Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 9: Tình làng nghĩa xóm

Mùi khói xăng hai thì xanh lè khét lẹt từ chiếc Simson của Trần Quốc Bách dần tan vào màn mưa phùn cuối đông, nhưng cái lạnh buốt của buổi chiều tà dường như càng lúc càng ngấm sâu vào từng thớ thịt. Gió bấc từ mạn sông Hồng thốc qua những khoảng trống giữa các toa xe chở hàng ngoài bãi ga Hàng Cỏ, cuốn theo bụi than đá ram ráp quất rát rạt vào rặng dâm bụt trơ cành bên ngõ Khâm Thiên.

Đặng Hoài An vẫn đứng chôn chân bên mép hiên nhà Thục Quyên. Đôi bàn tay chai sạn của anh nắm chặt chiếc cờ-lê số 19, các đốt ngón tay trắng bệch vì ghì mạnh. Anh dõi mắt nhìn theo hướng con ngõ hun hút nơi gã công tử phố thị vừa biến mất, trong lồng ngực cuộn lên từng đợt sóng ngổn ngang.

Bách đã rút lui trong nhục nhã, nhưng những lời đe dọa rít qua kẽ răng của hắn thì vẫn còn treo lơ lửng như một chiếc thòng lọng vô hình: Chợ Đồng Xuân sẽ không còn ai dám bán cho Quyên nửa cuộn chỉ, và thời hạn giao nộp năm vạn bạc tiền nợ chỉ còn vẻn vẹn bốn ngày. Đáng sợ hơn cả, đợt kiểm định phụ tùng gắt gao của Tổng cục Đường sắt chỉ còn đúng bốn mươi tám tiếng đồng hồ nữa là điểm giờ, trong khi trái tim của xưởng cơ khí Đặng gia – cỗ máy tiện 1A62 duy nhất – lúc này chỉ là một khối sắt chết cứng, bốc khói đen sì sau sự cố chập cháy trưa nay.

Hoài An quay đầu nhìn sang bên kia lối đi rải xỉ than. Cánh cửa liếp xưởng tiện mở toang, bên trong tĩnh mịch đến nao lòng. Mùi dây đồng cháy khét lẹt hòa cùng mùi dầu biến thế ôi thiu vẫn lảng bảng trong không khí ẩm mốc. Cha anh, ông Tấn, đang ngồi bất động trên chiếc ghế đẩu gãy một bên giằng, cái chân thọt duỗi thẳng ra nền gạch tàu nứt nẻ. Ông không hút thuốc lào, cũng chẳng buồn châm ngọn đèn dầu hỏa, chỉ lặng lẽ dùng bàn tay gầy guộc x** n*n bờ gờ chiếc mâm cặp ba chấu nguội ngắt. Dáng ngồi còng xuống của người thợ già từng một thời tung hoành trên các tuyến đường sắt lửa đạn in lên mảng tường loang lổ như một dấu chấm than rệu rã.

“An này...”

Tiếng gọi khẽ khàng như hơi thở kéo Hoài An trở về thực tại. Thục Quyên đã bước xuống bậc tam cấp, thau nước phèn chua trên tay cô đã được đặt nép vào góc tường. Những giọt nước mưa li ti đọng trên những sợi tóc mai mềm mại xõa ngang trán, đôi mắt bồ câu của cô dù còn hằn sâu những quầng thâm sau bao đêm thức trắng nhưng ánh nhìn lại trong văn vắt, bình thản đến lạ kỳ.

“Anh đừng lo cho em,” Quyên nói, khóe môi thoáng nở một nụ cười mong manh để trấn an anh. “Chợ Đồng Xuân lớn lắm, Bách có tiền nhưng chưa che nổi cả bầu trời đất Hà Nội này đâu. Người ta không bán sỉ cho em thì em mua lẻ, người ta chèn ép chỉ may thì em rút sợi từ vải thừa để bọc viền. Em không chết đói được đâu.”

Hoài An nhìn sâu vào mắt cô, cổ họng anh nghẹn ứ. Anh đưa bàn tay còn vương vết dầu luyn định chạm vào vai cô, nhưng rồi lại rụt lại vì sợ làm bẩn chiếc áo sơ mi màu cỏ úa thanh sạch.

“Quyên... tôi không lo chuyện hắn dọa em ngoài chợ,” giọng An trầm đục, đượm vẻ tự trách khôn nguôi. “Tôi chỉ giận bản thân mình vô dụng. Đã hứa đứng ra bảo bọc cho ba chị em, vậy mà ngay lúc này cỗ máy tiện lại dở chứng. Mô tơ cháy rụi cuộn dây stator rồi. Không có máy chạy, lấy đâu ra bạc lót để nộp cho ban kiểm định? Không qua được đợt này, xưởng của thầy tôi coi như xóa sổ, mà năm vạn bạc nợ của em...”

“Anh An!” Quyên ngắt lời anh, giọng cô dứt khoát nhưng chan chứa nỗi niềm tha thiết. “Anh đã vì em mà dám lấy cả cơ nghiệp của gia đình ra đánh cược trước họng súng của bọn côn đồ, em mang ơn anh cả đời chưa trả hết. Cơ trời có sụp xuống thì hai đứa mình cùng gánh, anh tuyệt đối không được nói lời nản chí!”

Cô bước lại gần hơn nửa bước, đưa bàn tay nhỏ nhắn nhưng thon dài của người thợ may khẽ giữ lấy cổ tay anh. Sự ấm áp từ những ngón tay cô truyền qua lớp da thịt chai sần khiến tim An khẽ run lên.

“Bây giờ, việc quan trọng nhất là cứu cái mô tơ,” Quyên nhìn thẳng vào mắt anh, giọng thì thầm đầy quả quyết. “Cần bao nhiêu tiền mua dây đồng tráng men, anh cứ bảo em. Dù có phải bán chiếc máy may con bướm này đi, em cũng...”

“Không đời nào!” Hoài An gạt phắt đi, ánh mắt anh lóe lên tia kiên định đanh thép. “Chiếc máy may đó là mạng sống của em và hai cháu, là kỷ vật mẹ em để lại. Thằng An này dù có phải đi bốc vác thâu đêm suốt sáng ở bến phà Đen cũng không bao giờ để em đụng đến nó!”

Anh hít một hơi thật sâu, luồng không khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi như làm đầu óc anh bừng tỉnh. Đưa tay sờ lên cổ tay trái của mình, nơi cộm lên mặt kính tròn của chiếc đồng hồ Poljot mười bảy chân kính mạ vàng – món quà vô giá mà người chú ruột là liệt sĩ đường sắt Trường Sơn để lại trước khi hy sinh – An cắn chặt môi dưới. Chiếc đồng hồ này là báu vật duy nhất anh có thể đem ra hiệu cầm đồ trên phố Hàng Buồm hoặc mang ra chợ Giời đổi lấy vài cân dây đồng tráng men loại một.

“Em trông chừng xưởng giúp tôi một lát,” An dặn dò vội vã, xoay người toan dắt chiếc xe đạp Thống Nhất khung nam cũ kỹ dựng cạnh bờ rào. “Tôi lên phố kiếm mối dây đồng. Tối nay, bằng mọi giá tôi phải quấn lại cho xong các cuộn dây!”

Thế nhưng, khi bánh xe đạp của Hoài An vừa chạm vào vũng nước mưa đầu ngõ, một tràng âm thanh huyên náo bỗng từ phía đường ray xe lửa ùa tới.

Tiếng bước chân rầm rập trên nền đá dăm hòa cùng tiếng kim loại va lách cách. Ánh sáng vàng vọt của những chiếc đèn bão, đèn pin ba pin Trung Quốc quét loang loáng qua những vách tường xám xịt của xóm ga.

Dẫn đầu đoàn người là bác Cả Thiện. Chiếc áo dạ công nhân đường sắt màu xanh công nhân của ông ướt đẫm sương đêm, nhưng khuôn mặt phong trần đầy những nếp nhăn sâu hoắm lại rạng ngời một vẻ uy nghiêm đầy khí thế. Đi ngay sau ông là gần hai chục con người: có những bác thợ già đầu tóc bạc phơ của đội duy tu ghi tàu đã nghỉ hưu, có những thanh niên bốc vác lực lưỡng ở ga hàng hóa, và cả những người phụ nữ lam lũ b*n n**c chè, bánh mì pa-tê dạo quanh sân ga Hàng Cỏ.

“Thằng An! Mày dắt xe đi đâu đấy hả con?” Tiếng bác Cả Thiện sang sảng vang lên xé toang bầu không khí ảm đạm của ngõ nhỏ.

Hoài An sững sờ dừng xe, ngơ ngác nhìn đoàn người đang kéo vào chật ních cả khoang sân nhỏ trước xưởng tiện. Ông Tấn bên trong nhà cũng giật mình chống gậy tập tễnh bước ra bậu cửa, đôi mắt mờ đục mở to đầy kinh ngạc.

“Bác Cả... bà con... có chuyện gì thế ạ?” An ấp úng hỏi.

Bác Cả Thiện dừng lại trước mặt An, chống chiếc gậy tre xuống đất cái “cộc”, quắc mắt nhìn vào chiếc đồng hồ trên tay anh rồi lại liếc sang cỗ máy tiện đang phủ bạt trong xưởng. Khẽ hắng giọng một tiếng thật vang, ông quay lại nhìn khắp lượt bà con lối xóm:

“Có chuyện gì à? Chuyện lớn đấy mày ạ! Ban nãy thằng ranh con Quốc Bách nó cậy tiền cậy thế đến đây làm càn, cả cái xóm ga này tai chưa điếc mắt chưa mù, ai cũng nghe thấy hết! Nó tưởng dân thợ đường tàu này nghèo là hèn chắc? Nó tưởng nó có mấy đồng bạc buôn lậu là muốn b*p ch*t ai thì bóp à?”

Một bác thợ già trạc tuổi ông Tấn, khoác chiếc áo trấn thủ rách mép, bước lên phía trước, đặt uỵch một bao tải gai xuống nền sân gạch. Từ trong bao tải, một đoạn dây cáp đồng to bằng cổ tay và mấy cuộn dây đồng tráng men bóng loáng lộ ra, phản chiếu ánh đèn bão lấp lánh như vàng ròng.

“Anh Tấn, thằng An!” Bác thợ già cất tiếng, giọng khàn đặc vì khói thuốc lào lâu năm. “Tôi là thằng Cường 'điện' ở trạm bảo dưỡng đầu máy đây. Nghe tin mô tơ con máy 1A62 của anh bị chập cuộn dây, tôi chạy ngay về nhà bới cái hòm đồ nghề thời còn làm việc với chuyên gia Tiệp Khắc. Chỗ này là dây đồng men cỡ một ly hai, hàng xịn của Liên Xô tôi dành dụm từ hồi sửa máy phát điện năm tám lăm, lớp verni cách điện còn nguyên mùi dầu bóng, chịu nhiệt hạng B đàng hoàng! Anh em xóm ga gom góp lại mang sang cho hai bố con anh quấn lại mô tơ đấy!”

Chưa để Hoài An kịp hoàn hồn, hai anh thanh niên bốc vác vạm vỡ khác lại hò dô khiêng vào một khối kim loại nặng trịch, thở phì phò đặt xuống cạnh chân bàn tiện. Đó là một đoạn thanh ray xe lửa cũ đã được cưa ngắn, mác thép sáng choang không một gợn rỉ, kèm theo đó là hàng chục vòng bi lớn nhỏ và những mẩu phôi thép tròn đặc quánh.

“Anh An ơi!” Một người trong số họ gạt mồ hôi trán, cười toe toét để lộ hàm răng ám khói. “Tụi em bên kho hàng ga Giáp Bát nghe bác Thiện báo tin xưởng mình thiếu nguyên liệu đối ứng đợt thi tay nghề ngành hỏa xa. Tụi em gom sạch những thanh giằng, chốt trục thép hợp kim phế liệu đạt chuẩn chịu lực cao của các toa xe cũ đem về đây cho anh. Dân đường sắt chúng mình sống nhờ tiếng còi tàu, chết chôn cạnh đường ray, tuyệt đối không thể để cái xưởng tiện trăm năm của cụ Đặng bị một thằng buôn chuyến làm cho bẽ mặt!”

“Đúng đấy! Xóm ga này tối lửa tắt đèn có nhau!”

“Bố con bác Tấn cứ yên tâm mà làm, chúng tôi không có tiền vạn bạc triệu, nhưng sắt thép với sức người thì xóm này không bao giờ thiếu!”

Những tiếng hô, tiếng cười, tiếng bàn tán râm ran bỗng chốc bùng lên như một ngọn lửa sưởi ấm cả gian nhà cấp bốn lạnh lẽo. Bà Mùi từ trong gian bếp tất tả chạy ra, hai tay ôm chiếc ấm tích ủ trong giỏ bọc vải vụn, nước mắt rưng rưng vì xúc động. Ông Tấn đứng tựa vào khung cửa gỗ, bờ vai gầy gò của người thợ già khẽ run lên. Bàn tay ông run rẩy nắm lấy bàn tay thô ráp của bác Cường 'điện', môi mấp máy hồi lâu mới thốt nên lời:

“Các bác... bà con... tôi... tôi đội ơn mọi người nhiều lắm...”

Hoài An đứng giữa khoảng sân ngập tràn tình nghĩa xóm giềng, ngực anh thắt lại trong một niềm xúc động nghẹn ngào chưa từng thấy. Anh nhìn những cuộn dây đồng óng ánh, nhìn những gương mặt sạm đen vì nắng gió và khói than của những người phu bến bãi, những người thợ đường sắt lam lũ. Họ cũng nghèo, bữa cơm hàng ngày có khi chỉ toàn độn ngô, độn khoai lang khô, manh áo mặc trên người vá chằng vá đụp, vậy mà khi xưởng của anh gặp hoạn nạn, họ sẵn sàng dốc cạn những gì quý giá nhất trong đáy hòm mang đến tương trợ.

Đây chính là cốt cách của đất Tràng An, là cái tình sâu nặng của những con người gắn đời mình với từng mét ray hỏa xa! Trước cái tình ấy, năm vạn bạc nợ nần hay những thủ đoạn hèn hạ của Quốc Bách bỗng chốc trở nên nhỏ nhen, thảm hại đến tột cùng.

Đúng lúc ấy, một giọng nói sang sảng, giòn tan đậm đặc chất Nam Bộ bất ngờ vang lên từ đầu ngõ, phá tan bầu không khí xúc động:

“Trời đất quỷ thần thiên địa ơi! Xóm mình bữa nay có hội hè chi mà đông vui quá chừng vậy nè mấy cô mấy bác?”

Mọi ánh mắt lập tức đổ dồn ra cổng.

Dưới ánh đèn bão hắt hiu, chị Bé Hai sải những bước chân chắc nịch bước vào. Chị mặc một chiếc áo bà ba màu mỡ gà bằng lụa satin mượt mà, chiếc khăn rằn vắt vẻo trên bờ vai đẫy đà, trên tay xách theo một chiếc làn mây to đùng đựng đầy hoa quả và những gói bánh pía Sài Gòn thơm phức mùi sầu riêng.

Nhưng điều khiến tất cả mọi người phải sững sờ, nín thở chính là hình bóng người phụ nữ đang ngượng ngùng bước ra từ phía sau lưng chị.

Đó là Thục Quyên.

Cả khoang sân bỗng chốc im bặt như tờ. Tiếng gió bấc gầm rít ngoài bãi ga dường như cũng phải chùng xuống trước một vẻ đẹp thanh tao, kiêu hãnh đến sững sờ.

Quyên đã thay chiếc áo sơ mi cỏ úa bằng chiếc áo dài may thử nghiệm bằng mảnh lụa tơ tằm Nam Bộ màu tím hoa cà mà chị Bé Hai đã giao cho cô ban trưa. Dưới ánh sáng lung linh của ngọn đèn bão, chất lụa Tân Châu dệt thủ công óng ánh lên những dải vân chìm huyền ảo như sóng nước Cửu Long.

Nhưng tuyệt mỹ nhất chính là phom dáng của chiếc áo. Không còn sự gò bó, cứng nhắc hay lùng bùng của những chiếc áo dài may theo lối cũ thời bao cấp, Quyên đã khéo léo áp dụng kỹ thuật cắt cúp đề-cúp hiện đại dọc hai bên sườn, ôm sát lấy vòng eo thon thả con kiến của cô một cách mềm mại đến nghẹt thở. Cổ áo được khoét dáng cổ thuyền lượn sóng nhẹ nhàng, để lộ chiếc cổ cao ba ngấn trắng ngần và đôi xương quai xanh thanh tú của người con gái Hà thành. Hai tà áo buông rủ tha thướt, rẽ sóng theo từng bước chân ngập ngừng, tà trong tà ngoài bay nhẹ như một làn mây tím lướt qua xóm ga nghèo nàn, bụi bặm.

Hoài An chết lặng. Bàn tay anh buông thõng chiếc cờ-lê xuống đất từ lúc nào không hay. Anh ngắm nhìn cô gái mà mình thầm thương trộm nhớ suốt bao năm qua, ngỡ như đang chiêm ngưỡng một nàng tiên bước ra từ những bức tranh tố nữ Hàng Trống cổ kính. Đôi gò má Quyên ửng hồng dưới cái lạnh đầu đông, đôi mắt bồ câu lấp lánh ánh nước ngước nhìn anh, e ấp mà chan chứa một niềm kiêu hãnh khôn cùng.

“Trời ơi... Đẹp quá thể!” Một bà cụ b*n n**c chè chén đầu ngõ buột miệng thốt lên, buông rơi cả chiếc quạt nan trên tay.

“Khéo tay quá con bé Quyên ơi! Nhìn mày mặc chiếc áo này, tao ngỡ như các bà tú, cô ba Tràng An thời xưa sống lại!” Bác Cả Thiện vuốt chòm râu bạc, trầm trồ thán phục.

Chị Bé Hai thấy mọi người ngây ngất thì vỗ đùi đánh đét một cái, cười ha hả đầy đắc ý:

“Thấy chưa! Tôi nói có sai đâu! Mấy người ngó kỹ coi con nhỏ Quyên nó may nè! Tôi buôn vải dọc từ chợ Bến Thành ra tới chợ Đồng Xuân, chưa thấy đứa nào có đôi bàn tay vàng ngọc như con nhỏ này! Ban nãy tôi vừa ở nhà trọ qua, thấy nó vừa ủi xong chiếc áo là tôi bắt nó mặc thử liền để tôi coi mắt. Đẹp tới mức chim sa cá lặn, quỷ hờn thần khóc luôn hà!”

Chị Bé Hai quay ngoắt sang nhìn Thục Quyên, ánh mắt tràn đầy sự yêu mến và nể phục thực lòng. Rồi chị đảo mắt nhìn quanh xóm ga, nhìn những cuộn dây đồng, những đoạn thép vụn và vẻ mặt lo toan còn vương trên khóe mắt của cô thợ may trẻ.

“Mà nè, nãy giờ tôi đứng ngoài ngõ nghe hết trơn rồi nghen!” Giọng chị Bé Hai bỗng đanh lại, hào sảng và đầy khí phách của dân thương hồ phương Nam. “Cái thằng mặt trắng Quốc Bách gì đó dám vác xe máy tới đây dọa dẫm con gái nhà lành hả? Nó tưởng cái chợ Đồng Xuân là cái ao làng nhà nó chắc? Nó cấm người ta bán chỉ may cho em hả Quyên? Mắc cười ghê nơi!”Chị đặt chiếc làn mây đánh rầm lên chiếc bàn cắt gỗ của Quyên, kéo phéc-mơ-tuya chiếc xắc cốt bằng da cá sấu đeo bên hông, lôi ra một cọc tiền giấy loại năm mươi đồng đỏ au dày cộp, ném thẳng xuống bàn phát ra một tiếng “bộp” giòn giã:

“Nè em gái! Chị Hai mày không có gì ngoài lụa với tiền mặt! Toàn bộ số tơ tằm Nam Bộ, chỉ thêu bóng, cúc bọc kim loại xịn nhất trắc trong, chuyến tàu Thống Nhất ngày mốt cập bến ga Hàng Cỏ sẽ chở ra nguyên hai thùng tô-nô cho mày xài m*t mùa! Còn đây là hai vạn bạc tiền mặt, chị đặt cọc trước cho mày năm mươi bộ áo dài lụa kiểu này!”

Cả sân xóm ga lại một lần nữa ồ lên kinh ngạc. Hai vạn bạc! Một con số khổng lồ giữa thời điểm lạm phát phi mã năm 1988, đủ để mua được cả nửa căn nhà phố nhỏ hoặc một chiếc xe máy bãi Nhật xịn!

Chị Bé Hai bước tới, nắm chặt lấy hai bàn tay đang run lên vì xúc động của Thục Quyên, chân thành nói:

“Nói cho mày nghe nè Quyên. Tết Kỷ Tỵ năm nay, giới tiểu thương Chợ Lớn với mấy bà mệnh phụ Sài Gòn đang rộ lên mốt diện áo dài tân thời đi trẩy hội. Mẫu áo lụa tím thắt eo đề-cúp này của mày mang vô trắc đó, tao cam đoan bán đắt như tôm tươi, giá nào người ta cũng tranh nhau mua! Năm mươi bộ này mày may cho tao từ giờ tới hăm ba tháng Chạp. May xong, tao trả trọn gói cho mày thêm ba vạn nữa là tròn năm vạn tiền công! Mày cầm lấy số tiền cọc này, trả dứt điểm cho bọn chủ nợ hụi họ đi, ngẩng cao đầu lên mà sống, nghe hôn cưng?”

Nước mắt Thục Quyên trào ra, lăn dài trên gò má mịn màng, làm ướt đẫm một vạt lụa tím trước ngực. Nỗi tủi nhục, đắng cay, những áp lực đè nặng lên đôi vai gầy suốt mấy tháng trời kể từ ngày mẹ mất bỗng chốc tan biến như mây khói trước tình người nồng ấm. Cô run rẩy cúi đầu:

“Chị Hai... em... em không biết lấy gì để đền đáp ơn chị...”

“Ơn nghĩa cái con khỉ mốc!” Chị Bé Hai gạt đi, cười sang sảng. “Tao là dân buôn bán, thấy mối hời thì tao chụp, thấy người tài thì tao trọng! Mày có tài, mày giữ được cái nết trong sạch, ông trời không bao giờ triệt đường sống của mày đâu!”

Bác Cả Thiện vỗ tay bôm bốp, cười rạng rỡ:

“Tuyệt vời! Đúng là trời cao có mắt! Nào bà con xóm ga, cô Quyên đã có mối làm ăn lớn, thằng An đã có dây đồng với thép tốt, chúng ta còn đứng đấy làm gì nữa? Chị em phụ nữ xúm vào gác xép phụ cô Quyên cắt vải, đơm cúc, vắt sổ! Còn cánh đàn ông thợ thuyền, theo tôi sang xưởng thằng An quấn lại mô tơ máy tiện! Đêm nay, xóm đường tàu chúng ta không ngủ!”

“Không ngủ! Làm tới sáng luôn!”

Tiếng hò reo vang dội xé toang màn đêm u tối. Cả xóm ga Hàng Cỏ như biến thành một công trường rực lửa nghĩa tình.

Trên căn gác xép nhỏ của Thục Quyên, ngọn đèn măng-xông được bơm căng, tỏa ánh sáng trắng rực rỡ như ban ngày. Mùi vải mới thơm ngát quyện với mùi trà gừng nóng hổi. Năm sáu người phụ nữ trong xóm, từ bà Mùi tần tảo cho đến mấy cô gái trẻ thạo việc khâu vá, xúm quanh chiếc bàn cắt gỗ. Chị Bé Hai xắn tay áo bà ba, đích thân cầm kéo phụ cắt những đường viền tà lớn, miệng liến thoắng kể những câu chuyện tiếu lâm miền Tây khiến căn gác rộn rã tiếng cười nói giòn tan. Hai đứa em của Quyên, bé Hiền và c* Toàn, mặt mày hớn hở bưng từng đĩa bánh pía mời các bà, các bác, đôi mắt sáng ngời niềm hy vọng.

Trong khi đó, bên xưởng tiện Đặng gia, không khí lại mang một vẻ khẩn trương, đanh thép của những người lính kỹ thuật bước vào trận đánh quyết định.

Chiếc stator của động cơ ba pha máy tiện 1A62 được đặt trang trọng trên chiếc bàn nguội bằng gỗ nghiến. Bác Cường 'điện' đeo đôi kính lão gãy gọng buộc dây chun, tay cầm kéo chuyên dụng, cùng ông Tấn và Hoài An cẩn thận nạo sạch những mảng cách điện cháy khét lẹt trong các rãnh thép kỹ thuật điện.

“An này, luồn giấy micanit cách điện vào rãnh phải thật êm tay, mép giấy thò ra ngoài miệng rãnh đúng hai ly rưỡi, không được để xước lớp verni mỏng của lõi thép, nghe con!” Ông Tấn vừa dùng que tre ấn nhẹ từng lớp giấy cách điện, vừa cẩn thận chỉ dẫn con trai. Đôi mắt người thợ già sáng quắc lên ngọn lửa nghề nghiệp, bàn chân đau dường như đã bị lãng quên hoàn toàn.

“Vâng, con nhớ rồi thầy!” Hoài An thoăn thoắt đôi bàn tay.

Dưới sự trợ giúp của bác Cường và hai anh thợ điện trẻ tuổi xóm ga, từng bối dây đồng tráng men Liên Xô đỏ au, óng ả được luồn chuẩn xác vào các rãnh stator theo đúng sơ đồ quấn dây bước kép mà ông Tấn thuộc nằm lòng. Từng sợi dây được nắn thẳng tắp, ép chặt bằng những chiếc nêm tre ngâm dầu luyn già. Những ngón tay thon dài của Hoài An thoăn thoắt đan cài, luồn ống gen thủy tinh cách điện qua các đầu mối nối, buộc chặt các bối dây bằng sợi chỉ gai tẩm sáp trắng phau.

Mồ hôi túa ra trên trán An, lăn dài qua sống mũi rồi rơi xuống mặt bàn gỗ cái “tách”, nhưng ánh mắt anh không hề rời khỏi các cuộn dây dù chỉ một phần mười giây. Anh dồn toàn bộ tâm trí, sức lực và cả lòng biết ơn vô hạn của mình vào từng vòng dây quấn. Đây không chỉ là việc sửa chữa một cỗ máy, mà là anh đang đan dệt lại niềm tin, danh dự của gia đình và tương lai của tình yêu đời mình.

Đến nửa đêm, công đoạn quấn dây hoàn tất. Bác Cường cẩn thận dùng chiếc đồng hồ vạn năng kim chỉ của Nhật đo thông mạch và kiểm tra độ cách điện giữa các pha với vỏ máy. Chiếc kim đồng hồ đứng im phăng phắc ở thang đo vô cực.

“Tốt lắm! Cách điện tuyệt đối!” Bác Cường reo lên, vỗ đùi đánh đét.

Lớp sơn cách điện màu cánh gián được quét đều lên khắp các bối dây, tỏa ra mùi hăng hăng nồng ấm quen thuộc. Ba chiếc bóng đèn dây tóc công suất năm trăm oát được kéo sát vào lòng stator để sấy khô sơn c**ng b*c. Hơi nóng tỏa ra hầm hập, xua tan hoàn toàn cái lạnh buốt giá của đêm đông Hà Nội.

Đến hai giờ sáng, sau khi lớp sơn đã khô cong và bóng loáng như tráng men sứ, Hoài An cùng các bác thợ cẩn thận lắp ráp lại trục roto, siết chặt từng con bu-lông nắp máy, căng lại dây curoa truyền động nối với hộp số trục chính.

Hoài An đứng trước chiếc cầu dao sứ ba pha gắn trên vách tường. Bàn tay anh run lên nhè nhẹ. Cả xưởng tiện bỗng chốc im phăng phắc. Ông Tấn, bác Cả Thiện, bác Cường và những người thợ đường sắt đều nín thở dõi theo từng cử động của anh.

Bên kia đường ray, từ ô cửa sổ gác xép tiệm may, Thục Quyên cũng đang buông chiếc kéo xuống, tựa vào bậu cửa nhìn sang. Dưới ánh sáng vàng vọt hắt ra từ xưởng tiện, ánh mắt cô và anh chạm nhau qua làn mưa bụi mỏng manh. Quyên khẽ mỉm cười, đôi môi mấp máy như muốn gửi gắm trọn vẹn niềm tin yêu vào bàn tay anh.

Hoài An hít một hơi thật sâu. Anh gạt chiếc cần gạt cầu dao sứ lên trên cái “tạch”!

Rầm... ù... ù...

Một tiếng gầm trầm hùng, êm ái vang lên! Động cơ ba pha rùng mình một cái rồi lập tức quay tít mù! Trục chính của chiếc máy tiện 1A62 chuyển động nhịp nhàng, dây curoa cao su lướt đi vun vút, cuốn theo làn gió mát rượi thổi bay những hạt bụi than đá bám trên mâm cặp! Chiếc máy tiện Tiệp Khắc kiêu hãnh đã sống lại, tiếng máy chạy êm ru như tiếng thở của một người khổng lồ vừa thức giấc sau cơn bạo bệnh!

“Chạy rồi! Máy chạy êm lắm!”

“Hoan hô bố con anh Tấn! Hoan hô thằng An!”

Tiếng reo hò vỡ òa xé tan màn đêm tĩnh mịch của xóm ga Hàng Cỏ. Bác Cả Thiện ôm chầm lấy ông Tấn, hai người thợ già mái đầu bạc phơ cười mà khóe mắt giàn giụa nước. Hoài An đứng sững bên bàn máy, lồng ngực anh phập phồng run rẩy. Anh đưa mắt nhìn sang khung cửa sổ gác xép, thấy Quyên đang đưa tay áo lụa lau vội giọt nước mắt lăn trên má, nụ cười rạng rỡ như một đóa hoa đào chớm nở trong sương sớm.

Mọi người ùa vào bắt tay, chúc mừng rồi lục tục rủ nhau ra quán nước chè đầu ngõ làm vài điếu thuốc lào ăn mừng thắng lợi bước đầu. Bác Cường và các anh thợ điện cũng ra về để chợp mắt vài tiếng trước giờ vào ca sáng.

Xưởng tiện chỉ còn lại hai cha con Hoài An. Ánh đèn dây tóc soi rọi đống sắt thép phế liệu mà bà con xóm ga gom góp mang sang ban nãy, nằm chất đống ở góc tường cạnh đống bao tải gai ẩm ướt.

“Thầy vào nghỉ đi ạ, để con dọn dẹp nốt chỗ phôi thép này,” An đỡ cha ngồi xuống chiếc ghế dài, ân cần nói.

Ông Tấn vỗ nhẹ vào mu bàn tay con trai, ánh mắt tràn đầy sự tự hào và thanh thản:

“Thầy không mệt. Con cứ kiểm tra lại đống thép bà con cho đi. Xem có mẩu nào đường kính đủ lớn, mác thép đủ tốt để sáng mai bắt tay vào tiện cụm bạc lót thử nghiệm không. Thời gian của chúng ta chỉ còn đúng ba mươi tiếng nữa thôi đấy.”

Hoài An gật đầu. Anh bước lại gần góc xưởng, ngồi xổm xuống bên đống kim loại lộn xộn. Anh nhặt từng mẩu thép tròn, dùng chiếc giũa ba cạnh cọ mạnh lên bề mặt để kiểm tra độ cứng. Có những thanh thép xây dựng quá mềm, có những đoạn ray thép mangan thì quá giòn và khó gia công đạt độ bóng bề mặt vi mô. Tất cả đều chưa đạt đến độ hoàn hảo tuyệt đối của một chi tiết chịu tải trọng hàng trăm tấn của đầu máy xe lửa.

Bỗng nhiên, ánh mắt Hoài An va phải một góc bao tải rách nằm sâu dưới đáy đống phế liệu. Một góc kim loại lộ ra, không hề có màu rỉ sét đỏ quạch như những thanh sắt thông thường, mà phủ một lớp oxit màu xanh đen thẫm, mịn màng và đanh chắc như đá hoa cương.

Tim Hoài An bỗng đập thình thịch một cách kỳ lạ. Giác quan nhạy bén của một người thợ tiện bậc cao mách bảo anh rằng có một điều gì đó phi thường đang ẩn giấu bên dưới.

Anh vội vã gạt phăng những thanh sắt vụn bên trên, hai tay túm lấy mép bao tải giật mạnh ra.

Một thanh cốt trục bằng thép đặc, đường kính khoảng tám mươi mi-li-mét, dài chừng một mét lộ ra trước mắt anh. Thanh thép nặng trịch, ước chừng phải hơn bốn chục cân. Trên thân trục, dưới lớp dầu bảo quản cổ xưa đã khô cứng thành màng keo, hiện lên một hàng chữ và con số dập chìm bằng khuôn đồng tinh xảo:

“C.F.I. - HANOI - 1928 - ACIER AU NICKEL-CHROME”

Hoài An sững sờ, toàn thân run lên bần bật. C.F.I. – Compagnie des Chemins de Fer de l'Indochine – Công ty Hỏa xa Đông Dương thời Pháp thuộc! Đây chính là thanh cốt trục truyền động của những chiếc đầu máy hơi nước huyền thoại chạy tuyến Hà Nội – Hải Phòng từ thập niên hai mươi của thế kỷ trước!

Anh lập tức với lấy chiếc búa nguội nhỏ và chiếc đục thép bén ngót. Đặt lưỡi đục lên góc vát của thanh kim loại, An gõ nhẹ một tiếng “keng”!

Âm thanh phát ra trong trẻo, ngân vang trầm bổng như tiếng chuông đồng hồ cổ, dư âm rung rinh hồi lâu mới dứt trong không gian tĩnh mặng. Đó là thứ âm vang chỉ có ở loại thép hợp kim Niken - Crom rèn thủ công trong các lò cao luyện kim danh tiếng của châu Âu hồi đầu thế kỷ hai mươi – một loại thép không tì vết, không bọt khí, độ dẻo dai và khả năng chống mài mòn đạt đến mức độ hoàn mỹ mà ngay cả những phôi thép công nghiệp hiện đại thời nay cũng khó lòng sánh kịp!

“Thầy ơi...” Hoài An cất tiếng gọi, giọng anh lạc đi vì xúc động tột cùng. “Thầy nhìn xem này... Thầy nhìn xem bà con xóm ga đã mang gì đến cho chúng ta này!”

Ông Tấn lập cập chống gậy bước lại, đôi mắt già nua nhìn chằm chằm vào hàng chữ dập nổi trên thanh thép cổ. Đôi môi ông run rẩy, những ngón tay gầy guộc run run v**t v* bề mặt kim loại mát lạnh như đang chạm vào một báu vật gia truyền bị thất lạc nửa thế kỷ.

“Trời Phật phù hộ cho xóm ga chúng ta rồi con ơi...” Người thợ già thốt lên, nước mắt một lần nữa trào ra nơi khóe mi. “Thanh thép này... chính là cái cốt cách của ngành hỏa xa trăm năm! Có nó rồi, chiếc bạc lót của con tiện ra ngày mai... sẽ là một tuyệt tác không ai trên đời này có thể đánh bại được!”

Ngoài sân ga Hàng Cỏ, một hồi còi tàu đêm bỗng gióng giả rúc lên vang rền, xé toang màn sương giá, báo hiệu đoàn tàu chuyến sớm đang rầm rập tiến vào thềm ga bình minh.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn