Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 12: Bàn tay đen trong bóng tối

Gió bấc rít từng hồi qua những thanh xà sắt hoen gỉ của mái vòm ga Hàng Cỏ. Mưa phùn mùa đông như rây bột trên nền trời xám xịt, phủ một lớp màn mờ ảo, buốt lạnh lên những toa tàu hàng nằm im lìm trên đường ray phụ.

Thục Quyên kéo chặt vạt áo bông trần chéo ngực, đôi bàn tay giấu sâu trong túi áo đã tê dại vì cóng buốt. Đôi mắt bồ câu của cô trĩu nặng âu lo, dán chặt vào khúc quanh mờ mịt phía Nam, nơi tuyến đường sắt uốn lượn biến mất sau những rặng chuối xơ xác ngõ Khâm Thiên. Bên cạnh cô, chị Bé Hai đứng ngồi không yên, chiếc nón lá đội sùm sụp trên đầu đọng đầy những hạt nước li ti. Chị chốc chốc lại dậm chân bôm bốp xuống nền đá dăm, miệng lẩm bẩm những lời cầu khấn lẫn trong hơi thở phả ra thành từng luồng khói trắng.

“Bốn tiếng rồi… Trễ những bốn tiếng đồng hồ rồi Quyên ơi!” Chị Bé Hai nghẹn giọng, hai bàn tay thô ráp xoắn chặt lấy quai chiếc túi cói: “Bình thường tàu hàng H-48 có chậm thì quá trưa cũng phải kéo còi vào ga. Đằng này lại nghe báo trật bánh ngoài Thanh Hóa, trời đất ngó xuống mà coi, ba kiện lụa của tui là gom hết vốn liếng chuyến này, gửi trọn cả vào danh dự làm ăn với người ta ngoài Bắc…”

“Chị Hai bình tâm lại đã.” Quyên khẽ khàng đặt bàn tay ấm áp lên cánh tay đang run rẩy của người phụ nữ phương Nam: “Bác Cả Thiện vừa sang phòng điều độ hỏi giùm rồi, tàu không lật, chỉ bị trật bánh trượt khỏi ray phụ ở một ga xép nhỏ. Đầu máy cứu hộ từ ga Ninh Bình đã kéo được đoàn tàu về trục chính. Chắc chắn chỉ lát nữa thôi…”

Chưa dứt lời, một hồi còi đùng đục, nặng nề xé toạc màn mưa phùn ẩm ướt vang lên từ phía xa.

Tuuuu… Uuuu…!

Tiếng còi tàu hơi nước mang số hiệu H-48 không giòn giã như những chuyến tàu Thống Nhất chở khách, mà khàn đặc, mệt mỏi như tiếng th* d*c của một con thú khổng lồ vừa vượt qua chặng đường dài đầy thương tích. Chiếc đầu máy hơi nước Tự Lực đen trùi trũi lừng lững tiến vào sân ga, kéo theo sau hơn hai mươi toa hàng phủ bạt xơ xác. Hơi nước từ van xả phì ra mù mịt, quện chặt với mùi than đá cháy dở và dầu mỡ bốc lên nồng nặc.

Chị Bé Hai buông chiếc nón lá, hớt hải chạy dọc theo thềm ga trơn trượt. Quyên vội vã chạy theo sau, tim đập thình thịch như gõ trống trong lồng ngực.

Toa chở hàng bách hóa số 08 dừng lại sát khu vực bốc dỡ hàng hóa tiểu thương. Người phụ trách toa hàng mặc bộ đồng phục sắt gỉ lem nhem bước xuống, tay cầm tập vận đơn nhàu nát, gương mặt xám ngoét vì mệt mỏi. Vừa nhìn thấy chị Bé Hai, ánh mắt ông ta bỗng chùng xuống, lộ rõ vẻ né tránh và ái ngại.

“Toa hàng của tui… ba kiện lụa Tân Châu dán nhãn bông mai vàng gửi từ ga Sài Gòn đâu anh?” Chị Bé Hai níu lấy tay áo người công nhân, giọng hốt hoảng.

Người đàn ông thở dài một tiếng nặng trịch, lắc đầu chỉ tay vào sâu bên trong góc tối của toa xe:

“Chị Hai… chị chuẩn bị tinh thần đi. Lúc tàu đỗ tránh ở ga Cầu Giát trong đêm, có nhóm người nhảy tàu cạy cửa toa. Chúng tôi phát hiện xua đuổi thì chúng nó bỏ chạy, nhưng mà…”

Linh tính mách bảo điều chẳng lành, Thục Quyên không đợi người phụ trách dứt lời, liền thoăn thoắt trèo lên mép sàn toa xe. Khi ánh sáng nhợt nhạt của buổi chiều đông hắt vào góc tối, một cảnh tượng kinh hoàng đập thẳng vào mắt hai người phụ nữ.

Ba kiện hàng bọc bao tải gai dày cộp, buộc dây thừng chắc chắn mang ký hiệu của xưởng lụa Tân Châu đã bị rạch nát tươm. Những đường dao sắc lẹm chém xéo qua lớp bao bì, đâm sâu hoắm vào tận ruột của những cuộn lụa tơ tằm thượng hạng. Tệ hại hơn cả, một thứ chất lỏng màu đen quánh, bốc mùi khét lẹt của dầu máy thải xe lửa đã bị kẻ gian cố tình đổ trút từ trên đỉnh xuống. Thứ dầu luyn bẩn thỉu ấy thấm sâu, loang lổ, ăn mòn từng thớ vải mềm mại, biến những sấp lụa màu tím hoa cà kiêu sa, màu vàng mỡ gà óng ả và màu xanh ngọc bích non tơ thành những mớ giẻ rách nham nhở, đen đúa.

“Trời đất ơi là trời! Tiền của tui… lụa của tui!”

Chị Bé Hai rú lên một tiếng thảm thiết rồi khuỵu ngã ngay trên sàn toa tàu đầy bụi than. Chị ôm lấy một sấp lụa bị dầu nhớt ngấm đen sì vào lòng, nước mắt chan hòa cùng nước mưa, run rẩy gào khóc: “Đứa nào thất đức thế này? Quân giết người không dao! Năm mươi cây lụa tơ tằm nguyên chất tui chắt chiu từng cắc bạc mồ hôi nước mắt… Giờ làm sao giao cho khách? Làm sao ăn nói với người ta đây trời ơi!”

Cổ họng Thục Quyên nghẹn ứ lại, một luồng khí lạnh buốt xông thẳng từ sống lưng l*n đ*nh đầu. Cô quỳ xuống bên cạnh đống lụa bị tàn phá, đôi bàn tay run rẩy chạm vào những mép vải bị rách toạc.

Không phải cướp giật. Bọn chúng không hề lấy đi một mét vải nào. Đây là hành vi triệt hạ có chủ đích, một đòn thù độc địa và tàn nhẫn đến tận cùng!

Mùi dầu máy thải khét nồng này… Quyên cắn chặt môi đến bật máu. Cô nhớ lại ánh mắt vằn tia máu của Trần Quốc Bách khi đứng cạnh chiếc xe Simson đỏ rực bên hiên nhà sáng hôm nào. Lời đe dọa bóp nghẹt nguồn vải của hắn vẫn còn văng vẳng bên tai. Hắn biết rõ đơn hàng năm mươi bộ áo dài Tết này là chiếc phao cứu sinh duy nhất để cô trả món nợ năm vạn đồng, cũng là nguồn sống của ba chị em cô và tương lai xưởng cơ khí của Hoài An. Hắn không thể cướp lấy cô bằng tiền bạc, liền dùng thủ đoạn bẩn thỉu nhất để dìm cô xuống đáy vực sâu.

“Chị Hai, đứng lên đi chị!” Quyên hít một hơi thật sâu, nuốt ngược những giọt nước mắt uất nghẹn vào trong, giọng nói đanh lại đầy kiên nghị: “Khóc không giải quyết được gì đâu chị. Bọn chúng muốn thấy chúng ta gục ngã, muốn chúng ta quỳ gối đầu hàng. Em không cho phép chuyện đó xảy ra!”

Chị Bé Hai ngẩng gương mặt đẫm lệ lên, tuyệt vọng lắc đầu: “Còn nước non gì nữa đâu Quyên ơi… Lụa tơ tằm dính phải dầu luyn xe lửa thì hóa chất nào tẩy cho ra? Coi như mất trắng cả trăm vạn bạc rồi…”

“Chưa mất trắng đâu chị!” Quyên dứt khoát luồn tay vào sâu bên trong kiện hàng, kéo tung từng nếp gấp: “Kiện hàng bị rạch dọc, dầu máy chỉ thấm sâu vào phần lưng cuộn vải và những nếp gấp ngoài cùng. Phần lõi bên trong và những dải biên vẫn còn nguyên vẹn! Mau, chị phụ em chuyển hết số vải này về ngõ Khâm Thiên. Còn một mét lụa lành lặn, Thục Quyên này còn may được áo dài!”

Ánh mắt kiên định, rực lửa của cô gái trẻ mảnh mai như truyền một luồng sinh khí mới vào người đàn bà phương Nam đang rệu rã. Chị Bé Hai quẹt ngang dòng nước mắt, cắn răng gật đầu: “Được! Chị nghe mày. Về nhà!”

*

Đêm mùa đông buông xuống ngõ Khâm Thiên buốt giá và u uất.

Trên căn gác xép nhỏ hẹp của tiệm may Thục Quyên, ngọn đèn dầu hỏa được vặn to hết cỡ, tỏa ra thứ ánh sáng vàng ấm áp xua đi cái lạnh lẽo của bóng đêm. Khắp mặt sàn gỗ ken dày, những dải lụa vừa được gỡ ra nằm la liệt. Mùi xà phòng thơm trộn lẫn mùi dầu hỏa bốc lên thoang thoảng sau khi Quyên đã tỉ mỉ dùng cồn và dung dịch gia truyền để khoanh vùng, tẩy rửa những vết dầu nhớt bám ở rìa vải.

Hai đứa em nhỏ, Hiền và Toàn, ngồi thu lu ở một góc gác xép, ngoan ngoãn phụ chị cuộn những dải vải sạch vào từng lõi gỗ nhỏ.

Quyên ngồi xếp bằng trên tấm chiếu hoa đã sờn mép, chiếc thước gỗ dài một mét đặt ngay ngắn bên cạnh cây kéo thép đầm tay. Trước mặt cô, số lụa Tân Châu cứu vãn được chỉ còn là những dải vải dài hẹp, bản rộng chừng hai gang tay, với ba tông màu chủ đạo: tím hoa cà, vàng mơ và xanh ngọc. Không một sấp vải nào còn đủ khổ rộng để cắt trọn vẹn một thân áo dài truyền thống.

Chị Bé Hai ngồi tựa lưng vào vách nứa, thở dài thườn thượt: “Khổ vải hẹp thế này, chắp vá lại thì thành áo của con nhà nghèo mặc đi cấy, ai chịu bỏ tiền triệu ra mua để diện Tết hả em?”

Quyên không đáp. Đôi mắt bồ câu của cô khẽ nheo lại, chăm chú quan sát sự tương phản giữa những dải lụa bóng bẩy và những cuộn vải đũi tơ tằm dệt thủ công của làng lụa Vạn Phúc mà cô còn lưu giữ trong rương gỗ. Đũi tơ tằm Bắc Bộ sợi thô mộc, dày dặn, có màu trắng ngà tự nhiên của kén tằm; còn lụa Tân Châu Nam Bộ lại trơn mượt, rủ mềm và bắt sáng rực rỡ.

Một tia sáng lóe lên trong tâm trí người thợ may trẻ.

Tại sao phải giấu đi những đường chắp vá? Tại sao không biến chính những đường ghép nối ấy thành một bản tuyên ngôn của sự đổi mới?

Quyên vồ lấy viên phấn may màu xanh, trải một tấm giấy xi măng lớn ra sàn rồi bắt đầu vung tay vẽ thoăn thoắt. Nét phấn lướt đi dứt khoát, uyển chuyển. Cô không đi theo phom áo dài thụng truyền thống bốn tà xưa cũ, mà áp dụng triệt để kỹ thuật cắt đề-cúp phương Tây ôm sát đường cong cơ thể.

Nhưng điều kỳ diệu nhất nằm ở thân áo: Quyên phối hợp những mảng lụa màu tím và vàng theo dạng hình học chéo góc (color-blocking), đan xen nhịp nhàng với những dải đũi tơ tằm màu ngà chạy dọc từ bờ vai xuống eo, tạo cảm giác thân hình người mặc thon thả, thanh thoát hơn hẳn. Những đường nối giữa lụa và đũi không may giấu chỉ đơn điệu, mà được cô thiết kế chạy chỉ viền nổi tơ tằm màu cánh gián, tựa như những đường gân lá mềm mại.

“Chị Hai, chị nhìn này!” Quyên reo khẽ, xoay bản vẽ về phía chị Bé Hai.

Chị Bé Hai choàng tỉnh, dán mắt vào bản vẽ trên giấy xi măng. Là một con buôn sành sỏi đã đi khắp các chợ vải từ Bến Thành ra Đồng Xuân, đôi mắt chị mở to dần vì kinh ngạc:

“Trời đất ơi… Lạ quá! Vừa có nét đài các của áo dài cung đình, lại vừa hiện đại, phá cách như đồ đầm phương Tây vậy mày? Cái mảng lụa tím đặt cạnh đũi trắng ngà này… nó sang, nó tôn màu da lên biết chừng nào!”

“Đây là áo dài chắp mảng cách tân,” Quyên mỉm cười, đôi gò má ửng hồng vì phấn khích: “Lụa Tân Châu mềm mại sẽ nằm ở phần ngực và tà áo để tạo độ bay; còn đũi Hà Đông thô đầm sẽ giữ phom ở eo và sống lưng, giúp người mặc giấu được khuyết điểm. Ba kiện lụa bị rạch, nếu cắt khéo theo phom này, chúng ta không những đủ may năm mươi bộ áo dài Tết, mà em dám cam đoan, mỗi bộ áo sẽ là một tác phẩm độc nhất vô nhị, không một tiệm may nào ở Hà Nội hay Sài Gòn có thể làm nhái được!”

“Được! Hay lắm Quyên ơi!” Chị Bé Hai vỗ đùi đánh đét một cái, mọi muộn phiền tan biến sạch sành sanh: “Mày đúng là có bàn tay vàng của trời cho! Cắt đi, chị thức trắng đêm phụ mày vắt sổ, thùa khuy!”

Tiếng kéo cắt vải tanh tách vang lên giòn giã trên gác xép, xua tan đi cái lạnh căm căm của đêm đông. Tiếng bàn đạp máy may con bướm rộn ràng khua nhịp, như tiếng gõ của niềm hy vọng không bao giờ lụi tàn.

*

Đồng hồ trên nóc ga Hàng Cỏ điểm mười một giờ đêm.

Bên xưởng cơ khí Đặng gia sát mép đường tàu, ánh đèn dây tóc bốn mươi oát vàng vọt vẫn hắt qua khung cửa sổ gỗ ọp ẹp. Mùi dầu hôi, mùi mạt sắt và hơi ấm từ lò than âm ỉ tạo nên một không khí đặc quánh, căng thẳng.

Quyên khoác thêm chiếc khăn len màu chàm, tay xách chiếc cặp lồng nhôm đựng nước chè gừng nóng và mấy củ khoai lang luộc vừa chín tới, bước nhẹ qua ngõ nhỏ sang xưởng tiện.

Đẩy cánh cửa gỗ khép hờ, cô thấy hai bóng người in đậm trên bức tường vôi loang lổ. Ông Tấn đang ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp, chiếc kính lão trễ xuống tận sống mũi, tay cầm chiếc kính lúp cẩn thận soi từng con số trên tập giấy kẻ ô ly. Bên cạnh ông, Hoài An đang cúi rạp người trên bàn làm việc bằng gỗ lim, tay cầm chiếc compa cơ khí và thước chữ T bằng đồng, tỉ mẩn vạch từng đường mực Tàu đen nhánh.

Khuôn mặt chữ điền của An nghiêm nghị, vầng trán rộng lấm tấm những giọt mồ hôi dù trời lạnh cắt da. Bàn tay chai sạn của người thợ tiện bậc cao khi cầm bút vẽ lại mềm mại, chuẩn xác đến kỳ lạ.

“Thầy, anh An… nghỉ tay uống hớp nước gừng cho ấm đã ạ.” Tiếng Quyên cất lên êm ái như dòng suối mát giữa không gian nồng mùi kim loại.

Hoài An ngẩng đầu lên. Nhìn thấy bóng dáng thanh mảnh của Quyên trong manh áo bông quen thuộc, ánh mắt mệt mỏi của anh bỗng bừng sáng một nụ cười ấm áp:

“Quyên đấy à? Muộn thế này sao chưa đi ngủ? Chuyện chuyến tàu hàng H-48… ban nãy anh nghe ngoài ga đồn…”

“Em xử lý êm xuôi cả rồi anh.” Quyên bước lại gần, đặt chiếc cặp lồng lên góc bàn, cẩn thận rót nước chè gừng bốc khói nghi ngút ra chiếc bát sứ Hải Dương đưa cho ông Tấn: “Thầy uống nước cho ấm họng ạ.”

Ông Tấn đỡ lấy bát nước chè, ánh mắt nghiêm khắc thường ngày ánh lên nét hiền từ, xúc động: “Con bé tháo vát lắm. Thằng Bách nó giở trò bẩn, nhưng người ngay thì trời không phụ. Hai đứa bay đều có cái gan góc của thợ xóm ga, không dễ gì bị chúng nó đè bẹp đâu.”

Quyên mỉm cười, khẽ liếc nhìn tập bản vẽ trên bàn của An: “Anh An đang vẽ gì mà chăm chú thế?”

An đón lấy bát nước chè từ tay Quyên, ngón tay thô ráp khẽ chạm vào bàn tay mềm mại của cô, một luồng điện ấm áp khẽ lan tỏa khiến tim cả hai khẽ đập loạn nhịp. Anh chỉ vào những biểu đồ chi tiết chằng chịt các ký hiệu kỹ thuật:

“Hội đồng Đường sắt vừa có thông báo bổ sung chiều nay. Họ yêu cầu trong vòng bảy mươi hai giờ thử tải trên tuyến Hà Nội – Vinh, đơn vị tham gia phải nộp kèm một bộ hồ sơ kỹ thuật hoàn chỉnh: từ sơ đồ dung sai chế tạo bạc lót, quy trình công nghệ ram thép, biểu đồ biến thiên độ cứng kim loại theo nhiệt độ cho đến phương án dự phòng khi trục truyền động gặp sự cố ma sát lớn.”

An trầm giọng, ánh mắt lóe lên sự cẩn trọng của người làm nghề: “Chi tiết bạc lót thép C.F.I. 1928 của mình đã được niêm phong lắp lên đầu máy 141-112 rồi. Nhưng bộ hồ sơ kỹ thuật này là căn cứ pháp lý duy nhất để Hội đồng nghiệm thu và bảo vệ bản quyền thiết kế nội địa hóa cho xưởng Đặng gia. Thằng Bách thất thế ở hội trường, chắc chắn nó không ngồi yên. Anh và thầy phải thức trắng đêm nay để vẽ lại trọn vẹn bộ sơ đồ dung sai ram thép, hoàn thiện từng thông số zem nhỏ nhất làm tài liệu dự phòng, sáng sớm mai nộp trực tiếp vào văn phòng Cục trưởng.”

Quyên nhìn những con số chi li, những đường nét chuẩn xác đến từng phần mười milimet dưới ngòi bút của An, trong lòng dâng lên niềm cảm phục khôn xiết. Đằng sau dáng vẻ trầm lặng, mộc mạc ấy là một khối óc uyên bác và một ngọn lửa nghề cháy bỏng.

“Anh cứ yên tâm làm việc,” Quyên khẽ nói, ánh mắt chan chứa niềm tin: “Bên tiệm may em cũng vừa tìm ra cách phối lụa Tân Châu với đũi Hà Đông. Ngày mai, năm mươi chiếc áo dài cách tân sẽ lần lượt lên khung. Chúng ta sẽ cùng nhau đi qua cơn giông bão này.”

Hoài An nhìn sâu vào đôi mắt kiên định của người con gái mình thương, nắm chặt lấy bàn tay cô, khẽ gật đầu: “Nhất định thế!”

*

Gần một giờ sáng.Xóm ga Hàng Cỏ chìm vào giấc ngủ sâu, chỉ còn tiếng gió đông gầm rít qua những khe tường và tiếng rỉ rả của những giọt nước mưa rớt trên mái tôn rỉ sét. Sau khi Quyên trở về gác xép để tiếp tục đường kim mũi chỉ, xưởng tiện Đặng gia chỉ còn lại hai cha con ông Tấn.

Bản vẽ kỹ thuật cuối cùng về chu trình tôi dầu và ram nguội thép hợp kim Niken-Crom vừa được An hoàn tất. Những nét mực Tàu đã khô ráo, sắc sảo và hoàn mỹ nằm ngay ngắn trong chiếc cặp tài liệu bằng bìa da cũ – kỷ vật thời đi học Trung cấp Cơ giới của ông Tấn.

Đột nhiên…

Tạch! Xoẹt… xoẹt!

Một tiếng nổ lách tách khô khốc vang lên từ phía cột điện hạ thế đầu ngõ.

Ngay lập tức, bóng đèn dây tóc bốn mươi oát trong xưởng chớp giật liên hồi rồi vụt tắt ngấm. Toàn bộ dải dân sinh dọc mép đường tàu chìm nghỉm vào một màn đêm đen đặc như mực. Mùi khét lẹt của dây đồng bị chập cháy theo gió lùa vào khe cửa.

“Mất điện rồi à?” Ông Tấn lẩm bẩm trong bóng tối, tay quờ quạng tìm bao diêm trên bàn: “Lạ thật, nửa đêm thế này trạm biến áp xóm ga ít khi quá tải lắm…”

“Thầy ngồi yên đấy, để con bật đèn pin.”

Hoài An cất tiếng, với tay lấy chiếc đèn pin Liên Xô vỏ sắt đặt cạnh máy tiện. Nhưng ngón tay anh vừa chạm vào thân đèn kim loại lạnh toát, đôi tai thính nhạy của người thợ tiện bỗng giật thót.

Lạo xạo… lạo xạo…

Tiếng sỏi đá dăm trên đường ray bị giẫm đạp vội vã. Tiếng kim loại cọ vào nhau lách cách rất khẽ ngay sát bức vách nứa phía sau xưởng.

Đó không phải là bước chân của người đi tuần tra đường sắt! Người tuần đường luôn đi ủng da nặng nề và gõ gậy sắt theo nhịp đều đặn. Bước chân này lén lút, gấp gáp và đầy sát khí.

“Ai ở ngoài đó?” Hoài An quát khẽ, tay siết chặt lấy chiếc cờ-lê số 24 nặng trịch.

Không có tiếng trả lời. Chỉ một giây sau, cánh cửa ngách bằng gỗ tạp phía sau xưởng tiện bị một lực cực mạnh đạp tung ra!

Rầm!

Gió lạnh và mưa phùn thốc vào xưởng buốt nhói. Trong ánh sáng lờ mờ của bóng đêm mùa đông hắt qua khung cửa vỡ, hai bóng đen to lớn, trùm kín mặt bằng khăn len đen lù lù xông vào. Trên tay chúng lăm lăm những thanh xà beng sắt phi 20 sáng loáng.

“Thằng nào là Hoài An?” Một giọng nói the thé, sặc mùi rượu gắt gỏng cất lên.

“Chúng mày là ai? Muốn làm gì?” Ông Tấn chống gậy đứng phắt dậy, cất giọng đanh thép của một người lính già.

“Đừng nhiều lời! Đập nát cái bàn trượt máy tiện cho tao! Lấy cái hòm tài liệu của chúng nó!” Tên cầm đầu gầm lên, vung thanh xà beng giáng thẳng một nhát trời giáng xuống thân chiếc máy tiện 1A62!

Mục tiêu của chúng là triệt hạ cỗ máy sống còn của xưởng Đặng gia! Chiếc máy tiện Tiệp Khắc vừa được bà con xóm ga quấn lại động cơ, nếu rãnh trượt chữ V của bàn dao bị xà beng đập nứt vỡ, độ chính xác cơ khí sẽ vĩnh viễn mất đi, xưởng tiện coi như bị xóa sổ hoàn toàn!

“Dừng tay lại!”

Hoài An gầm lên một tiếng xé lòng. Trong tích tắc ngàn cân treo sợi tóc, không màng đến tính mạng, anh lao mình về phía trước, vung chiếc cờ-lê thép trong tay lên đỡ đòn.

Kenggggg!

Một tiếng va chạm kim loại chói tai vang lên, tia lửa cam tóe ra sáng lòa trong đêm tối. Lực giáng cực mạnh của thanh xà beng truyền qua chiếc cờ-lê khiến bắp tay Hoài An tê dại, cả người anh chao đảo lùi lại hai bước, lưng đập mạnh vào thành máy tiện đau nhói.

“Thằng ranh con, mày muốn chết!”

Tên thứ hai xông tới, vung xà beng nhằm thẳng bả vai Hoài An bổ xuống.

“Quân cướp ngày!” Ông Tấn gầm lên, dù chân tập tễnh nhưng phản xạ thời chiến vẫn còn nguyên vẹn. Người thợ già lao tới, ôm chặt lấy thắt lưng gã côn đồ thứ hai, dùng hết sức bình sinh xô mạnh hắn vào đống phôi sắt vụn góc nhà. Tên côn đồ mất thăng bằng ngã nhào, thanh sắt trong tay văng ra cắm phầm phập xuống nền đất.

Trong lúc đó, tên cầm đầu điên cuồng vơ lấy chiếc cặp da đựng hồ sơ kỹ thuật trên bàn làm việc nhét vào bụng áo, tay kia cầm xà beng quét ngang một đường hiểm hóc hòng gạt ngã Hoài An để tẩu thoát.

Cửa xưởng bỗng bật mở toang.

“Bắt cướp! Có cướp! Bà con xóm ga ơi, có cướp phá xưởng tiện!”

Tiếng thét xé toạc màn đêm của Thục Quyên vang lên như một tiếng còi báo động. Cô cầm chiếc đèn bão vừa thắp sáng rực rỡ, tay kia cầm một cây gậy gạt phoi sắt dài, dũng cảm lao thẳng vào giữa xưởng.

Ánh đèn bão bừng sáng soi rõ bộ mặt bịt kín của hai tên lưu manh. Nhìn thấy ngọn đèn, tên cầm xà beng hoảng loạn, quay ngoắt lại toan vung hung khí tấn công Quyên để mở đường máu.

“Khốn nạn!”

Hoài An gầm lên trong cơn thịnh nộ tột cùng. Lợi dụng khoảnh khắc tên cướp quay đầu, anh tung một cú đạp sấm sét vào đúng hông hắn. Tên côn đồ loạng choạng ngã dúi dụi vào gầm máy tiện, chiếc xà beng tuột khỏi tay rơi choang choang trên nền đá.

Quyên không hề sợ hãi, cô chộp lấy chiếc xô sắt đựng đầy mạt sắt sắc nhọn cạnh cửa, tạt thẳng vào mặt tên cướp đang lồm cồm bò dậy. Mạt sắt và dầu nhớt bắn tung tóe khiến gã rú lên một tiếng đau đớn, ôm lấy mắt.

Cùng lúc đó, từ khắp các ngả ngõ xóm ga, tiếng đập xoong chảo, tiếng la hét của bà con công nhân rầm rập kéo đến:

“Cướp ở đâu? Vây chặt hai đầu đường tàu lại!”

“Bác Cả Thiện ơi, mang đèn bão sang xưởng chú Tấn mau lên!”

Biết hành tung đã bị bại lộ và không thể hoàn thành trọn vẹn âm mưu phá hủy máy tiện, hai tên côn đồ liều chết vùng dậy. Tên thứ hai giật mạnh chiếc cờ-lê trên tay ông Tấn, đẩy ngã người thợ già xuống nền đất rồi kéo tên cầm đầu đang ôm bọc tài liệu tháo chạy thục mạng ra phía cửa ngách.

“Đứng lại!” Hoài An lao theo, túm được vạt áo bông của tên cầm đầu.

Nhưng tên côn đồ đã thủ sẵn một con dao găm nhỏ trong tay áo. Hắn vung dao rạch một đường ngang không khí, mũi dao sượt qua bắp tay Hoài An làm rách toạc ống áo bảo hộ, máu tươi lập tức rỉ ra ướt đẫm. Cú giật mạnh khiến vạt áo hắn rách toạc, tập tài liệu trong bụng áo hắn bị xé rách một góc, nhưng hắn vẫn kịp ôm chặt phần lớn các bản vẽ sơ đồ dung sai kỹ thuật rồi nhảy qua bờ rào nứa, biến mất vào màn đêm đen kịt và sương giá dọc theo tuyến đường ray xe lửa.

“Anh An! Anh có sao không?”

Quyên lao tới, chiếc đèn bão trên tay cô run rẩy kịch liệt. Nhìn thấy dòng máu đỏ thẫm đang loang trên cánh tay áo của An, gương mặt cô tái nhợt đi vì hoảng hốt. Cô vứt vội chiếc gậy sắt, quỳ sụp xuống bên cạnh anh, vội vã xé dải khăn len quấn chặt lấy vết thương cầm máu: “Trời ơi… máu chảy nhiều quá! Anh có đau lắm không?”

“Anh không sao… chỉ sượt qua da thôi.” Hoài An th* d*c, lồng ngực phập phồng dữ dội. Anh gạt giọt mồ hôi lạnh trên trán, lo lắng quay lại nhìn cha: “Thầy! Thầy có bị thương ở đâu không?”

Ông Tấn vịn vào cạnh bàn trượt máy tiện run rẩy đứng dậy, mái tóc hoa râm xõa rượi. Ông nhìn chiếc máy tiện 1A62 vẫn đứng sừng sững, chỉ bị vài vết xước sâu trên lớp sơn xanh cũ kỹ, rồi lại nhìn chiếc bàn làm việc trống trơn.

“Máy móc… máy móc còn nguyên vẹn, không sao cả…” Giọng ông Tấn run lên nghẹn ngào, nhưng ánh mắt bỗng chùng xuống đầy đau xót: “Nhưng mà tập bản vẽ… Sơ đồ dung sai ram thép và bảng thông số tôi nhiệt C.F.I. của con… chúng nó cướp mất rồi!”

Bác Cả Thiện cùng hàng chục bà con thợ xóm ga lúc này đã cầm đèn pin, gậy gộc ùa vào xưởng, tiếng xôn xao bàn tán vang động cả một góc phố:

“Chúng nó chạy đi đâu rồi?”

“Đúng là quân trời đánh thánh vật! Ban nãy dây hạ thế ngoài cột bị người ta dùng kìm cộng lực cắt đứt ngọt xớt, đây là có kẻ lập mưu từ trước!”

Giữa lúc mọi người đang nhốn nháo kiểm tra hiện trường, Thục Quyên cúi người nhặt chiếc đèn bão lên, ánh sáng quét qua những vết sỏi đá xáo trộn và những vũng dầu nhớt vương vãi trên nền đất ngay cạnh chân bàn máy tiện – nơi tên côn đồ vừa giằng co ngã xuống.

Ánh đèn pin le lói của Hoài An đột nhiên dừng lại ở một vật thể nhỏ xíu nằm lọt thỏm giữa khe nứt của hai viên gạch lát nền.

Đó là một chiếc vỏ bao diêm Thống Nhất bằng gỗ ép mỏng, mép bao đã bị giẫm bẹp dúm, vấy một vệt máu nhạt.

Hoài An cau mày, bước tới nhặt chiếc vỏ bao diêm lên.

Dưới ánh sáng ấm áp nhưng soi rõ từng chi tiết của ngọn đèn bão mà Quyên đang cầm sát bên, mặt sau của chiếc vỏ bao diêm lộ ra những dòng chữ viết tay nguệch ngoạc bằng bút bi mực xanh – thứ tích kê biên nhận quen thuộc của tiệm cầm đồ lớn nhất phố Khâm Thiên:

“Nhận cầm 01 đồng hồ Poljot Liên Xô. Số tiền: 50.000đ. Người gửi: Khách đi xe Simson đỏ – Biển số: 29-041-FD. Ghi chú: Chuyển giấy nợ về chú Bách.”

Cả gian xưởng bỗng chốc im bặt như tờ.

Biển số xe 29-041-FD… Chiếc xe Simson màu đỏ đun bóng lộn từng kiêu hãnh gầm rú đỗ trước cửa tiệm may của Thục Quyên, từng lượn lờ trước cổng Tổng cục Đường sắt ban trưa.

Hoài An siết chặt chiếc vỏ bao diêm trong lòng bàn tay đến mức những thớ gỗ mỏng gãy vụn kêu rắc rắc. Đôi mắt cương trực của chàng thợ tiện ánh lên những tia nhìn sắc lẹm như mũi dao thép P18 vừa mài, bừng bừng ngọn lửa của sự căm phẫn và lòng quyết tâm không gì lay chuyển nổi.

Bàn tay đen giấu trong bóng tối rốt cuộc đã để lại dấu vết. Cuộc chiến sống còn này không còn là chuyện của những chiếc bánh răng hay thước dây đơn thuần nữa, mà đã trở thành trận chiến đòi lại công lý cho danh dự của những người thợ nghèo.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn