? Triệu Thường Tam, ta giao cho ngươi ba vạn nhân mã, yêu cầu trong thời gian ba ngày bắt buộc phải đánh hạ thành Kỳ Sơn cho ta, sau đó mau chóng quay về chi viện, ngươi có làm nổi không?"
Triệu Thường Tam vỗ ngực bồm bộp, lớn tiếng bảo: "Mạt tướng lĩnh mệnh! Điện hạ cứ yên tâm, mạt tướng nhất định sẽ tốc chiến tốc thắng quay về đúng hạn!"
Lý Phong Hạo lại nhìn sang Bàng Cẩn, siết chặt nắm tay đầy vẻ quyết tâm: "Thời gian gấp rút, không chắc chắn được bao lâu thì Tần Lệ sẽ phái viện binh tới, bắt buộc phải trước lúc đó mau chóng đánh hạ thành Nhân Xuyên cho ta. Ngày mai trời vừa sáng, lập tức công thành!"
Bàng Cẩn cúi đầu thưa: "Mạt tướng tuân mệnh!"
Trời vừa mới tờ mờ sáng, theo tiếng chiêng đồng vang vọng ra xa, tiếng trống trận rầm rầm nổi lên. Trận chiến công thành chính thức bùng nổ.
Đại quân nhà họ Lý tuy đã bị chia đi mất ba vạn nhân mã, nhưng bảy vạn quân còn lại vẫn khí thế ngút trời, hùng hùng hổ hổ, thế công vô cùng đáng sợ.
Đám bộ binh đen kịt như đàn kiến vỡ tổ ùa về phía tường thành, những chiếc thang mây hết chiếc này đến chiếc khác gác lên trên tường thành. Giữa tiếng gào rống của quân sĩ, những khúc gỗ húc thành bọc sắt không ngừng nện mạnh vào cổng thành.
Muôn vàn mũi tên như mưa sa, che kín cả bầu trời, ào ạt bắn về phía đầu thành. Đá lăn, dầu hỏa, tiếng tù và cùng những tiếng kêu thảm thiết đan xen vào nhau, tạo thành một mớ hỗn độn. Khói bụi mịt mù trời đất, chấn động đến mức tường thành cũng khẽ rung lên.
Trên đầu thành, thủ tướng Ân Cao Dương khoác chiến giáp, đứng bên lỗ châu mai, đưa mắt nhìn về phía đại quân địch đang hùng hổ kéo tới từ xa. Ông là chủ tướng doanh thứ nhất trong năm doanh quân do Tần Lệ bố trí trấn thủ phủ Trường Nhạc, tuổi đã ngoài bốn mươi, tính tình điềm đạm, làm việc cẩn trọng và rất có năng lực.
Ông một tay giữ kiếm, một tay phất cờ điều động, khản cả giọng hét lên những khẩu lệnh, tiếng nói như chuông đồng vang dội xuyên qua chiến trường huyên náo: "Cung thủ dàn trận! Chuẩn bị gỗ và đá lăn! Chết cũng phải giữ vững cổng thành, kẻ nào dám lùi nửa bước, theo quân pháp mà xử trí!"
Lời còn chưa dứt, những làn mưa tên dày đặc như đàn châu chấu từ trong trận quân địch xé gió lao tới, cắm phập vào tường thành, vào khiên đỡ, phát ra những tiếng bụp bụp giòn giã liên hồi. Vài binh sĩ né tránh không kịp, ngay tức khắc ngã sụp xuống đất, máu tươi nhuộm đỏ những viên gạch xanh dưới chân.
Thân binh bên cạnh lập tức giơ khiên chen chắn cho Ân Cao Dương, thế nhưng ông lại thẳng tay gạt phắt chiếc khiên ra, cúi người vớ lấy một cây cung dài, đặt tên kéo căng dây, nhắm thẳng vào tên tiên phong đang cầm cờ bên quân địch. Mũi tên xé gió lao vút ra, chính xác xuyên thủng cổ họng đối phương. Lá cờ địch đổ rầm xuống đất, lập tức kéo theo một tràng tiếng reo hò vang dội.
Ân Cao Dương chỉ huy binh sĩ chống đỡ hết đợt cuồng công này đến đợt cuồng công khác suốt cả một ngày trời, th* d*c dồn dập, ngay cả nước cũng chẳng kịp uống lấy một ngụm.
Mãi cho đến lúc hoàng hôn buông xuống, thế công của ngày thứ nhất mới dần dần hạ màn.
Ân Cao Dương phóng tầm mắt nhìn trận quân nhà họ Lý đang chầm chậm rút đi, quệt mồ hôi, sa sầm nét mặt đi tìm Tần Vịnh Nghĩa ở phía sau.
"Tần đại nhân, nếu bệ hạ đã phái ngươi tới chi viện, tại sao không để ta dẫn quân xuất thành dã chiến? Phía đối diện có phải là kỵ binh thiết giáp của Khương Nhu đâu, dẫn người lao ra đâm chém một trận thì đã sao chứ?"
Tần Vịnh Nghĩa cúi đầu hớp một ngụm trà để thấm ướt cổ họng khô khốc, bảo: "Ân tướng quân, quân tiên phong ta mang tới chỉ có một vạn người, binh lực thiếu thốn trầm trọng, làm sao xuất thành tiến công được? Bệ hạ có lệnh chỉ cần giữ thành cho thật tốt là được rồi. Đợi đến khi viện quân phía sau đến rồi hẵng ra khỏi thành cũng chưa muộn."
Ân Cao Dương nhẫn nại hỏi lại: "Thế viện quân bao giờ mới tới?"
Tần Vịnh Nghĩa ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo: "Ít thì mười ngày nửa tháng, nhiều thì...... Biết đâu chừng vài ba tháng cũng nên. Dù sao bệ hạ cũng đã mang theo lực lượng tinh nhuệ chủ chốt lên phía Bắc chuẩn bị chiến đấu với Khương Nhu rồi. Tuyến phòng thủ phía sau thiếu thốn binh lực cũng là chuyện bất khả kháng thôi."
"Cái gì?!" Mí mắt Ân Cao Dương giật lên bần bật mấy cái, sắc mặt khó coi đến tột cùng.
Thành Nhân Xuyên không được tính là nơi hiểm trở gì, Lý Phong Hạo thì lại đang dốc toàn quân tấn công cho bằng được. Trong tình cảnh phương mình binh lực thiếu thốn thế này, bị Lý Phong Hạo đánh hạ e rằng chỉ là chuyện sớm muộn.
Chiến đấu trên cả hai chiến tuyến, mấu chốt chính là xem bên nào đánh được nhanh hơn, bằng không thì chỉ có nước bị giáp công chịu đòn mà thôi.
Ân Cao Dương lại nhìn sang Nhiếp Tấn: "Bệ hạ nói như vậy sao?"
Nhiếp Đông và Tạ Lâm Xuyên đi theo Tần Lệ lên phía Bắc, lần này người cùng Tần Vịnh Nghĩa đến đây làm tiên phong là Nhiếp Tấn.
Hắn nhìn Tần Vịnh Nghĩa với ánh mắt đầy ẩn ý, gật gật đầu bảo: "Bệ hạ quả thực có nói là an ổn giữ thành để chờ viện quân. Xin Ân tướng quân cứ yên tâm, viện quân nhất định sẽ tới. Việc chúng ta cần làm hiện tại chính là kéo dài thời gian."
Ân Cao Dương thở dài một tiếng, lắc lắc đầu bảo: "Hiện tại Lý Phong Hạo chia binh đi đánh thành Kỳ Sơn, cho nên thế công vẫn chưa đến mức kịch liệt nhất, kiên trì mấy ngày thì không thành vấn đề. Nhưng nếu cứ đợi thêm vài ngày nữa, viện quân ở thành Kỳ Sơn quay trở lại, sợ là sẽ rắc rối lớn."
"Bệ hạ chẳng lẽ định lấy vài tòa thành trì ở các châu phủ Tây Nam ra để kéo dài bước chân của Lý Phong Hạo, đổi lấy việc đánh thắng Khương Nhu càng nhanh càng tốt sao?"
Ông cau chặt mày, thầm biết đây cũng là chuyện bất đắc dĩ. Nếu thật sự đến lúc nguy cấp, Tần Vịnh Nghĩa có thể dẫn binh mã lui về phía sau, nhưng ông với tư cách là thủ tướng của thành Nhân Xuyên có trọng trách giữ đất thì không thể lui bước được.
Ân Cao Dương im lặng một lát, không nói thêm gì nữa, chắp tay ôm quyền một cái rồi quay người đi tiếp tục bố trí phòng thủ.
Thế công của Lý Phong Hạo những ngày sau quả nhiên ngày một hung hãn hơn, cả hai bên đều đang chạy đua với thời gian.
Hai ngày trước thì chỉ là công thành mang tính dò xét, cho đến ngày thứ ba, Lý Phong Hạo thấy quân giữ thành Nhân Xuyên trước sau cứ đóng chặt cửa thành không chịu ra, gã càng thêm chắc chắn đối phương đang thiếu thốn binh lực, vì thế liền lập tức phát lệnh tổng tiến công. Khí thế bừng bừng như muốn nuốt chửng lấy thành Nhân Xuyên trong một hớp.
Sau buổi trưa, Ân Cao Dương đích thân lên đầu thành đốc chiến. Cuộc giao tranh của ngày hôm nay đặc biệt kịch liệt, lúc quân địch đến gần nhất, thang mây đều đã móc lên trên tường thành, lại bị Ân Cao Dương tự mình vung đao chém đứt.
Rầm rầm rầm!Vài tiếng động lớn bỗng vang lên, cả tòa thành đều chấn động.
Ân Cao Dương suýt chút nữa đứng không vững, phải dùng đao cắm xuống mặt đất mới gắng gượng giữ thăng bằng được. Ông trầm giọng quát lớn: "Có chuyện gì thế!"
Lập tức có binh sĩ ba chân bốn cẳng chạy tới, sốt ruột bảo: "Là hỏa dược! Bọn chúng đang dùng hỏa dược để nổ cổng thành!"
Ân Cao Dương nhanh chóng lao đến lỗ mai châu của thành mà nhìn xuống phía dưới, quả nhiên có vài đội kỵ binh đang xua đuổi đám dân phu, vác từng bao chứa hũ hỏa dược lớn nhỏ, đội lấy làn mưa tên từ trên thành mà lao mạnh về phía chân tường thành, có ý đồ nhét những hũ hỏa dược vào dưới cổng thành.
Cũng may là những hũ hỏa dược này so với những thứ Tạ Lâm Xuyên từng dùng ở thành Kỳ Sơn thì uy lực chẳng đáng là bao. Có lẽ chỉ là do Lý Phong Hạo học lỏm được chút kiến thức cơ bản mà thôi. Thế nhưng sự hoảng loạn gây ra thì lại là thật.
Nếu như trong tay Lý Phong Hạo còn sở hữu thứ vũ khí hỏa dược có uy lực lớn hơn thì sao?
Ân Cao Dương quay đầu nhìn một lượt các tướng sĩ giữ thành đã lộ rõ vẻ mệt mỏi, sa sầm nét mặt bảo: "Lên pháo đi! Bọn chúng có hỏa dược, chúng ta cũng có!"
Ngoài việc đốc thúc chế tạo nỏ Khắc Địch, Tạ Lâm Xuyên còn ra lệnh cho thợ thủ công thử nghiệm một mẻ vũ khí hỏa dược mới, bên trong nhồi thuốc nổ lẫn đủ loại đinh sắt và chông sắt, được gọi là "hỏa dược pháo".
Trước tiên châm ngòi nổ, sau đó dùng máy bắn đá b*n r* ngoài, khi chạm đất sẽ lập tức nổ tung. Tuy rằng tạm thời chưa giải quyết được vấn đề độ kín khí nên không thể tạo ra vụ nổ kinh thiên động địa như đạn pháo thật sự, nhưng đinh sắt và chông sắt bên trong khi văng ra chẳng khác nào đạn hoa cải, sức sát thương vẫn vô cùng đáng sợ.
Chỉ tiếc là thời gian thử nghiệm còn ngắn, sản lượng không cao. Nếu như có thêm khoảng nửa năm hay một năm để chuẩn bị, đại quân của Lý Phong Hạo e là còn chưa kịp leo lên đầu thành đã bị nổ cho ôm đầu chạy thục mạng rồi.
Vị phó tướng bên cạnh ông cau mày: "Nhưng mà số lượng hỏa dược pháo trong kho còn rất ít,vốn để dành làm đòn sát thủ, nếu giờ dùng hết thì–"
Lời phó tướng còn chưa dứt, mười mấy hũ hỏa dược đã được quăng từ trên những chiếc thang mây gác lên tường thành xuống, hầu như nổ tung ngay bên cạnh các tướng sĩ giữ thành!
Một chiếc hũ gốm đang cháy ngòi nổ sượt qua vách che thành bay vào, nổđoànhmột tiếng ngay bên sườn Ân Cao Dương. Lửa sáng và đá vụn b*n r* tung tóe, luồng sóng xung kích mạnh mẽ hất cho ông lảo đảo một cái.
Một cơn đau nhói thấu xương từ tai phải truyền đến, dòng máu ấm nóng tức thì men theo cổ chảy vào trong khe giáp, một nửa bên tai gần như bị cơn chấn động làm cho rách toạc, tiếng ù tai vang lên không dứt.
Tiếng hò hét, tiếng tù và, tiếng gào khóc thảm thiết xung quanh phút chốc trở nên mờ mịt xa xăm, chỉ còn lại những tiếng ong ong nhức óc.
Thân binh cuống cuồng lao lên đỡ, Ân Cao Dương lại nghiến răng thẳng tay gạt ra, giơ tay quệt bừa vệt máu và bụi đất trên mặt, vung thanh trường kiếm quát mắng: "Lập tức ra lệnh cho người lên pháo! Đẩy thang mây xuống! Dội kim dịch! Không được để lũ nhãi nhép nhà họ Lý kia bước lên đầu thành nửa bước!"
Phó tướng cuống cuồng lĩnh mệnh rời đi.
Các binh sĩ giữ thành trên đầu thành hợp lực đẩy một khúc gỗ lớn, lật đổ chiếc thang mây đang lung lay sắp sập xuống. Quân địch đang bám thang rú lên thảm thiết rồi rơi thẳng từ trên cao, dòng kim dịch nóng hổi từ các kẽ thành dội thẳng xuống, mùi khét lẹt của da thịt bị thiêu đốt tràn ngập không khí, thế nhưng vẫn không cách nào ngăn cản được thế công ngày một dày đặc hơn.
Tình thế công thủ của cả hai bên vô cùng giằng co.
Trên ngọn đồi cao phía ngoài tường thành, Bàng Cẩn mặc giáp chống kiếm, thu hết cảnh tượng này vào trong tầm mắt, bật cười ha hả: "Điện hạ quả nhiên liệu sự như thần! Tinh binh đều đã bị Tần Lệ điều động lên phía Bắc rồi, hắn rõ ràng là đã từ bỏ phủ Trường Nhạc rồi! Chỉ với mấy vạn nhân mã ở thành Nhân Xuyên này thì giữ nổi được bao lâu chứ?"
Hắn rút thanh bảo kiếm ngang hông ra, cao giọng bảo: "Người đâu, truyền quân lệnh của bản tướng quân, toàn bộ nhân mã dự bị dốc lên hết cho ta! Chúng ta chỉ cần nửa ngày là hạ được thành Nhân Xuyên, buổi tối vào thành có thể ăn ngon uống say!"
Mệnh lệnh toàn quân tiến công vừa hạ xuống, đám binh sĩ dưới trướng khí thế ngút trời, tiếng gào giết chấn động cả cánh đồng hoang.
Ngay tại khoảnh khắc thế công của quân nhà họ Lý leo lên đến đỉnh điểm, quân tiên phong trên thang mây chuẩn bị đặt chân lên đầu thành, thì bỗng có vô số hỏa dược pháo không biết từ đâu bắn tới, nổ rầm rầm giữa đám đông công thành dày đặc. Những chiếc đinh sắt và chông sắt nổ bung ra đã lập tức bắn nát bấy một mảng lớn đám quân địch xung quanh thành cái sàng.
Đám binh sĩ quân địch đang xông pha dẫn đầu lần lượt ngã rạp xuống, tiếng thét thảm thiết vang lên liên miên.
Còn chưa đợi Bàng Cẩn kịp hiểu ra đó là thứ vũ khí gì, thì ở phía sườn thành chợt vang lên một tràng tù và trầm đục mà sắc lẹm.
Tiếng vó ngựa rầm rập chấn động bốn cõi, kéo theo những làn khói bụi mịt mù như lay trời lấp đất. Thấp thoáng nơi phương xa, một dòng giáp sắt đen kịt đang ùn ùn kéo tới, tựa như thủy triều dâng cao.
Hàng hàng lớp lớp tinh binh mặc giáp trụ sáng loáng, đao thương san sát, cờ phướn bay phần phật. Trong số đó, điều thu hút ánh nhìn nhất chính là lá đại kỳ ba đuôi màu đen viền vàng.
Trong tiếng gào giết đinh tai nhức óc, Bàng Cẩn sắc mặt đại biến, đồng tử co rụt lại. Đó là lá cờ hoàng gia tượng trưng cho Thiên tử.
Mật báo chẳng phải nói Tần Lệ dẫn quân lên phía Bắc rồi sao? Cớ sao lại xuất hiện ở dưới thành Nhân Xuyên được chứ?!
Vào khoảnh khắc nhìn thấy rõ lá đại kỳ màu đen viền vàng ấy, trên tòa thành Nhân Xuyên lập tức bùng nổ một trận reo hò vang dội cả trời đất, đi kèm với những tiếng nổ liên tiếp của hỏa dược pháo. Thế công của quân họ Lý chợt khựng lại một nhịp, quân tiên phong vốn đang bị thế gọng kìm bao vây đã thấp thoáng có dấu hiệu tháo chạy về phía sau.
"Là bệ hạ! Bệ hạ đích thân tới rồi!"
Trên thành, vị thủ tướng bị thương một bên tai là Ân Cao Dương không thể tin nổi vào mắt mình, trố mắt nhìn lá đại kỳ, kế đó chính là vẻ vui mừng hiển hiện trên gương mặt ông, rồi ông bật tiếng cười vang ha hả.
Ông cứ ngỡ lần này sẽ phải bỏ mạng tại thành Nhân Xuyên rồi, ai ngờ lúc này tình thế lại xoay chuyển ngoạn mục đến vậy!
"Bệ hạ quả nhiên không hề từ bỏ chúng ta!"
Ở cách đó không xa, Tần Vịnh Nghĩa cũng ba chân bốn cẳng lao đến bên đầu thành, nhìn quân Thiết Giáp Vệ và lá đại kỳ đang vượt gió đội trăng mà điên cuồng lao tới. Trên mặt gã lại đầy vẻ kinh ngạc ngỡ ngàng.
Bệ hạ rõ ràng đã dẫn binh lên phía Bắc rồi, sao lại có thể xuất hiện ở nơi này?
Sắc mặt gã hơi sa sầm xuống, lòng đầy nghi hoặc. Từ bao giờ mà Tần Lệ đã bắt đầu giấu giếm gã khi đưa ra những quyết định trọng đại như thế này rồi? Lần trước thì giả bệnh ở trong quân doanh, lần này thì lại vờ vịt lên phía Bắc.
Lá đại kỳ đen viền vàng từ xa tiến lại gần, quân cung nỏ đi đầu đội hình đã tiến vào phạm vi ngắm bắn, bọn họ hầu như mỗi người đều cầm trong tay một cây nỏ Khắc Địch do Tạ Lâm Xuyên chế tạo.
Cung mạnh nỏ cứng đồng loạt phát uy, trận mưa tên kinh hoàng như thác đổ, rít gào xé gió lao tới, chỉ cần một mũi tên là có thể bắn xuyên qua cả người lẫn giáp, cho dù có khiên đỡ cũng khó lòng thoát khỏi cái chết.
Đám binh sĩ tiên phong trên thang mây rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan, bị mưa mũi tên đá lăn nện cho thét thảm một cái rồi ngã khỏi thang, còn đám binh tinh nhuệ hàng phía trước thì hoảng hốt rút lui. Thế công vừa nãy còn như tre chẻ, hiện tại lại chẳng khác nào dồn hết sức đấm vào một bức tường sắt đá lạnh băng, chỉ tổ vỡ đầu chảy máu.
"Tần Lệ vậy mà lại tới đây!" Sắc mặt Bàng Cẩn xanh mét, cái gọi là 'lên phía Bắc ngự địch', hóa ra chỉ là kế giương đông kích tây, lén lút đổi trắng thay đen.
Hắn vừa mới nghiến răng truyền lệnh lui binh, thì đám tàn quân hàng phía trước đã bắt đầu giẫm đạp lên xác chết của những đồng đội ở phía sau mà cắm đầu chạy thục mạng. Trận hình trong phút chốc đã tan tác, dù chủ tướng có quát tháo thế nào cũng khó lòng kiềm chế nổi sự hỗn loạn. Đám binh sĩ ấy từ lâu đã không còn vẻ hung hãn khi mới xuất trận. Trong mắt ai nấy đều ngập tràn sợ hãi, sĩ khí tụt dốc không phanh.
Dưới lá đại kỳ màu đen viền vàng, Tạ Lâm Xuyên và Tần Lệ sóng vai cưỡi trên chiến mã, đăm đăm nhìn chiến trường đang dần xoay chuyển thế công thủ.
Tần Lệ nét mặt trang nghiêm, rút thanh bảo kiếm đầu rồng ngang hông ra, giơ cao lên trời, cánh tay dứt khoát vung mạnh xuống một cái.
Một tiếng tù và ra hiệu tiến công lại một lần nữa vang lên. Quân Thiết Giáp Vệ ở hai bên sườn giống như đàn sói đói sổng chuồng, đằng đằng sát khí lao vào chiến trường.
Gió cát càng lúc càng dữ dội, tiếng đâm chém chói tai vang lên không dứt. Cửa thành rầm rập mở toang, một toán kỵ binh hiên ngang từ trong thành lao ra, cuốn theo một trận cuồng phong với ý định cùng quân Thiết Giáp Vệ hai bên tạo thành thế gọng kìm để truy kích quân địch.
Bàng Cẩn thấy đại quân tan vỡ, nghiến răng một cái thật mạnh, dẫn theo đám thuộc h* th*n binh tinh nhuệ nhất lao lên phía trước, che chắn cho đại bộ đội rút lui về phía sau.
Khói lửa cuồn cuộn che mờ nửa bầu trời, tiếng hét, tiếng binh khí va chạm, tiếng kêu khóc thảm thiết kéo dài mãi chẳng chịu dứt.
Quân hai bên rượt đuổi nhau đến hơn mười dặm đường, sau khi bỏ lại phần lớn binh sĩ thương vong, Bàng Cẩn mới miễn cưỡng mang theo hơn năm vạn tàn binh trốn về đại doanh, cuống cuồng tổ chức lại phòng ngự.
Gió lạnh hiu hắt.
Quân mã nhà họ Lý tổn thất nặng nề, xác chết chất thành đống ở dưới chân thành, máu tươi thấm vào những lớp bùn đất lạnh ngắt.
Dưới chân thành Nhân Xuyên, lá đại kỳ đen viền vàng theo quân Thiết Giáp Vệ chầm chậm tiến vào trong thành. Trên thành, những lá cờ phiến bay phấp phới, tiếng hô "vạn tuế" không ngừng cất lên.
Tạ Lâm Xuyên thúc ngựa, nghe tiếng "vạn vạn tuế" vang bên tai, nghiêng đầu nhìn sang Tần Lệ, khẽ mỉm cười: "Chúc mừng bệ hạ khởi đầu đắc thắng, đánh cho Lý Phong Hạo một vố trở tay không kịp."
Tần Lệ ngồi trên ngựa đi song song với y, khóe môi ngậm lấy ý cười như có như không, liếc Tạ Lâm Xuyên một cái, bảo: "Cũng may là trẫm có mắt nhìn, cướp được ngươi về bên cạnh. Bằng không thì nếu cái tên Lý Phong Hạo kia mà dùng hỏa dược và nỏ Khắc Địch của ngươi để đối phó với đại quân của trẫm, thì trẫm đây chắc phải lo đến nát óc mất."
Tạ Lâm Xuyên cười bảo: "Bệ hạ là đang khen bản thân có mắt nhìn, hay là khen ta giỏi giang đây?"
Tần Lệ nhìn cái bộ dạng đắc ý của y thì trong lòng ngứa ngáy, thuận tay nựng má Tạ Lâm Xuyên một cái, nhéo nhéo phần thịt mềm trên má y.
"Lão hoàng đế tiền triều thì đầu lú mắt mù, Lý Tuyết Hoằng thì là tên phế vật, Lý Phong Hạo thì là kẻ vô năng."
Hắn đầy vẻ tự đắc mà híp mắt, đầu lưỡi khẽ l**m qua kẽ răng, không nhịn được mà lặp lại một câu đã từng nói trước đây: "Chỉ có trẫm mới có bản lĩnh trị được ngươi."
Tạ Lâm Xuyên nhìn cái bộ dạng tràn đầy tự tin của hắn thì cảm thấy hơi buồn cười, nhướng mày hỏi: "Chẳng hay bệ hạ đang nói tới kiểu 'trị' nào vậy?"
Tần Lệ vừa nhìn thấy nụ cười tinh quái của y là biết ngay cái tên này lại không đứng đắn rồi, hắn khẽ hừ một tiếng, biếng nhác bảo: "Kiểu nào cũng thế cả."
Bất kể là trên chiến trường nào.
Tạ Lâm Xuyên thầm nghĩ, cũng chỉ có y mới trị nổi con chó hư Tần Lệ này.
Y bỗng nhiên hỏi: "Bệ hạ năm đó ở cửa thành lần đầu tiên nhìn thấy ta, chẳng lẽ chính vì cái này nên mới phải cướp ta vào cung sao? Bệ hạ rốt cuộc là tiếc tài, hay là háo sắc đây?"
Tần Lệ không hề tức giận, ngược lại còn ăn nói đầy dõng dạc, lý lẽ hùng hồn: "Trẫm không chỉ tiếc tài mà còn háo sắc nữa đấy, thế nào?"
Tạ Lâm Xuyên híp mắt, lại còn lấy làm đắc ý nữa chứ.
Tần Lệ hơi mỉm cười, lại tiếp tục bảo: "Thật ra lần đó không phải là lần đầu tiên chúng ta gặp mặt."
Tạ Lâm Xuyên sửng sốt: "Ơ? Trước đây chúng ta từng gặp nhau rồi sao?"
Y nhớ mang máng Tần Lệ từng nói những lời đại loại như "ngươi vẫn giống như trước đây". Khi đó y còn tưởng là Tần Lệ từng gặp qua nguyên chủ Tạ tướng quân.
Tần Lệ cũng không úp úp mở mở nữa, trực tiếp bảo: "Lúc ngươi ở trong xe tù, bị áp giải về kinh thành diễu phố ấy, trẫm đã nhìn thấy ngươi rồi, ngươi còn cứu trẫm một mạng nữa kìa."
"Có sao? Vào lúc nào thế?" Tạ Lâm Xuyên ngơ ngác nhìn hắn, sao y lại chẳng có ấn tượng gì thế nhỉ? Tần Lệ với mái tóc bạc đặc trưng và gương mặt mang vẻ phong tình dị vực như thế, chỉ cần nhìn thấy một lần là sẽ không bao giờ quên được.
Lần này Tần Lệ lại quyết không chịu tiếp tục giải thích nữa, chỉ cong lên khóe môi, cười bảo: "Không nói cho ngươi biết đâu."
Tạ Lâm Xuyên liếc xéo hắn một cái. Chậc, đúng là đồ chó hư.
Tần Lệ nhìn thẳng phía trước, thúc ngựa tiến vào thành, nhưng ánh nhìn nơi khóe mắt vẫn lặng lẽ bám riết lấy y. Có lẽ kiếp trước bọn họ đã từng quen biết nhau rồi, nên kiếp này mới định sẵn vẫn phải tiếp tục dây dưa quấn quýt lấy nhau.