Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 11: Đợt xét tuyển ngặt nghèo

Tiếng gió rít qua những khe ván gỗ mục bên thềm gác xép nghe như tiếng thở dài não nuột của mùa đông Hà Nội năm 1988. Sương sớm chưa kịp tan trên những thanh ray rỉ sét ngoài ngõ Khâm Thiên thì dưới thềm nhà, tiếng guốc mộc khua lách cách kèm theo tiếng xì xào của dân xóm ga đã rộ lên như ong vỡ tổ.

Lời bác Cả Thiện vừa dứt, Hoài An cảm thấy lồng ngực mình nghẹn đắng lại. Anh không sợ hãi cho bản thân, nhưng đôi bàn tay người thợ của anh bỗng run rẩy khi nghĩ đến cha. Ông Tấn – người thợ già cả đời lấy chữ “tín” và sự trong sạch của người công nhân hỏa xa làm mạng sống – nếu phải chứng kiến cảnh xưởng tiện của tổ tiên bị dán giấy niêm phong vì cái danh xưng nhục nhã “kẻ trộm cắp vật tư quốc phòng”, liệu trái tim đau yếu của ông có chịu nổi cú sốc này?

“Đi xuống dưới nhà mau, An!” Thục Quyên là người bừng tỉnh trước tiên. Đôi mắt bồ câu của cô gái thợ may thường ngày dịu dàng là thế, nay bỗng ánh lên vẻ kiên nghị lạ thường. Bàn tay nhỏ nhắn, thon mềm nhưng chai sần vì mũi kim của Quyên nắm chặt lấy cổ tay anh, kéo mạnh: “Thanh sắt ấy là của bà con xóm ga tặng, chú em mình sống ngay thẳng giữa trời đất, không việc gì phải sợ chúng nó đổi trắng thay đen!”

Ba người vội vã lao xuống cầu thang gỗ ọp ẹp.

Dưới xưởng cơ khí, cảnh tượng đã trở nên hỗn loạn. Cánh cửa gỗ ghép bằng những thanh tà-vẹt cũ mở toang hoang. Một chiếc xe com-măng-ca màu xanh rêu phủ đầy bụi đường trường đỗ xịch ngay mép đường ray, ống xả phả ra làn khói xám nồng nặc mùi xăng pha chì. Bốn người đàn ông mặc quân phục ngành đường sắt và sắc phục công an kinh tế đã đứng chắn giữa gian xưởng chật chội. Dẫn đầu là một cán bộ trạc tuổi bốn mươi, gương mặt vuông vức lạnh tanh như đúc bằng thép nguội, tay cầm chiếc cặp da giả màu nâu sẫm, bên hông đeo khẩu súng ngắn K54 bao da đen bóng.

Bà Mùi sợ đến mức mặt không còn giọt máu, hai tay bấu chặt vào vạt áo bông sờn chỉ, đứng nép sau lưng chồng. Còn ông Tấn, đôi chân khập khiễng do mảnh đạn chiến trường vẫn đứng sừng sững bên cạnh cỗ máy tiện 1A62. Chiếc máy tiện vừa trải qua một đêm thức trắng cùng hai cha con, thân máy còn ấm ran, mùi dầu máy và mạt sắt cháy vẫn còn lảng bảng trong không khí.

“Ai là Đặng Văn Tấn, chủ cơ sở tiện thủ công Đặng gia?” Người cán bộ công an kinh tế cất giọng đanh gọn, mắt đảo quanh đống phôi sắt và bàn trượt máy tiện.

“Tôi là Đặng Văn Tấn.” Người thợ già đáp, giọng trầm đục nhưng vững như bàn thạch. “Các đồng chí vào xưởng tôi có việc gì?”

Người cán bộ mở cặp da, rút ra một văn bản đóng dấu son đỏ chói, dõng dạc đọc:

“Chúng tôi thuộc Đội Thanh tra liên ngành Tổng cục Đường sắt và Công an Kinh tế quận Hai Bà Trưng. Rạng sáng nay, cơ quan chức năng nhận được đơn thư tố giác kèm chứng cứ nặc danh, phản ánh cơ sở của ông đã tiêu thụ và gia công bất hợp pháp thanh cốt trục thép hợp kim C.F.I. – chủng loại vật tư đặc chủng thuộc danh mục dự trữ chiến lược của ngành đường sắt thời chiến. Theo quyết định số 42, chúng tôi yêu cầu lập biên bản đình chỉ hoạt động, tạm giữ toàn bộ tang vật thép và tiến hành niêm phong máy móc để phục vụ điều tra!”

Hai người cán bộ cấp dưới lập tức rút ra một cuộn giấy niêm phong trắng có in quốc huy cùng một thỏi sáp đỏ và sợi dây gai, toan tiến lại gần cỗ máy tiện.

“Khoan đã!”

Hoài An bước xốc tới, chắn ngang trước mặt hai người cán bộ. Thân hình cao lớn, vạm vỡ của chàng trai hai mươi tư tuổi như một bức tường ngăn cách giữa cỗ máy tiện và những tờ giấy niêm phong nghiệt ngã. Đôi mắt anh rực sáng, quai hàm bạnh ra:

“Các đồng chí! Máy móc của chúng tôi làm ăn lương thiện, đóng thuế môn bài đầy đủ cho phường Khâm Thiên. Còn thanh thép C.F.I. kia là thép phế liệu cũ, không phải hàng quốc phòng ăn cắp! Hôm nay là hạn chót lúc tám giờ sáng nộp mẫu dự thầu cụm bạc lót cho Tổng cục Đường sắt, các đồng chí niêm phong máy móc, cấm chúng tôi nộp mẫu, chẳng khác nào bức tử xưởng cơ khí này dựa trên một lá thư nặc danh bẩn thỉu!”

“Đồng chí trẻ, nói năng phải có căn cứ!” Người chỉ huy nhíu mày, giọng nghiêm khắc hơn. “Ký hiệu C.F.I. 1928 là thép của Công ty Hỏa xa Đông Dương thời Pháp thuộc, sau năm 1954 toàn bộ được bàn giao cho Cục Đường sắt quản lý làm vật tư dự phòng đặc biệt. Suốt ba mươi năm qua, không có bất kỳ mẩu thép nào được phép bán ra thị trường tự do. Nếu các anh không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ bằng hóa đơn, chứng từ hợp lệ của Nhà nước, thì toàn bộ phôi thép và sản phẩm gia công từ nó đều là tang vật phạm pháp! Theo quy định, chúng tôi buộc phải thu hồi và đình chỉ tư cách dự thầu của cơ sở!”

Bà Mùi nghe đến hai chữ “phạm pháp” thì bủn rủn chân tay, khóc nấc lên: “Ối các chú ơi, oan cho nhà tôi quá... Nhà tôi cả đời ăn hạt gạo phân phối, sống chết bên đầu máy xe lửa, có bao giờ tơ hào một cái đinh gỉ của Nhà nước đâu...”

Ông Tấn nghiến chặt răng, bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy chiếc búa gõ xỉ. Nỗi nhục nhã của một người thợ cả bị nghi ngờ nhân cách khiến lồng ngực ông phập phồng dữ dội, vết thương cũ ở chân lại nhói lên buốt buốt.

Tám giờ sáng là hạn chót. Đồng hồ con gà treo trên vách xưởng lúc này đã điểm bảy giờ mười lăm phút. Kim đồng hồ nhích từng giây như lưỡi cưa cứa vào da thịt Hoài An. Nếu bị niêm phong, mọi công sức của anh, của cha, giọt nước mắt của Quyên và niềm tin của cả xóm ga suốt những ngày qua sẽ tan thành bọt nước. Trần Quốc Bách đã tính toán quá thâm độc: hắn không cần đánh bại anh trên bàn tiện, hắn chỉ cần dùng bàn tay của luật pháp để trói chặt tay anh lại trước giờ xuất phát.

Giữa lúc sợi dây gai chuẩn bị thắt quanh tay quay máy tiện, một tiếng quát vang lên từ phía cửa:

“Dừng tay lại hết cho tôi!”

Mọi ánh mắt dồn về phía cửa xưởng. Bác Cả Thiện th* d*c, hai ống quần lấm lem bùn đất, nhưng trên tay ông ôm khư khư một chiếc hòm đạn bằng sắt tây rỉ sét thời kháng chiến chống Mỹ. Theo sau bác là hàng chục bà con lao động nghèo của xóm ga: chị bán xôi đầu ngõ, bác thợ nề xe cát, anh gác chắn đường tàu... Ai nấy đều mang nét mặt căm phẫn, đứng vây kín lối vào xưởng Đặng gia.

“Bác Thiện...” Hoài An thốt lên.

Bác Cả Thiện gạt mồ hôi trán, lách qua đám đông bước vào giữa xưởng. Ông đặt mạnh chiếc hòm sắt tây lên chiếc đe thép phát ra một tiếng keng đanh gọn. Bằng đôi bàn tay run rẩy vì xúc động, ông mở chiếc nắp gỉ sét, cẩn thận lấy ra một bọc vải dù màu cỏ úa được buộc dây chỉ cẩn thận.

“Các đồng chí công an, các đồng chí thanh tra!” Giọng bác Cả Thiện dõng dạc, vang dội khắp gian nhà xưởng. “Tôi là Nguyễn Văn Thiện, thợ gác ghi ga Hàng Cỏ bậc sáu, huy hiệu ba mươi năm tuổi Đảng, tổ trưởng dân phố xóm đường tàu Lê Duẩn đây! Các anh bảo thanh thép C.F.I. kia là đồ ăn cắp quốc phòng, vậy các anh hãy mở to mắt ra mà nhìn vào cái này!”

Lớp vải dù mở ra, để lộ một tập hồ sơ ố vàng, mép giấy đã mủn vì thời gian và khói bom. Bác Cả Thiện kính cẩn rút ra một tờ giấy khổ A4 mỏng manh như cánh ve sầu, trên đầu in tiêu đề: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, ngày tháng ghi rõ: Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 1972.

Bác Cả Thiện chìa tờ giấy ra trước mặt người cán bộ công an:

“Mười hai ngày đêm Điện Biên Phủ trên không năm 1972, bom B-52 rải thảm san phẳng phố Khâm Thiên, đánh sập một góc ga Hàng Cỏ. Khi ấy, một đoàn tàu chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam bị trúng bom bi, đầu máy trật bánh, trục bánh sắt gãy gập nằm chắn ngang đường huyết mạch. Chính đồng chí Đặng Văn Tấn đây – lúc đó là thợ đầu máy bậc sáu của Xưởng Gia Lâm – cùng tổ cứu hộ đường sắt chúng tôi đã đội mưa bom bão đạn, thức trắng hai ngày đêm cưa từng đoạn ray, dùng cần trục cứu hộ kéo đoàn tàu ra khỏi vùng nguy hiểm, thông tuyến đường sắt trong đêm!”

Gian xưởng bỗng chốc im phăng phắc. Chỉ còn tiếng gió đông lùa qua mái ngói và tiếng thở nặng nhọc của những người lính già.

Bác Cả Thiện run run chỉ tay vào con dấu đỏ đã phai màu mực trên tờ giấy:

“Đây là Biên bản bàn giao vật tư phế liệu chiến trường và Tuyên dương công trạng cứu hộ đầu máy hỏa xa số 141 do đích thân Trạm trưởng Ga Hàng Cỏ và Cục trưởng Cục Đường sắt ký tặng thưởng! Thanh cốt trục C.F.I. 1928 bị bom tiện đứt đôi ấy được phép thanh lý tại chỗ cho tổ cứu hộ làm công cụ sửa chữa. Anh Tấn và tôi mỗi người giữ một nửa làm kỷ vật sinh tử của đời thợ tàu! Nửa thanh thép ấy nằm dưới gầm giường nhà tôi mười sáu năm nay, hôm qua xưởng thằng An cháy máy, thiếu phôi thép, chính tay tôi mang sang tặng cho cháu nó để làm bạc lót thử nghiệm! Các anh bảo nó là tang vật ăn cắp à? Danh dự của người công nhân đường sắt, của những người từng đổ máu bên thanh ray này, các anh định niêm phong bằng mấy mẩu giấy dán sáp này sao?”

Người cán bộ công an sững sờ. Ông cẩn thận đón lấy tờ giấy ố vàng, soi từng dòng chữ đánh máy chữ cổ, đối chiếu chữ ký của vị Cục trưởng tiền bối lừng danh của ngành đường sắt và con dấu tròn màu đỏ thắm. Cán bộ thanh tra kỹ thuật đi cùng vội vàng lấy kính lúp và thước kẹp, bước lại góc xưởng nơi đặt đoạn phôi thép C.F.I. còn sót lại. Dưới ánh sáng ban mai lọt qua khe liếp, mã số dập chìm trên thân thép: C.F.I. - HANOI - 1928 - #04 trùng khớp hoàn toàn với dãy số được ghi tỉ mỉ trong biên bản thanh lý năm 1972.

Sự thật rành rành như ánh sáng ban ngày. Không một ai có thể bẻ cong được lịch sử hào hùng và máu xương của những người thợ đường sắt năm xưa.

Người cán bộ công an thở phào một hơi dài, sắc mặt giãn ra, thay vào đó là sự kính trọng sâu sắc. Ông gấp tờ giấy lại, hai tay trao trả cẩn thận cho bác Cả Thiện, rồi quay sang nghiêm trang giơ tay chào ông Tấn theo điều lệnh:

“Bác Tấn, bác Thiện... Thay mặt đoàn công tác, chúng tôi xin lỗi gia đình. Chúng tôi thừa hành nhiệm vụ theo đơn tố giác, nhưng thực tế chứng từ này hoàn toàn hợp pháp và có giá trị pháp lý cao nhất. Thanh thép này là tài sản danh dự của gia đình bác, không ai có quyền tịch thu hay niêm phong!”

Tiếng thở phào nhẹ nhõm đồng loạt vang lên. Bà Mùi ôm chầm lấy Thục Quyên, nước mắt tuôn rơi vì mừng rỡ. Bà con xóm ga bên ngoài reo hò râm ran: “Tốt rồi! Giải oan rồi! Bác Tấn muôn năm!”

Tuy nhiên, vị cán bộ thanh tra kỹ thuật vội nhìn đồng hồ đeo tay Poljot, giật mình thốt lên:

“Bảy giờ ba mươi lăm phút rồi! Các đồng chí, tám giờ là Hội đồng Khoa học Tổng cục khóa sổ tiếp nhận mẫu dự thầu tại số 118 đường Lê Duẩn. Từ đây ra đó tuy gần, nhưng thủ tục nhập kho niêm phong mẫu cực kỳ khắt khe. Anh Hoài An, anh có mang theo sản phẩm hoàn chỉnh không?”

“Có! Tôi đã làm xong đêm qua!” Hoài An quả quyết.

“Tốt lắm! Để đảm bảo tính khách quan và bảo vệ anh trước những kẻ giấu mặt hãm hại, tôi đề nghị đoàn thanh tra sẽ dùng xe com-măng-ca đưa anh và chi tiết mẫu đến thẳng hội trường xét tuyển của Tổng cục Đường sắt!” Người chỉ huy công an kinh tế dứt khoát ra lệnh.

Hoài An quay lại bàn máy. Chiếc bạc lót bằng thép hợp kim C.F.I. được anh bọc cẩn thận trong ba lớp vải bông tẩm dầu bảo quản, đặt trang trọng trong chiếc hộp gỗ thông nhỏ do chính tay cha anh đóng.

Trước khi bước lên xe, Hoài An dừng lại bên bậu cửa. Thục Quyên bước nhanh tới, đôi mắt nàng lấp lánh như có ngàn tia nắng rọi vào. Bàn tay mềm mại của Quyên đưa lên, khẽ lau vệt dầu máy còn vương trên gò má bánh mật của anh, rồi kéo lại cổ chiếc áo khoác bộ đội đã sờn vai cho ngay ngắn.

“Anh An, anh đi đi. Đừng lo cho ở nhà. Em tin tay nghề của anh, tin cái tâm của xưởng Đặng gia. Cả xóm ga đang đợi tin anh chiến thắng trở về.” Quyên thì thầm, giọng nói ngọt ngào như rót mật vào lòng, tiếp thêm cho anh nguồn sức mạnh vô song.

Hoài An gật đầu thật mạnh. Anh siết nhẹ bàn tay cô thợ may một lần nữa rồi dứt khoát bước lên chiếc xe com-măng-ca. Tiếng còi xe rú lên, rẽ màn sương sớm lao vút về phía trụ sở Tổng cục Đường sắt.

*

Hội trường lớn của Tổng cục Đường sắt tại số 118 đường Lê Duẩn sáng hôm ấy mang đậm không khí trang nghiêm và căng thẳng của thời kỳ đầu Đổi Mới. Những bức tường quét vôi vàng đặc trưng kiến trúc Pháp, những ô cửa sổ chớp gỗ cao vút và trần nhà treo những chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt nặng nề. Phía trên sân khấu, một dải băng rôn đỏ căng ngang dòng chữ nhũ vàng: “Hội nghị Thẩm định và Xét tuyển Mẫu thử nghiệm Cụm Phụ tùng Nội địa hóa – Phục vụ Đầu máy Đoàn tàu Thống Nhất Bắc - Nam”.

Hội đồng giám khảo gồm mười hai người, tề tựu những chuyên gia đầu ngành luyện kim, kỹ sư cơ khí chế tạo máy hàng đầu được đào tạo từ Liên Xô, Tiệp Khắc và các thợ cả lão thành của ba nhà máy xe lửa lớn nhất nước: Gia Lâm, Dĩ An và Yên Viên. Không khí trong phòng đặc quánh khói thuốc lá Tam Đảo, Du Lịch và hương trà mạn bốc khói nghi ngút.

Khi Hoài An theo chân cán bộ thanh tra bước vào hội trường, kim đồng hồ lớn treo tường chỉ đúng bảy giờ năm mươi lăm phút.

Sự xuất hiện của anh – một chàng thợ tiện trẻ tuổi trong bộ đồ bảo hộ công nhân bạc màu, đôi bàn tay còn hằn những vết xước kim loại – lập tức thu hút mọi ánh nhìn. Nhưng điều khiến lồng ngực Hoài An thắt lại chính là sự hiện diện của một kẻ đang ngồi ung dung ở hàng ghế danh dự dành cho các đơn vị kinh tế tư nhân mới nổi: Trần Quốc Bách.

Hôm nay, Bách diện một bộ âu phục màu xám tro cắt may theo mốt thời thượng của Hồng Kông, cổ cồn trắng muốt thắt cà vạt lụa đỏ đun, chân đi giày da Ý bóng loáng soi gương được. Trên cổ tay hắn lấp lánh chiếc đồng hồ mạ vàng Seiko năm chém. Hắn đang phì phèo điếu thuốc lá Craven “A” thơm nức mùi tư bản, bên cạnh là một gã thư ký bưng chiếc khay phủ nhung đỏ sang trọng.

Nhìn thấy Hoài An bước vào cùng hai cán bộ thanh tra mà không hề có còng số tám hay nét mặt hoảng loạn, nụ cười đắc thắng trên môi Bách bỗng khựng lại. Đôi mắt ti hí của hắn thoáng co giật một tia kinh ngạc tột độ, nhưng rất nhanh sau đó, hắn lấy lại vẻ trịch thượng, ngạo nghễ vốn có.

“Kính thưa Hội đồng Giám khảo!” Giọng người điều hành vang lên. “Đúng tám giờ, danh sách nộp mẫu thử nghiệm cụm bạc lót và trục truyền động đầu máy hơi nước Tự Lực chính thức khép lại. Chúng ta có hai đơn vị lọt vào vòng xét tuyển thực tế: Một là Công ty Hợp tác Xuất nhập khẩu và Dịch vụ Kỹ thuật Bách Khoa do ông Trần Quốc Bách làm đại diện; hai là Cơ sở Cơ khí Thủ công Đặng gia do anh Đặng Hoài An đại diện. Xin mời hai đơn vị lần lượt trình diễn sản phẩm và thuyết minh kỹ thuật!”

Trần Quốc Bách chỉnh lại vạt áo vest, đứng dậy khoan thai bước lên bục thuyết trình. Hắn vẫy tay ra hiệu cho tên thư ký dỡ tấm khăn nhung đỏ.

Dưới ánh đèn điện neon, một cụm bạc lót và trục kim loại sáng lóa, bóng bẩy như gương hiện ra. Toàn bộ bề mặt được mạ một lớp crôm trắng xóa, trên thân dập nổi những dòng chữ số La tinh sắc sảo: “TGL - Standard - GDR” (Tiêu chuẩn công nghiệp Cộng hòa Dân chủ Đức).Cả hội trường khẽ xôn xao. Nhiều vị kỹ sư trẻ trầm trồ trước vẻ ngoài hào nhoáng, hiện đại của chi tiết máy.

Bách đắc ý hắng giọng, cất giọng sang sảng:

“Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Tổng cục, thưa các chuyên gia! Đất nước ta đang bước vào thời kỳ Đổi Mới, xóa bỏ bao cấp để tiến thẳng lên kinh tế thị trường hiện đại. Đường sắt Việt Nam không thể mãi giậm chân tại chỗ với những xưởng rèn thủ công, búa đe thô sơ của thế kỷ trước! Công ty chúng tôi, thông qua đường lối hợp tác kinh tế quốc tế, đã nhập khẩu ủy thác lô phôi thép hợp kim tôi cứng từ Đông Đức, gia công trên dây chuyền tự động hóa đạt chuẩn TGL. Bạc lót của chúng tôi có độ cứng bề mặt đạt 62 HRC, được phủ lớp chống mài mòn hóa học, sẵn sàng cung ứng số lượng lớn hàng nghìn bộ mỗi tháng để thay thế toàn bộ phụ tùng cũ kỹ trên tuyến đường sắt Bắc - Nam!”

Những tràng pháo tay vang lên rải rác từ phía các đại diện thương mại. Bách ngẩng cao đầu, liếc xéo về phía Hoài An với ánh mắt khinh miệt tột cùng, như thể một vị triệu phú đang nhìn một kẻ hành khất bên lề đường.

“Tiếp theo, xin mời đại diện Cơ sở Cơ khí Đặng gia!” Chủ tịch Hội đồng – Giáo sư Nguyễn Đình Trực, một chuyên gia cơ khí luyện kim đầu ngành tóc bạc phơ – cất giọng điềm tĩnh.

Hoài An hít một hơi thật sâu. Anh bước lên bục, không có veston bảnh bao, không có khay nhung phủ lụa. Anh chỉ có chiếc hộp gỗ thông mộc mạc và một niềm tin sắt đá vào bàn tay của chính mình.

Anh cẩn thận mở nắp hộp gỗ, mở từng lớp vải tẩm dầu bảo quản, nhấc chi tiết bạc lót ra đặt lên bàn kiểm định bằng đá hoa cương.

Khác hẳn với sự bóng bẩy, trắng lóa của sản phẩm bên phía Bách, cụm bạc lót của Hoài An ánh lên một màu lam xám thẫm của thép hợp kim Niken-Crom vừa trải qua quá trình ram nhiệt chuẩn mực. Bề mặt kim loại không hề mạ phủ bất kỳ một lớp hóa chất hay sơn màu nào, phô bày trọn vẹn những đường vân tiện tinh vi đến mức mắt thường khó lòng phân biệt được, mịn màng như lụa.

Bách nhìn thấy chi tiết máy thô mộc ấy thì bĩu môi, buông một câu mỉa mai đủ lớn để cả hội trường nghe thấy:

“Thời buổi nào rồi mà còn vác cục sắt đen ngòm tiện tay ra đây dự thầu? Định đem đồ rèn xóm chuột ra đùa với an toàn đường sắt quốc gia đấy à?”

Một vài tiếng cười khúc khích vang lên từ phía đám đàn em của Bách. Nhưng Hoài An không hề nao núng. Anh ngẩng cao đầu, ánh mắt nhìn thẳng vào vị Giáo sư Chủ tịch Hội đồng:

“Kính thưa Hội đồng Giám khảo! Tôi là Đặng Hoài An, thợ tiện cơ khí xóm ga Hàng Cỏ. Sản phẩm tôi mang đến hôm nay không bóng bẩy, bởi vì nó là thép thật, giá trị thật. Đây là cụm bạc lót được chế tác từ phôi thép hợp kim Niken-Crom thời Hỏa xa Đông Dương – loại thép được luyện theo phương pháp cổ điển, có độ dẻo dai bên trong cực cao nhưng bề mặt lại có khả năng tự hóa cứng khi chịu ma sát trượt lớn. Tôi đã xử lý nhiệt ram thấm ba giai đoạn và gia công tiện tinh trên máy 1A62 với chế độ cắt chậm, sử dụng dao cắt P18 mài thủ công.”

Hoài An cầm chiếc thước pan-me đo ngoài có độ chia một phần trăm milimet đặt cạnh chi tiết:

“Tôi không mạ crôm che mắt người dùng. Bởi vì trong điều kiện vận hành khắc nghiệt của đầu máy hơi nước chạy than bùn tuyến Bắc - Nam, nhiệt độ buồng trục có thể lên tới ba trăm độ C. Lớp mạ crôm trang trí nếu không xử lý nhiệt chân không sẽ rất dễ bị bong tróc từng mảng nhỏ dưới tải trọng rung lắc, chính những vảy crôm bong ra ấy sẽ biến thành bột mài nghiền nát ngõng trục, dẫn tới thảm họa kẹt trục, lật tàu! Sản phẩm của Đặng gia chúng tôi gia công đạt dung sai hình học độ tròn và độ trụ là 0,00 milimet. Bề mặt đạt độ bóng cấp mười, khe hở dầu bôi trơn được tính toán chuẩn xác theo phương trình thủy động lực học để màng dầu không bao giờ bị xé rách!”

Từng lời nói của Hoài An gãy gọn, đanh chắc như tiếng kim loại va vào nhau. Những thuật ngữ chuyên ngành: ram thấm ba giai đoạn, màng dầu thủy động, vảy crôm bong tróc phát ra từ miệng một người thợ trẻ hai mươi tư tuổi khiến toàn bộ các kỹ sư già trong Hội đồng đồng loạt ngồi thẳng dậy, ánh mắt biến chuyển từ tò mò sang kinh ngạc.

Giáo sư Trực đẩy cặp kính lão trễ xuống mũi, đích thân đứng dậy bước xuống bàn kiểm định. Theo sau ông là hai chuyên gia luyện kim hàng đầu.

Họ không thèm nhìn chiếc vỏ nhung của Bách nữa mà vây quanh chi tiết của Hoài An. Vị giáo sư già dùng ngón tay cái miết nhẹ lên bề mặt bạc lót, cảm nhận độ mịn tuyệt đối không một gợn sóng. Tiếp đó, ông dùng đồng hồ so chân gập gắn lên giá từ, xoay tròn chi tiết trên bàn gá chuẩn.

Kim đồng hồ so đứng im phắc! Sai số hình học thực sự tiệm cận mức zero tuyệt đối!

“Kỳ diệu thật...” Một kỹ sư trưởng Xưởng Gia Lâm thốt lên, giọng run run: “Tay nghề tiện thủ công bậc bảy... Không, phải là bậc bảy bàn tay vàng thời chiến mới bắt được nhịp rơ của máy cơ cũ mà tiện ra bề mặt hoàn hảo như thế này!”

Giáo sư Trực lại quay sang chiếc bạc lót bóng lộn của Trần Quốc Bách. Ông lấy một chiếc dùi thép thử độ cứng chuyên dụng, vạch nhẹ một đường lên bề mặt mạ crôm. Một tiếng xoẹt khẽ vang lên, lớp mạ trắng bong ra một vệt mỏng, làm lộ ra bên dưới là lớp kim loại xốp xơ xác, màu xám xịt của gang cầu chất lượng thấp được đúc vội vã.

Sắc mặt của các thành viên Hội đồng lập tức tối sầm lại.

Trần Quốc Bách toát mồ hôi hột, nụ cười trên môi tắt ngấm. Hắn lắp bắp: “Thưa... thưa Giáo sư, đó là lớp bảo vệ ngoài... bên trong là thép tiêu chuẩn...”

“Thép tiêu chuẩn gì mà lõi gang, vỏ mạ crôm hàng chợ thế này?” Một vị kỹ sư già đập mạnh tay xuống bàn, giận dữ quát: “Anh định đem cái thứ hàng mã này lắp vào đầu máy kéo hàng trăm tấn hành khách vượt đèo Hải Vân à? Anh có biết chỉ cần chạy năm mươi cây số, nhiệt độ tăng cao làm nứt lớp mạ này thì cả đoàn tàu sẽ ra sao không?”

Cả hội trường im phăng phắc như tờ. Quốc Bách mặt cắt không còn giọt máu, hai bàn tay nắm chặt giấu dưới gấu áo vest run lên bần bật vì bẽ bàng và nhục nhã.

Tuy nhiên, với bản chất của một kẻ kinh doanh lọc lõi và có thế lực ngầm chống lưng, Bách nhanh chóng lấy lại giọng điệu giảo hoạt:

“Thưa Hội đồng! Sản phẩm của chúng tôi là hàng mẫu chào hàng, nếu quy cách chưa chuẩn, chúng tôi hoàn toàn có thể yêu cầu phía đối tác nước ngoài điều chỉnh ngay lập tức! Hơn nữa, công ty chúng tôi có năng lực tài chính, có kho bãi, cam kết cung ứng hàng loạt. Còn cơ sở của anh An đây dù có khéo tay tiện được một cái mẫu tinh xảo, nhưng thử hỏi một cái xưởng rách nát bên đường tàu, máy móc cũ rỉ, liệu có thể sản xuất nổi mười bộ, một trăm bộ đạt chuẩn như thế này trong thực tế hay không? Hay đây chỉ là trò ‘khoán việc làm màu’?”

Lời phản bác của Bách đánh trúng vào điểm yếu chí tử của nền sản xuất thủ công thời bấy giờ: tính đồng bộ và năng lực cung ứng quy mô lớn.

Các thành viên Hội đồng bắt đầu xì xào bàn tán, chia làm hai luồng ý kiến căng thẳng. Một bên bảo vệ tiêu chuẩn kỹ thuật tuyệt đối của Hoài An, một bên lo ngại năng lực thực tế của một xưởng cơ khí gia đình nghèo nàn.

Giáo sư Trực trầm ngâm hồi lâu. Ông gõ gõ chiếc tẩu thuốc bằng gỗ cẩm lai xuống mặt bàn, đưa ra phán quyết cuối cùng:

“Chúng ta đang ở thời kỳ Đổi Mới, mọi đánh giá phải dựa trên thực tiễn kiểm nghiệm nghiêm ngặt nhất, không thể cảm tính! Hội đồng quyết định: Cả hai chi tiết bạc lót của Công ty Bách Khoa và Cơ sở Đặng gia đều được tiếp nhận vào vòng thử nghiệm cuối cùng: Vòng thử tải khắc nghiệt bảy mươi hai giờ liên tục trên đầu máy xe lửa Tự Lực số hiệu 141-112 chạy tuyến Hà Nội – Vinh – Hà Nội. Sau chuyến chạy thử này, chi tiết nào chịu được ma sát, giữ được độ bóng, không phát nhiệt biến dạng và đạt tiêu chuẩn an toàn thì đơn vị đó sẽ chính thức trúng thầu dự án cung ứng dài hạn cho ngành đường sắt!”

“Bảy mươi hai giờ thử tải liên tục!”

Hoài An siết chặt nắm tay, ngực đập thình thịch. Đó là một thử thách vô cùng tàn khốc. Bảy mươi hai giờ gầm rú của đầu máy hơi nước qua hàng trăm khúc cua, những đoạn dốc nghiệt ngã miền Trung sẽ là ngọn lửa thử vàng cho từng zem kim loại mà anh đã đổ mồ hôi và máu để tôi luyện.

Khi hội nghị kết thúc, mọi người lục tục ra về.

Hoài An cẩn thận ký vào biên bản niêm phong kỹ thuật, bàn giao chi tiết máy cho tổ giám sát lắp ráp của Xưởng Gia Lâm. Khi anh vừa bước ra hành lang sâu hun hút của tòa nhà Tổng cục, một bóng người lù lù bước ra từ góc khuất chân cầu thang, chặn đứng lối đi.

Trần Quốc Bách.

Gã trùm buôn lậu lúc này đã lột bỏ hoàn toàn vẻ hào nhoáng, lịch lãm của một giám đốc thời mở cửa. Mặt hắn xám ngoét vì tức tối, ánh mắt vằn lên những tia máu hung hiểm như loài thú dữ bị dồn vào chân tường. Hắn phả thẳng một luồng khói thuốc lá khét lẹt vào mặt Hoài An.

“Thằng thợ tiện rách,” Bách gằn từng tiếng qua kẽ răng, giọng the the lạnh buốt: “Mày tưởng mày mang cái tờ giấy rách năm bảy hai ra là cứu được cả lò nhà mày à? Mày nghĩ mày có cửa thắng được tao trong cuộc chơi này sao?”

Hoài An đứng sừng sững, ánh mắt khinh bỉ nhìn thẳng vào kẻ đối diện:

“Quốc Bách, mày có tiền, có thủ đoạn, nhưng mày không có lòng tự trọng của một con người. Mày mang thứ phế phẩm mạ kền lừa gạt tính mạng của đồng bào đi tàu, lương tâm mày bị chó tha rồi. Hội đồng đã quyết định, cứ để bảy mươi hai giờ trên đường ray trả lời!”

Bách cười khẩy một tiếng man rợ. Hắn tiến sát lại gần, ghé sát môi vào tai Hoài An, thì thầm những lời độc địa như nọc rắn:

“Đường ray à? Mày ngây thơ lắm con ạ. Bảy mươi hai giờ là quá dài... Mày có tin không, trước khi cái đầu máy thử nghiệm kia kịp lăn bánh khỏi ga Hà Nội, tao sẽ biến cái xưởng tiện chuột chui của cha con mày thành một đống tro tàn! Còn con Quyên... để xem không có tiền trả nợ, không có cái xưởng của mày chống lưng, nó có phải quỳ gối bò đến van xin tao hay không!”

Dứt lời, Bách vứt mẩu thuốc lá xuống sàn gạch men, dùng mũi giày da Ý nghiến nát một cách tàn nhẫn rồi quay lưng sải bước ra cổng, nơi chiếc xe Simson đỏ bóng lộn đang nổ máy chờ sẵn.

Cơn giận bốc lên ngùn ngụt trong lồng ngực Hoài An. Anh nắm chặt nắm đấm đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay rớm máu. Lời đe dọa của Bách không phải là lời nói suông. Hắn là một con thú bị thương, và trong cơn giãy chết, hắn sẵn sàng làm những điều tàn bạo nhất.

Đúng lúc đó, từ phía sân ga Hàng Cỏ cách đó không xa, một hồi còi tàu xé toạc bầu không khí mùa đông buốt giá.

Tuuuuu...! Tuuuuu...!

Tiếng còi tàu không vang lên dõng dạc như thường lệ, mà nghe đứt quãng, nghẹn ngào và gấp gáp lạ thường.

Một người thợ đường sắt mặc áo phản quang hớt hải chạy từ cổng ga vào trụ sở, vừa chạy vừa thở không ra hơi, nói to với nhân viên điều độ trực ban:

“Báo cáo trực ban! Chuyến tàu hàng Thống Nhất mang số hiệu H-48 chở hàng chuyến từ Nam ra vừa gửi điện tín khẩn! Đoàn tàu gặp sự cố trật bánh bất thường tại một ga xép gần Thanh Hóa, hiện đang bị phong tỏa đình trệ vô thời hạn! Toàn bộ các toa chở hàng tiểu thương... trong đó có ba toa chứa vải tơ lụa Nam Bộ... đang bị ách tắc, có nguy cơ hư hại nặng nề!”

Lời thông báo như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào gáy Hoài An.

Tàu hàng H-48... Chở vải lụa Nam Bộ...

Đó chính là chuyến tàu chở năm mươi cây lụa Tân Châu của chị Bé Hai – nguồn sống duy nhất, hy vọng trả nợ duy nhất của Thục Quyên và hai đứa em nhỏ trước ngày Tết cận kề!

Gió mùa đông bắc bỗng thốc mạnh qua dãy hành lang hun hút, mang theo hơi lạnh thấu xương của mưa phùn và mùi khói than đá nồng nặc. Hoài An đứng chôn chân giữa sân Tổng cục, nhìn lên bầu trời Hà Nội xám xịt như chì. Giông bão của thời cuộc, của hận thù và những âm mưu đen tối đã không còn là điềm báo nữa, mà đã thực sự ập xuống ngay trên đầu những con người nghèo khổ xóm ga.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn