Gió bấc cuối đông rít từng hồi qua những khe liếp nứa của xưởng tiện Đặng gia, mang theo cái lạnh thấu xương của sương muối đồng bằng Bắc Bộ tràn vào lòng phố Khâm Thiên. Nhưng bên trong bốn bức tường gạch vồ tróc lở nồng nặc mùi dầu luyn và mạt sắt, không khí lại hầm hập như một lò nung.
Ngọn lửa lò rèn bễ thụt đặt ở góc xưởng bùng lên đỏ rực, soi rõ từng giọt mồ hôi đặc quánh đang rịn ra từ trán, chảy tràn qua gò má sạm đen vì khói than của Đặng Hoài An. Chiếc áo công nhân màu xanh công nhân đường sắt đã bạc phếch ở hai đầu vai ướt đẫm mồ hôi, dán chặt vào tấm lưng rộng vững chãi của người thợ trẻ.
Trước mặt anh, thanh thép hợp kim mang dòng chữ dập chìm “C.F.I. - HANOI - 1928 - ACIER AU NICKEL-CHROME” đã được cưa đứt một đoạn chuẩn xác bằng cưa tay và lưỡi thép gió P18. Đoạn phôi thép dài chừng ba mươi phân, nặng trĩu, sẫm màu xanh đen như đá hoa cương ngàn năm dưới đáy vực, giờ đây đang nằm trọn trong lòng máng than đá cháy đượm.
“An này, giữ nhịp bễ cho đều!” Tiếng ông Đặng Văn Tấn khàn đặc vang lên bên cạnh đe thép.
Ông Tấn đứng tựa vào chiếc gậy gỗ nghiến, chiếc chân thọt vì mảnh đạn năm xưa hơi run rẩy, nhưng đôi mắt kèm nhèm của người thợ già từng kinh qua mấy mươi năm bên đường ray hỏa xa lúc này lại sáng quắc một cách lạ thường. Ông cầm chiếc kẹp sắt dài ngoằng, chăm chú nhìn vào màu sắc của thanh thép đang biến đổi từng giây trong lòng lửa:
“Thép Niken - Crom cổ của Tây rèn lò cao không giống thép lò chợ bây giờ đâu con. Nó lỳ lợm, dẻo dai nhưng cũng khó tính như một con ngựa bất kham. Lửa non thì giòn, lửa già thì cháy rỗ mạng tinh thể. Nhìn màu lửa đi con, bao giờ nó chuyển từ màu đỏ mận sang màu đỏ rơm, rực lên ánh da cam óng như vỏ quả quýt chín dưới nắng thì mới được gắp ra nhúng dầu tôi!”
“Con nhớ rồi, thầy!” Hoài An trầm giọng đáp, hai cánh tay gân guốc siết chặt lấy cần gạt bễ thụt, đều đặn kéo vào đẩy ra.
Từng luồng gió phì phò thổi bốc tàn than hoa bay lơ lửng giữa gian xưởng tĩnh mịch. Trong đầu An lúc này cuồn cuộn những dòng ghi chép tỉ mỉ bằng mực Cửu Long xanh tím trong cuốn sổ tay bìa bọc giấy xi măng của thợ cả Doãn bên Xưởng đầu máy Gia Lâm: “Thép hợp kim có hàm lượng Niken cao phải tôi trong dầu khoáng có độ nhớt trung bình, nhiệt độ dầu phải giữ từ bốn mươi đến năm mươi độ C, sau đó ram hạ ứng suất dư ở hai trăm sáu mươi độ trong hai giờ đồng hồ liền...”
Kinh nghiệm nửa đời người của người cha thợ già hòa quyện vào tri thức luyện kim hiện đại mà An vừa lĩnh hội. Giờ đây, chúng đang được đúc kết lại trên chính đôi bàn tay chai sạn của anh.
“Màu đỏ rơm rồi! Gắp ra mau!” Ông Tấn đột ngột hô lớn.
Hoài An thoăn thoắt buông cần bễ, vớ lấy chiếc kẹp rèn đại bản. Hai cánh tay anh gồng lên, từng múi cơ bắp cuồn cuộn dưới lớp da bánh mật. Kẹp sắt ngoạm chặt lấy đoạn phôi thép đang rực sáng như một thỏi than hồng khổng lồ, rút phắt ra khỏi lò rồi dìm thẳng xuống thùng dầu luyn pha dầu thực vật đã được đun ấm sẵn cạnh bệ máy.
Xèo...!
Một tiếng rít chói tai bùng lên, kèm theo cột khói trắng đục nồng nặc mùi hăng hắc của dầu khoáng cháy bốc thẳng lên mái ngói fibro-xi măng. Hoài An giữ chặt chuôi kẹp, hai mắt không rời mặt dầu đang sôi sùng sục sủi bọt tăm li ti. Dưới đáy thùng dầu, mẩu phôi thép đang từ từ nhả nhiệt, các mạng tinh thể kim loại sắp xếp lại thành một cấu trúc Mactenxit siêu bền, đạt đến độ cứng hoàn mỹ đủ sức chịu đựng hàng vạn vòng quay nghiền nát của trục bánh xe lửa xuyên Việt.
Sau công đoạn ram mềm hạ ứng suất trong lò ủ tro trấu ấm, thanh phôi nguội dần về nhiệt độ phòng. Hoài An nhấc nó lên, dùng giẻ lau sạch lớp dầu đen bám bên ngoài. Khối kim loại lộ ra với sắc xám ánh bạc mờ lạnh lẽo, gõ nhẹ vào thân đe nghe đanh gọn như tiếng ngọc khánh.
“Phôi tuyệt lắm!” Hoài An khẽ thở phào, quệt mồ hôi trên trán.
Nhưng trận chiến thật sự bây giờ mới chính thức bắt đầu.
Thời gian trên chiếc đồng hồ con gà Liên Xô treo trên vách xưởng đã điểm hai giờ sáng. Hạn chót nộp cụm bạc lót thử nghiệm cho Hội đồng Kiểm định Tổng cục Đường sắt tại Ga Hàng Cỏ chỉ còn đúng mười tiếng đồng hồ nữa.
Chiếc máy tiện 1A62 vừa được quấn lại stator bằng những sợi dây đồng quý giá của bà con xóm ga đứng sừng sững giữa xưởng như một chiến mã vừa hồi sinh sau cơn bạo bệnh. Hoài An bước đến bên bệ máy, bàn tay v**t v* từng con ốc, cần gạt tốc độ và ụ gá dao. Anh cúi xuống, nhấc đoạn phôi thép C.F.I. lên, cẩn trọng lắp vào mâm cặp ba chấu tự định tâm.
Từng vòng quay của chiếc tay vặn siết chặt các chấu thép vào thân phôi. An lấy chiếc búa đồng nhỏ, gõ nhẹ từng góc, mắt dán sát vào đầu rơ-ve, dùng chiếc đồng hồ so Liên Xô mượn được để rà tròn. Kim đồng hồ nhích qua nhích lại, từng vạch chia mỏng như sợi tóc. Hoài An nín thở, gõ nhẹ, nới ốc rồi lại siết... Cho đến khi chiếc kim đồng hồ so đứng im phắc, độ đảo của phôi được khống chế ở mức dưới một phần trăm milimet.
“Mũi dao gọt thô thép gió P18 đã mài lại góc thoát hai mươi độ, góc nâng mười hai độ,” Hoài An lẩm bẩm trong miệng, kiểm tra lại mép cắt sắc lẹm của con dao tiện quý giá nhất xưởng.
Anh hít một hơi thật sâu, với tay gạt cầu dao điện.
Tách! Ù... ù...
Động cơ máy tiện rùng mình chuyển động. Tiếng rên êm ru, trầm ấm của cuộn dây đồng mới quấn hòa cùng tiếng bánh răng hộp số ăn khớp ròn rã vang lên đều đặn. Không còn tiếng rít chói tai, không còn mùi khét lẹt của sự cố chập cháy đêm qua. Cả cỗ máy tiện chạy mượt mà như một dải lụa được thả trôi trên dòng nước.
Ông Tấn đứng tựa vào cột nhà, hai bàn tay run run siết chặt vào cây gậy gỗ, ánh mắt không chớp nhìn theo từng động tác của con trai.
Hoài An đặt tay lên vô lăng bàn trượt dọc và bàn trượt ngang. Trong khoảnh khắc ấy, cả không gian xưởng tiện dường như thu nhỏ lại, chỉ còn lại anh, mũi dao thép và khối kim loại đang quay tít với tốc độ bốn trăm vòng một phút.
Mũi dao từ từ tiến vào.
Xo ro... xo ro...!
Âm thanh kim loại ma sát vang lên giòn tan, ngọt lịm như tiếng tằm ăn rỗi giữa đêm thanh vắng. Mũi dao P18 ngoạm vào thớ thép Niken - Crom cổ thụ, bóc đi từng lớp vỏ oxit sần sùi bên ngoài.
Dưới ánh đèn dây tóc vàng vọt chao nghiêng, một cảnh tượng kỳ ảo hiện ra: từng dải phoi sắt xoăn tít, mỏng dính như sợi mỳ, óng ánh sắc xanh lam của nhiệt độ ma sát cuộn tròn lại rồi bắn tung tóe xuống máng hứng phoi. Chúng lấp lánh, rực rỡ như những chùm pháo hoa tí hon xòe nở trong đêm hội giao thừa. Mùi dầu cắt gọt Colza bốc lên khét nồng, thơm ngậy một thứ mùi đặc trưng của lao động cơ khí nặng nhọc.
Nhưng Hoài An không hề lơ là một tích tắc. Anh nhớ như in lời cha dạy đêm trước: “Chiếc máy tiện này qua tay bao người, trục chính đã có độ rơ nhất định. Muốn gọt chuẩn xác đến từng zem, người thợ không thể chỉ cậy vào vạch khắc trên vành nhật trình, mà phải dùng cả lồng ngực và đầu ngón tay để cảm nhận nhịp thở của máy.”
Mỗi khi bàn trượt rung lên một nhịp cực nhỏ do độ rơ của bánh răng, những ngón tay thon dài chai sạn của Hoài An lại khẽ nương theo, ghìm chặt vô lăng, bù trừ khoảng hở vi mô bằng chính trực giác thần kỳ của một người sinh ra để làm chủ sắt thép. Anh bắt trọn những khoảng lặng giữa các nhịp rung, đưa mũi dao lướt đi êm ả, chuẩn xác đến từng mi-crôn.
Từng lớp thép thô ráp lần lượt biến mất. Thân bạc lót dần dần lộ diện với những đường nét tinh xảo, gờ vai chịu lực sắc nét, rãnh dầu bôi trơn hình xoắn ốc được phay tiện mượt mà như một dòng kênh nhỏ uốn lượn.
Đến công đoạn tiện tinh cuối cùng, Hoài An đổi sang con dao tiện hợp kim vonfram sắc như dao cạo. Anh hạ bước tiến dao xuống mức chậm nhất, vặn vòi nước làm mát chảy róc rách thành dòng bạc xối thẳng vào điểm tiếp xúc.
Xoẹt... xoẹt...
Từng lớp mạt kim loại mỏng như bụi phấn li ti bay ra. Bề mặt chi tiết máy dưới làn nước mát lạnh bỗng sáng rực lên, mịn màng và trong vắt.
“Dừng máy!” Ông Tấn khẽ thốt lên, giọng nghẹn lại.
Hoài An ngắt cầu dao. Mâm cặp quay chậm dần rồi dừng hẳn.
Gian xưởng bỗng chốc chìm vào một sự im lặng tuyệt đối, chỉ còn lại tiếng th* d*c dồn dập của Hoài An và tiếng than tí tách tàn dần trong lò rèn.
Hoài An với lấy mảnh vải nỉ sạch, cẩn thận lau khô lớp nước làm mát trên thân chiếc bạc lót. Anh rút chiếc pan-me mạ crom sáng loáng của Liên Xô từ trong hộp nhung gỗ sồi ra. Chiếc thước đo độ dày chuẩn xác đến một phần trăm milimet này là tài sản quý giá nhất mà ông Tấn dành dụm cả đời thợ mới mua lại được từ một chuyên gia đường sắt Liên Xô hồi năm 1975.
Đôi bàn tay thợ tiện của Hoài An vốn dĩ vững như bàn thạch khi cầm búa, cầm đục, nhưng lúc này lại khẽ run rẩy. Anh đặt đầu đo tĩnh của pan-me tì vào thành ngoài của bạc lót, ngón tay cái và ngón trỏ nhẹ nhàng xoay núm vặn cóc tí tách ở đuôi thước.
Tách... tách... tách.
Âm thanh chốt trượt vang lên khô khốc. Hoài An nín thở, ghé sát mắt vào thang chia độ dưới ánh đèn.
Vạch số 0 trên vành nhật trình động trùng khít tuyệt đối với đường chuẩn ngang trên ống chia độ tĩnh!
Sai số: 0,00 milimet! Không thừa, không thiếu dù chỉ một nửa zem!
Chưa tin vào mắt mình, Hoài An nới lỏng thước, xoay chi tiết một góc chín mươi độ rồi đo lại lần thứ hai, lần thứ ba dọc theo toàn bộ chiều dài thân trục. Tất cả các điểm đo đều chỉ về một con số duy nhất: độ tròn hoàn hảo, độ côn bằng không!
Bề mặt ngoài của chiếc bạc lót bằng thép C.F.I. 1928 bóng loáng đến mức soi rõ từng sợi lông mày, từng tia máu đỏ hoe vì thức trắng đêm trong mắt Hoài An. Không một vết xước vi mô, không một gợn sóng dù là nhỏ nhất. Nó nằm đó, lộng lẫy và kiêu hãnh như một khối bạch ngọc được tạc ra từ bàn tay của một nghệ nhân kim hoàn bậc thầy, chứ không phải từ một góc xưởng thủ công nghèo nàn bên rìa đường sắt.
Một bàn tay thô ráp, gầy guộc run rẩy đặt lên bờ vai rộng của Hoài An.
Hoài An quay đầu lại. Ông Tấn đang đứng đó, nhìn chằm chằm vào chi tiết máy trên mâm cặp. Khóe mắt già nua của người thợ già đục ngầu những giọt nước mắt trào ra, lăn dài qua những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh cày trên gương mặt khắc khổ.
“Thầy...” Hoài An khẽ gọi.
Ông Tấn không nói nên lời. Ông vỗ mạnh vào vai con trai, từng cái vỗ đanh chắc, nặng trĩu yêu thương và sự giải tỏa tột cùng sau chuỗi ngày bị chèn ép, khinh khi:“Con làm được rồi... An ơi! Tay nghề này... độ chuẩn xác này... Đúng là tay nghề thợ bậc bảy, bậc tinh hoa rồi con ạ! Cả đời thầy làm thợ đường sắt, đứng máy tiện mấy mươi năm dưới bom đạn... chưa từng thấy một chiếc bạc lót nào hoàn mỹ đến mức này. Xưởng cơ khí Đặng gia chúng ta... ngẩng đầu lên được rồi con ơi!”
Người cha già ôm chầm lấy vai con trai. Hoài An tựa đầu vào ngực cha, cảm nhận nhịp tim đập dồn dập và hơi ấm thân thương của tình phụ tử. Mọi nỗi nhọc nhằn, những vết bỏng rát do phoi sắt bắn vào da thịt, sự uất ức trước những lời sỉ nhục của Quốc Bách... tất cả tan biến như làn sương mỏng trước ánh lửa bình minh.
*
Trong khi ngọn lửa lò tôi rực sáng bên xưởng cơ khí, thì bên kia bức tường gạch vách đất ngăn cách với căn gác xép nhỏ của tiệm may ngõ Khâm Thiên, ánh đèn dầu và ngọn đèn tròn hai mươi lăm oát cũng chưa từng tắt suốt đêm thâu.
Mùi thơm ngai ngái của vải lụa tơ tằm Nam Bộ, mùi phấn may thoang thoảng cùng hương sáp nến hòa quyện vào không gian chật hẹp. Trên chiếc bàn cắt bằng gỗ tạp nhẵn thín, Thục Quyên đang khẽ nghiêng đầu, đôi mắt bồ câu đượm vẻ mệt mỏi nhưng ánh lên ngọn lửa kiên định kỳ lạ.
Trước mặt cô, chiếc áo dài bằng lụa Tân Châu màu tím hoa cà đang được khoác lên chiếc man-nơ-canh bằng rơm bọc vải thô.
Dưới ánh sáng vàng dịu, chất lụa tơ tằm óng ả bắt sáng như phủ một lớp sương mờ huyền ảo. Đó không phải là kiểu áo dài thụng thời bao cấp thùng thình che giấu mọi đường nét, cũng không phải kiểu áo tân thời hở hang lố lăng chớm xuất hiện theo chân những đĩa nhạc lậu từ phương Tây tràn về.
Bằng con mắt thẩm mỹ tinh tế của người con gái Tràng An nghìn năm văn vật kết hợp với sự nhạy bén của thời cuộc Đổi Mới, Thục Quyên đã tạo nên một kỳ tích trên từng đường kim mũi chỉ. Cô áp dụng kỹ thuật cắt cúp đề-cúp dọc theo hai bên sườn ngực kéo dài xuống tận eo, khéo léo ôm sát lấy những đường cong mềm mại của cơ thể người phụ nữ mà không hề gây cảm giác bó thắt ngột ngạt. Phần cổ áo được hạ thấp thành dáng cổ thuyền mềm mại, khoe trọn chiếc cổ cao thanh tú ba ngấn; tà áo được thu hẹp độ xòe vừa phải, buông rủ thướt tha, chạm nhẹ ngang bắp chân.
Chiếc áo dài toát lên vẻ đẹp kiêu sa, đài các nhưng vẫn giữ trọn cốt cách nền nã, đoan trang của phụ nữ đất kinh kỳ.
“Xong rồi...”
Thục Quyên khẽ thở hắt ra một hơi dài, cẩn trọng rút mũi kim khâu giấu chỉ cuối cùng ở gấu áo. Cô cắn đứt sợi chỉ tơ tím, hai ngón tay miết nhẹ đường nẹp tà phẳng phiu không một gợn sóng.
Đôi mắt Quyên bỗng nhòe đi vì xúc động. Cô nhìn chiếc áo, rồi nhìn sang chiếc máy may con bướm Liên Xô đang đứng sừng sững bên góc gác. Chân đế gang của máy may – nơi từng bị bọn chủ nợ của Quốc Bách đập gãy – nay đã được mối hàn ngấu tròn trịa của Hoài An gắn kết lại vững như bàn thạch. Mỗi đường kim cô đạp đêm nay đều êm ru, đều đặn như nhịp bước của hai tâm hồn đang cùng chung một nhịp đập vượt qua giông bão.
Món nợ năm vạn đồng của mẹ để lại từng như một tảng đá ngàn cân đè nát tuổi thanh xuân của cô. Nhưng giờ đây, với hai vạn tiền cọc nằm chắc trong tay và chiếc áo mẫu hoàn mỹ này chuẩn bị giao cho chị Bé Hai, con đường phía trước đã rạng ngời ánh sáng. Cô không chỉ cứu được chiếc máy may của mẹ, nuôi được hai em ăn học, mà còn mở ra một tương lai rực rỡ cho tiệm may nhỏ bên xóm đường tàu.
Có tiếng bước chân quen thuộc nhè nhẹ bước lên cầu thang gỗ ọp ẹp.
Thục Quyên quay lại. Hoài An đang đứng ở cửa buồng, trên tay bưng một chiếc bát sứ Hải Phòng sứt miệng đựng nước gừng nóng còn nghi ngút khói. Gương mặt anh lấm lem vệt than đen, tóc tai rối bù vì bụi sắt, nhưng nụ cười nở trên môi anh lại rạng rỡ và trong trẻo như ánh ban mai.
“Quyên... cô mình uống ngụm nước gừng cho ấm người đi,” An bước lại gần, giọng trầm ấm đầy xót xa khi nhìn thấy quầng thâm nhàn nhạt nơi khóe mắt cô. “Trắng đêm rồi, trời lạnh buốt thế này...”
Thục Quyên đón lấy bát nước gừng, những ngón tay thon dài khẽ chạm vào bàn tay thô ráp, ấm nóng của anh. Một luồng điện dịu ngọt chạy dọc sống lưng khiến hai má cô ửng hồng trong ánh đèn dầu.
“Anh An... chi tiết máy tiện thế nào rồi anh?” Quyên ngước mắt nhìn anh, giọng run run hồi hộp.
Hoài An không kìm được niềm hân hoan, anh nắm lấy bàn tay mảnh mai của cô, siết nhẹ:
“Được rồi Quyên ạ! Nhờ thanh thép cổ bà con xóm ga mang sang và công thức của bác Doãn, em tiện chuẩn xác từng phần trăm milimet rồi! Thầy em đã kiểm tra ba lần bằng thước pan-me, không một tì vết! Tám giờ sáng nay, em và thầy sẽ mang sang Tổng cục nộp thử nghiệm!”
“Thật hả anh?” Thục Quyên mừng rỡ reo lên khe khẽ, sợ đánh thức hai đứa em đang ngủ say dưới nhà. Hai mắt cô long lanh ngấn lệ, nhìn anh bằng tất cả sự cảm phục và niềm tự hào sâu kín. “Em biết mà... Em biết anh của em nhất định sẽ làm được!”
Ánh mắt Hoài An bất chợt dừng lại trên chiếc man-nơ-canh. Anh sững sờ buông tay Quyên ra, bước lại gần chiếc áo dài lụa tím. Đôi bàn tay thợ tiện vụng về không dám chạm vào chất vải tơ tằm mong manh, chỉ đứng lặng ngắm nhìn:
“Đẹp quá... Quyên ơi. Thật sự... đẹp đến mức anh không ngờ được. Phụ nữ Hà Nội hay Sài Gòn mặc chiếc áo này của cô mình, chắc chắn ai cũng phải trầm trồ.”
Thục Quyên e thẹn mỉm cười, đôi lúm đồng tiền duyên dáng hiện rõ bên khóe môi:
“Chị Bé Hai bảo người trong Nam chuộng mẫu này lắm. Chiều nay tàu Thống Nhất ra, chị ấy sẽ sang lấy áo mẫu và mang theo trọn lô vải lụa năm mươi bộ cùng phụ liệu cúc bấm, dây kéo sang cho em. Anh An... chúng ta sắp qua cơn bĩ cực rồi phải không anh?”
“Phải, chúng ta nhất định sẽ vượt qua,” Hoài An nhìn thẳng vào mắt cô, ánh mắt kiên định và chan chứa tình cảm. “Nợ nần sẽ trả hết, xưởng tiện sẽ sáng đèn, và tiệm may của Quyên sẽ nườm nượp khách vào ra.”
*
Ngoài trời, màn đêm đen đặc của mùa đông bắt đầu loãng dần, nhường chỗ cho sắc lam xám mờ ảo của buổi rạng đông. Sương mù giăng mắc như những dải voan trắng lượn lờ trên những mái ngói nghiêng xô lệch của phố Khâm Thiên và dãy nhà tập thể xóm đường tàu Lê Duẩn.
Hoài An và Thục Quyên cùng bước ra ban công gác xép nhỏ xíu chìa ra sát mép đường ray.
Gió sớm thổi lồng lộng làm tung bay tà áo sơ mi cũ của An và làn tóc tết mềm mại của Quyên. Họ đứng bên nhau, vai kề vai, hai bàn tay tự nhiên tìm đến nhau, đan chặt vào nhau trên thanh lan can gỗ ố màu thời gian. Hơi ấm từ bàn tay người thợ tiện truyền sang bàn tay cô thợ may, xua tan đi cái giá buốt căm căm của sương sớm Hà Nội.
Phía xa xa, từ hướng Văn Điển tiến về ga Hàng Cỏ, một đốm sáng vàng rực bỗng xé toạc màn sương mù dày đặc.
Rầm rập... rầm rập... xình xịch...
Mặt đất dưới chân họ bắt đầu rung chuyển nhè nhẹ. Tiếng kim loại va đập nhịp nhàng, tiếng xích sắt và tiếng hơi nước xả phì phò dội lại từ xa.
Đoàn tàu Thống Nhất Bắc - Nam chuyến sớm nhất trong ngày đang rầm rộ lao tới. Đầu máy hơi nước Tự Lực sừng sững như một con mãnh thú thép, thở ra những cuộn khói than đen kịt cuồn cuộn bay lên trời cao, hòa vào sắc hồng chớm nở của rạng đông.
Tuuuuu...! Tuuuuu...!
Tiếng còi tàu vang lên dõng dạc, ngân dài, trầm hùng xé tan bầu không khí tĩnh mịch của phố phường, dội vào vách nhà, lay động từng tán cây bàng rụng lá. Tiếng còi tàu như một lời hiệu triệu thức tỉnh đất trời, báo hiệu một ngày mới, một nhịp sống mới đầy sôi động của thời kỳ Đổi Mới đang cuộn trào chảy qua từng huyết mạch của Thủ đô.
Nhìn đoàn tàu dũng mãnh lướt qua thềm ga, Hoài An siết chặt tay Thục Quyên, lồng ngực anh căng tràn một niềm kiêu hãnh và hy vọng vô bờ bến. Một ngày không xa, chính những cụm bạc lót, những trục truyền động do bàn tay người thợ Việt Nam như anh tôi luyện sẽ nằm bên dưới những cỗ máy khổng lồ kia, đưa những chuyến tàu mang theo khát vọng ấm no chạy dọc dải đất hình chữ S thân thương.
“Anh An, trời sáng rồi kìa anh,” Quyên khẽ nghiêng đầu tựa nhẹ vào bờ vai vững chãi của anh, thì thầm.
Phía chân trời đằng sau ga Hàng Cỏ, vầng thái dương đỏ ối đang từ từ nhô lên khỏi những rặng xà cừ cổ thụ. Ánh bình minh vàng rực rải đều lên những thanh ray thép sáng bóng chạy dài tít tắp về phương Nam, rải lên mái xưởng tiện cơ khí Đặng gia và căn gác xép thơm mùi lụa mới.
Bỗng nhiên, từ dưới cầu thang xóm ga vang lên tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch, vội vã đến mức làm rung chuyển cả những bậc ván gỗ ọp ẹp.
“An ơi! Bác Tấn ơi! Nguy to rồi!”
Tiếng gọi thất thanh, hốt hoảng của bác Cả Thiện xé toạc bầu không khí yên bình của buổi sớm mai.
Hoài An và Thục Quyên giật mình buông tay nhau ra, vội vã quay ngoắt lại.
Bác Cả Thiện – người thợ gác ghi già cả đời điềm đạm, từng trải – lúc này mặt cắt không còn giọt máu, chiếc áo trấn thủ phong phanh chưa kịp cài cúc, hơi thở dồn dập đứt quãng. Ông lao thẳng lên gác xép, hai tay run bần bật túm chặt lấy vai Hoài An, giọng lạc đi vì kinh hoàng:
“Thằng Bách... Thằng Bách nó chơi đòn thù độc ác quá rồi con ơi!”
“Bác Cả, có chuyện gì thế bác? Bác bình tĩnh nói cho chúng cháu nghe!” Hoài An đỡ lấy người thợ già, tim anh bỗng thắt lại một nhịp đầy dự cảm chẳng lành.
Bác Cả Thiện nuốt nước bọt cái ực, mắt dại đi vì hoảng loạn:
“Trên Sở Hỏa xa... Ban Kiểm định vừa nhận được một phong bì thư nặc danh khẩn cấp! Chúng nó tố cáo xưởng cơ khí Đặng gia cấu kết với bọn trộm cắp vật tư đường sắt, dùng thanh cốt trục thép hợp kim C.F.I. là tang vật ăn cắp từ kho kim loại chiến lược quốc phòng để gia công phụ tùng! Đội Thanh tra đường sắt cùng Công an kinh tế vừa kéo còi xe xuống ga Hàng Cỏ, lệnh đình chỉ kiểm định và niêm phong toàn bộ xưởng tiện nhà con đã ký xong xuôi rồi!”
Lời nói của bác Cả Thiện như một tiếng sét giữa trời quang giáng thẳng xuống căn gác xép nhỏ.
Gió đông ngoài ban công bỗng rít lên từng hồi buốt lạnh. Dưới ánh bình minh vừa hé rạng, chiếc bạc lót bằng thép cổ sáng như gương đặt dưới xưởng tiện bỗng chốc trở thành một cái bẫy chết người có thể đẩy cả gia đình Hoài An vào chốn lao tù.