Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 7: Những đêm không ngủ bên đường ray

Gió bấc cuối đông như những lưỡi cưa cùn miết qua từng khe nẹp liếp xiêu vẹo của xưởng cơ khí Đặng gia.

Đêm Hà Nội năm 1988 lạnh thấu buốt tủy xương, cái lạnh đặc quánh hơi sương mù ẩm ướt phả lên từ phù sa sông Hồng, quyện chặt lấy mùi xỉ than đá nồng nặc và mùi dầu mỡ lưu niên đóng bánh trên những thềm gạch vỡ. Cứ độ nửa tiếng, một đoàn tàu Thống Nhất hay tàu hàng bánh sắt nặng trịch lại xình xịch trườn qua ghi số năm của ga Hàng Cỏ, khiến cả gian xưởng cấp bốn rung lên bần bật. Những chiếc cờ-lê, mỏ lết treo trên vách cót kêu lách cách từng nhịp khô khốc, tựa hồ tiếng răng va vào nhau lập cập giữa cơn sốt rét rừng.

Hoài An đứng chôn chân bên cạnh chiếc bàn nguội bằng gỗ nghiến xước xát, lồng ngực phập phồng sau làn áo trấn thủ đã rách toạc một bên nách. Trước mặt anh, nằm chỏng chơ trên mặt bàn sắt hoen gỉ, chỉ có đúng bốn mẩu thép hợp kim tròn ngắn ngủn, mẩu dài nhất chưa đầy ba tấc. Đó là tất cả những gì anh và ông Tấn đã phải cúi mình, lùng sục từng xó xỉnh ở xưởng tháo dỡ toa xe Giáp Bát, dùng từng đồng tiền lẻ dành dụm và cả uy tín mấy mươi năm trong nghề của người thợ già để đổi lấy.

Bốn mẩu phôi thép Mangan-Crom hiếm hoi sót lại giữa một Hà Nội đang bị những bọc tiền mặt của Quốc Bách vét sạch sành sanh. Bốn mẩu thép – tương đương với bốn cơ hội duy nhất để chế tác ra cụm bạc lót mẫu nộp cho ban kiểm định Tổng cục Đường sắt, và cũng là bốn chiếc phao cứu sinh cuối cùng để giữ lại căn xưởng của tổ phụ, giữ lại chiếc máy may con bướm cho người con gái anh thương.

“Hai ngày nữa thôi…” Hoài An tự lẩm bẩm, giọng khàn đặc như có mạt sắt cọ vào cuống họng.

Anh đưa mu bàn tay quệt ngang trán, để lại một vệt dầu đen thẫm kéo dài từ chân tóc xuống tận gò má hốc hác. Đôi mắt anh đỏ hoe vì thiếu ngủ, tròng mắt vằn lên những tia máu đỏ như sợi chỉ tơ. Áp lực đè nặng lên lồng ngực anh từng giây từng phút. Món nợ năm vạn bạc phải trả trong bảy ngày cho tay chân Quốc Bách đang đếm ngược như chiếc đồng hồ hẹn giờ tử thần. Nếu đợt kiểm định này thất bại, không những xưởng tiện Đặng gia phải gỡ biển, chiếc máy tiện Tiệp Khắc bị kéo đi siết nợ, mà ngay cả Thục Quyên cùng hai đứa em thơ dại cũng sẽ bị đẩy vào bước đường cùng, rơi vào bàn tay vẩn đục của gã buôn lậu họ Trần.

Hoài An nghiến chặt răng, khớp hàm bạnh ra cứng ngắc. Anh quay người về phía góc xưởng, nơi chiếc lò than củi dã chiến đang đỏ lửa.

Không có lò điện cao tần chuyên dụng như ở Xưởng xe lửa Gia Lâm, anh buộc phải dùng than hoa củi đước trộn với than cám Quảng Ninh để nhóm lò tôi thép thủ công. Bễ thổi bằng da bò đã mòn vẹt, mỗi lần kéo thụt lại phát ra tiếng thở phì phò nặng nhọc như buồng phổi của một người già ho lao.

Hoài An gắp mẩu phôi thép đầu tiên đặt vào lòng than đỏ rực. Anh cúi rạp người, cẩn trọng kéo bễ. Ánh lửa than bùng lên soi rõ khuôn mặt chữ điền căng thẳng đến từng thớ thịt. Theo lời dặn trong cuốn sổ tay bìa bọc vải dù của bác thợ cả Doãn, thép hợp kim Mangan-Crom cần được nung đạt đến nhiệt độ tám trăm năm mươi độ C – thời điểm kim loại chuyển sang màu đỏ cánh sen tươi tắn, không được non lửa kẻo thép không ngậm hết carbon, cũng tuyệt đối không được già lửa kẻo hạt tinh thể bị thô đại, làm giòn thép.

Nhưng trong đêm đông gió mùa đông bắc lùa hun hút thế này, nhiệt độ lòng lò nung phập phù như ngọn đèn dầu trước gió. Phía đón gió thì nguội ngắt, phía khuất gió thì than đá đượm quá mức.

“Màu đỏ cánh sen… Phải là đỏ tươi…” Hoài An nheo mắt nhìn qua khe cửa lò, mồ hôi trên trán túa ra ròng ròng dù sau lưng gió lạnh buốt da gà.

Khi thấy mẩu thép ánh lên sắc đỏ hồng vừa vặn, Hoài An lập tức dùng kìm thợ rèn gắp phôi ra. Ngay khoảnh khắc kim loại nóng đỏ chạm vào không khí lạnh buốt bên ngoài, bề mặt phôi rít lên một tiếng “xè” ghê rợn. Anh nhanh như cắt nhúng ngập mẩu thép vào thùng dầu nhớt thải đặt sẵn cạnh chân bệ máy.

Khói dầu đen ngòm lập tức bốc lên ngùn ngụt, mù mịt cả gian xưởng chật chội, xộc thẳng vào mũi, vào phổi một mùi khét lẹt, cay nồng đến ch** n**c mắt. Dầu sôi lục bục, bọt khí nổi lên ùng ục quanh thân kìm sắt. Hoài An nín thở, hai tay ghìm chặt kìm sắt trong năm mươi giây dài đằng đẵng như năm mươi thế kỷ, rồi từ từ nhấc phôi thép ra, nhúng tiếp vào thùng nước lã để ram nguội.

Mẩu phôi xám xịt, phủ một lớp vảy than đen thui. Hoài An vội vàng dùng giẻ lau sạch, kẹp chặt phôi lên mâm cặp ba chấu của chiếc máy tiện Tiệp Khắc 1A62 cũ kỹ.

Cạch! Cần gạt đóng điện hạ xuống.

Động cơ điện ba pha gầm lên một tiếng ậm ừ rồi bắt đầu quay tít. Chiếc máy tiện già nua rung lắc bần bật trên nền xi măng nứt toác. Trục chính của máy sau ba mươi năm phục vụ đã có độ rơ nhất định, mỗi vòng quay lại phát ra tiếng rọc rọc lục cục như có viên bi sắt bị vỡ bên trong hộp số.

Hoài An hít một hơi sâu, vặn tay quay đưa bàn trượt tiến dao vào sát bề mặt phôi thép. Mũi dao tiện bằng thép gió P18 sắc lẹm từ từ tiếp cận kim loại.

Xoẹt… xoẹt… xoẹt…

Từng dải mạt sắt xoăn tít màu xanh thẫm văng ra, bắn tung tóe vào tấm chắn mica ố vàng. Khói dầu làm mát bốc lên là là. Hoài An nắn nót từng ly, từng lai, hai mắt không rời khỏi vạch chia độ trên vành du xích của bàn trượt. Anh muốn tiện thử mặt ngoài để đưa đường kính về đúng kích thước danh định bốn mươi tám milimet, trước khi khoan khoét lỗ trụ bên trong.

Nhưng vừa tiện được một nửa chiều dài phôi, lưỡi dao bỗng nảy lên một nhịp bất thường.

Keng!

Một âm thanh đanh gọn vang lên khiến tim Hoài An thót lại. Anh lập tức gạt cần dừng máy. Bánh đà giảm tốc từ từ rồi đứng khựng.

Hoài An run rẩy với lấy chiếc thước pan-me vặn ốc đo ngoài, lau sạch đầu đo rồi kẹp vào thân bạc lót vừa tiện. Ngón tay anh xoay nhẹ núm cóc trượt: tạch, tạch, tạch.

Con số hiện ra trên vạch khắc khiến mặt anh biến sắc.

Đầu này của phôi thép là bốn mươi tám phẩy hai milimet, nhưng đầu kia lại hụt xuống bốn mươi bảy phẩy bảy milimet. Độ côn và độ cong vênh lên tới năm zem – tức nửa milimet! Trong ngành cơ khí đường sắt, dung sai cho phép của cụm bạc lót trục truyền động chỉ được dao động trong vòng một phần mười zem, tức một phần trăm milimet (0,01mm). Sai lệch gấp năm mươi lần tiêu chuẩn!

Chưa dừng lại ở đó, khi Hoài An cầm kính lúp soi kỹ bề mặt kim loại dưới ánh đèn bàn chụp sắt, mắt anh trừng trừng kinh hãi. Trên thân phôi thép xám tro, những đường nứt tế vi li ti như chân chim chạy chằng chịt dọc theo thớ thép.

“Nứt do sốc nhiệt…” Hoài An buông thõng cánh tay, chiếc kính lúp rơi cộp xuống mặt bàn gỗ.

Nhiệt độ ngoài trời quá rét, thùng dầu tôi lại không được sấy nóng trước, mẩu phôi thép bị lạnh đột ngột từ ngoài vào trong, ứng suất nhiệt xé toạc các liên kết tinh thể bên trong kim loại. Một mẩu phôi thép quý giá đã trở thành một cục sắt phế liệu không hơn không kém.

Phía ngoài đường ray, một hồi còi tàu hú dài xé toạc màn sương khuya. Tiếng còi rền rĩ, thê lương như tiếng thở dài của màn đêm Hà Nội, như nhát búa giáng thẳng vào sự tự tin vốn đã lung lay tận gốc rễ của Hoài An.

Anh nghiến răng tháo mẩu thép hỏng vứt mạnh vào xô sắt dưới gầm bàn. Tiếng kim loại va chạm vang lên chói tai, chua chát.

“Không được nản. Còn ba mẩu nữa. Nhất định phải được!”

Hoài An tự trấn an bằng một câu nói khan đặc trong miệng. Anh bước vội sang đống than, cời đống xỉ đen ra ngoài, xúc thêm than hoa đượm vào lò. Lần này, anh cẩn thận đặt thùng dầu tôi áp sát vào vách lò than để hơi ấm của than đá nâng nhiệt độ dầu lên khoảng năm mươi độ C trước khi nhúng.

Một tiếng trôi qua. Hai tiếng trôi qua.

Kim chiếc đồng hồ treo tường hiệu Poljot trên vách cót đã chỉ sang con số hai giờ sáng.

Mẩu phôi thứ hai được tôi ram thành công hơn, không còn nứt tế vi. Nhưng khi đưa lên máy tiện, chiếc bàn trượt rung bần bật khiến lưỡi dao tiện ăn không đều, tạo thành những gợn sóng lượn li ti trên mặt trục. Đến mẩu phôi thứ ba, Hoài An cố gắng ghì chặt bàn trượt bằng lực cổ tay, mồ hôi ướt đẫm trán, mắt hoa lên vì căng thẳng tột độ.

Áp lực thời gian dồn dập khiến bàn tay anh bắt đầu run rẩy. Tiếng đe dọa của tên Thắng sẹo lởn vởn trong đầu: “Mày không trả đủ năm vạn, tao dỡ nát xưởng này, còn con ranh tiệm may thì liệu hồn với anh Bách!” Hình ảnh Thục Quyên với cánh tay bầm tím cố sống cố chết ôm lấy chiếc máy may con bướm hiện lên cào xé tâm can anh.

Càng lo sợ, bàn tay thợ tiện bậc cao của anh càng mất đi sự điềm tĩnh thường nhật. Anh vội vã xoay tay vặn bước tiến dao quá đà một phần tư vòng.

Lưỡi dao ăn quá sâu vào lớp thép hợp kim đang quay ở tốc độ sáu trăm vòng một phút.

RẮC!

Một tiếng gãy giòn tan vang lên xé lòng.

Mũi dao tiện hợp kim cứng P18 mác thép gió Liên Xô – bảo bối quý giá nhất mà ông Tấn gìn giữ suốt từ thời còn làm ở Xưởng đầu máy Gia Lâm – vỡ vụn làm ba mảnh, văng cắm phập vào vách gỗ. Mẩu phôi thép thứ ba trên mâm cặp bị tiện khuyết một mảng lớn sâu hoắm, méo mó dị dạng.

Chiếc máy tiện rít lên một tiếng nghẹn ngào rồi khựng lại do kẹt phôi.

Hoài An đứng chết trân. Hai bàn tay anh buông thõng giữa không trung, run lên bần bật không sao kiểm soát nổi. Máu từ kẽ móng tay – nơi bị mảnh phoi sắt sắc như dao cạo bắn vào ban nãy – bắt đầu rỉ ra, nhỏ từng giọt thẫm màu xuống đống phoi tiện dưới chân.

Chỉ còn lại duy nhất một mẩu phôi thép. Một mẩu duy nhất!

Và mũi dao tiện tốt nhất của xưởng đã gãy nát.

Sự bất lực, nỗi uất nghẹn và nỗi sợ hãi tột cùng bóp nghẹt lồng ngực Hoài An. Anh sụp xuống chiếc ghế đẩu chân tiện bằng gỗ tạp cạnh bệ máy, hai tay ôm chặt lấy đầu, những ngón tay dính đầy dầu mỡ luồn sâu vào mái tóc rối bù xơ xác.

Tại sao lại nghiệt ngã đến thế này? Chẳng lẽ một người thợ muốn sống bằng đôi bàn tay chân chính, muốn giữ trọn chữ tín và đạo đức nghề nghiệp thời mở cửa lại khó khăn đến mức không có đất dung thân sao? Chẳng lẽ anh đành phải trơ mắt nhìn gia đình rơi vào cảnh tan nát, nhìn người con gái mình yêu thương nhất đời bị vấy bẩn bởi những đồng tiền tanh tưởi của phường buôn lậu?

Tiếng gió đông rít qua khe liếp như tiếng cười nhạo báng cay độc của số phận. Hoài An cắn chặt môi đến bật máu, nước mắt ứa ra nơi khóe mi, hòa cùng mồ hôi và bồ hóng đen đúa trên gò má.

Kẹt…

Một tiếng động khẽ khàng vang lên phía cửa ngách thông sang con ngõ nhỏ Khâm Thiên.

Cánh cửa gỗ mộc khẽ hé mở. Một luồng gió lạnh ùa vào mang theo mùi thơm dịu nhẹ, thanh khiết của hoa cúc tươi quyện lẫn vị gừng ấm nồng.

Hoài An giật mình ngẩng lên, vội vã lấy mu bàn tay quệt vội khóe mắt, toan giấu đi sự yếu đuối của mình. Nhưng người vừa bước vào không ai khác chính là Thục Quyên.

Cô mặc chiếc áo len cổ lọ màu hạt dẻ đã sờn chỉ ở cổ tay, bên ngoài khoác chiếc áo bông trần chéo giản dị. Mái tóc đen dài thường ngày được tết gọn gàng, nay buông xõa mềm mại sau lưng, vương vài hạt sương đêm lấp lánh như bụi bạc. Trên tay cô là một chiếc âu sành men da lươn bốc khói nghi ngút và một chiếc cốc hoa hồng bằng thủy tinh đựng nước gừng nóng.

“Quyên… Sao giờ này cô mình chưa ngủ?” Hoài An cất giọng khàn đục, cố giấu hai bàn tay đầy máu và dầu mỡ ra sau lưng. “Đêm hôm rét mướt thế này, sương xuống độc lắm…”

Thục Quyên không đáp ngay. Đôi mắt bồ câu của cô khẽ lướt qua xô sắt chứa đầy những mẩu phôi hỏng dưới gầm bàn, nhìn thấy mảnh dao tiện gãy gục cắm trên vách cót, rồi dừng lại trên dáng hình tiều tụy, đôi vai đang khẽ run rẩy của Hoài An. Ánh mắt cô đượm buồn nhưng trong veo và kiên định đến lạ lùng.

Cô đặt âu sành và cốc nước gừng lên chiếc hòm đồ nghề sạch sẽ nhất bên cạnh, rồi khẽ khàng bước lại gần anh.

“Anh An…”

Quyên quỳ một chân xuống thềm xưởng lạnh ngắt, không hề ngần ngại bùn đất hay mạt sắt vương vãi. Bàn tay nhỏ nhắn, mềm mại của cô nhẹ nhàng tìm kiếm, kéo bàn tay đang giấu sau lưng của anh ra phía trước. Khi nhìn thấy kẽ ngón tay anh rướm máu và lớp băng cũ ở mu bàn tay đã ướt đẫm mồ hôi lẫn dầu đen, khóe mắt Quyên đỏ hoe.

Cô không thốt lên lời than thở nào. Quyên rút từ trong túi áo ra một chiếc khăn mùi xoa thêu hoa cúc trắng – chiếc khăn cô luôn giữ gìn cẩn thận nhất. Cô nhẹ nhàng chấm lên vết thương của anh, lau đi những giọt máu tươi và vệt mạt sắt bám dính.

“Đau lắm phải không anh?” Giọng cô dịu dàng như làn nước mát tưới vào tâm can đang rực lửa của Hoài An.“Tôi… tôi không sao. Vết xước vặt của dân thợ nguội ấy mà…” Hoài An gượng gạo cười, nhưng sống mũi cay xè. “Chỉ là… tôi vụng quá. Làm gãy mất mũi dao của thầy, phôi thép thì hỏng mất ba mẩu rồi. Chỉ còn một mẩu cuối cùng… Quyên ơi, tôi sợ…”

Lần đầu tiên trong đời, người thợ tiện trẻ tuổi vốn luôn can trường, sẵn sàng cầm đòn sắt đối đầu với đám lưu manh để bảo vệ xóm ga, lại thốt ra chữ “sợ” trước mặt người con gái mình yêu. Nỗi sợ hãi của một bờ vai sợ mình không đủ rộng để che chắn giông bão cho người khác.

Thục Quyên ngước nhìn thẳng vào mắt anh. Đôi bàn tay thanh mảnh của người thợ may khẽ siết chặt lấy những ngón tay chai sần, thô ráp của Hoài An, kéo bàn tay lạnh ngắt của anh áp lên gò má ấm áp của mình. Hơi ấm từ da thịt cô truyền sang anh, dịu ngọt và bình yên đến nghẹn ngào.

“Em không sợ, thì cớ gì anh lại sợ?” Quyên khẽ mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng cả góc xưởng tăm tối. “Anh nhìn xem, đây là bàn tay của ai? Đây là bàn tay đã sửa từng chiếc xe đẩy cho bé Toàn, bàn tay đã hàn lại chân đế gang cho chiếc máy may của mẹ em, bàn tay đã thức trắng bao đêm để xóm ga này luôn có những chuyến tàu lăn bánh an toàn. Anh là Hoài An – người thợ tiện giỏi nhất của phố Khâm Thiên này cơ mà!”

Cô với lấy cốc nước gừng, đưa tận tay anh:

“Uống đi anh cho ấm bụng. Em nấu cháo hoa lá cúc đấy, ăn một chút lấy lại sức. Bác Doãn bên Gia Lâm đã tin anh, em tin anh, và cả xóm này đều tin anh. Dù chỉ còn một mẩu phôi thép, em tin anh nhất định sẽ làm được.”

Lời nói của Quyên không đao to búa lớn, nhưng từng câu từng chữ như một dòng suối ấm lành len lỏi vào từng mạch máu đang đông cứng của Hoài An. Hơi ấm của cốc nước gừng cay nồng, mùi hương quen thuộc từ mái tóc cô khiến tâm trí anh bỗng chốc lắng lại. Mọi nỗi hoảng loạn, bồn chồn, nôn nóng dường như tan biến sau làn hơi nước mỏng manh.

Phải rồi. Anh nôn nóng cái gì chứ? Sắt thép là thứ vô tri nhưng lại có tính nết của nó. Càng dùng sự giận dữ và áp lực để đè nén, nó càng chống cự dữ dội. Người thợ cơ khí chân chính không dùng bạo lực với kim loại, mà dùng sự thấu hiểu và chuẩn xác.

“Anh hiểu rồi…” Hoài An hít một hơi thật sâu, ánh mắt sáng dần lên. “Cảm ơn cô mình.”

“Nói hay lắm!”

Một giọng nói trầm đục, nghiêm nghị bỗng cất lên từ phía cửa nách dẫn vào nhà trong.

Chiếc liếp cửa khẽ lay động, bóng dáng cao gầy, hơi còng của ông Đặng Văn Tấn bước ra từ bóng tối. Ông mặc bộ đồ công nhân màu xanh công nhân đường sắt đã bạc phếch, chiếc chân bị thương thời chiến tranh bước đi hơi tập tễnh trên nền xưởng. Trên tay ông không cầm tấc sắt nào, chỉ có một chiếc búa nhỏ dùng để gõ xỉ hàn và một bao thuốc lá Du Lịch đã bẹp dúm.

“Thầy…” Hoài An giật mình đứng phắt dậy, mặt tái đi vì ngượng ngùng và áy náy. “Con… con làm gãy mất mũi dao thép gió P18 của thầy rồi ạ…”

Thục Quyên cũng vội đứng dậy, khẽ cúi đầu chào: “Cháu chào bác Tấn ạ.”

Ông Tấn đưa mắt nhìn âu cháo hoa trên bàn, rồi nhìn sang chiếc khăn tay lấm lem dầu mỡ trong tay Quyên. Ánh mắt nghiêm nghị của người thợ cả già khẽ chùng xuống, thoáng qua một nét ấm áp bao dung. Ông gật đầu với Quyên:

“Con bé chu đáo quá. Đêm hôm thế này còn vất vả sang đây.”

Đoạn, ông quay sang Hoài An, bước lại gần chiếc máy tiện cũ. Ông không hề nhìn vào mảnh dao gãy hay xô sắt vụn, mà đưa bàn tay đầy những vết sẹo bỏng lửa đặt lên thân máy tiện Tiệp Khắc, vỗ nhẹ hai cái như vỗ về một người bạn già tri kỷ.

“Mũi dao gãy thì mài lại. Thép gió mác P18 của Liên Xô tốt ở cái lõi, vỡ mũi này thì dùng đá mài mài góc thoát khác, việc gì phải cuống lên như gà mắc tóc thế hả con?”

Hoài An cúi gầm mặt: “Con nôn nóng quá… Con sợ không kịp hạn kiểm định, lại sợ bọn thằng Bách…”

“Bậy nào!” Ông Tấn gắt khẽ, thanh âm đanh thép như tiếng đe gõ vào búa. “Tao dạy mày từ năm mười lăm tuổi thế nào? Bước vào xưởng tiện, đứng trước mâm cặp, thì trời có sập xuống đầu cũng phải gác lại ngoài cánh cửa sắt kia! Tâm có tĩnh thì tay mới vững, mắt mới tinh. Mày mang cả món nợ tiền bạc, mang cả nỗi sợ hãi của thằng Quốc Bách vào trong từng bước tiến dao, thì sắt thép nào nó chịu nghe lời mày?”

Ông Tấn rút một điếu thuốc lá, châm lửa từ ngọn đèn dầu. Đốm lửa đỏ lập lòe soi rõ những nếp nhăn khắc khổ và vết sẹo dài bên thái dương của người cựu binh hỏa xa.

“Con nhìn thấy mẩu phôi thứ nhất bị nứt, mẩu thứ hai bị sóng, mẩu thứ ba bị vênh… Con có biết tại sao không?”

“Dạ… do nhiệt độ lò nung không đều, và máy tiện của mình bị rơ trục bàn trượt ạ.”

“Đấy chỉ là cái cớ của kẻ thợ non tay!” Ông Tấn lắc đầu, ngón tay trỏ gõ nhẹ lên chiếc cần gạt tốc độ. “Máy móc thời bao cấp để lại, cái nào chẳng rơ, chẳng rão? Nhưng đời thợ già bọn tao ngày xưa, dùng chiếc máy tiện gãy cả bánh răng thời Pháp thuộc mà vẫn tiện ra nòng súng cối, tiện ra trục bánh xe lửa chạy thông suốt đường ray chi viện cho miền Nam. Bí quyết nó không nằm ở cái máy mới hay cũ, mà nằm ở cái tai và cái đầu ngón tay của người thợ!”

Hoài An ngẩng phắt lên, chăm chú lắng nghe từng lời của cha.

Ông Tấn bước lại gần chiếc máy tiện, với tay bật công tắc. Động cơ lại ậm ừ quay, trục chính xoay tít mang theo tiếng rung lắc quen thuộc.

“Lại đây.” Ông Tấn ngoắc tay bảo con trai bước sát vào. “Đặt ngón tay trỏ của mày lên thân bàn trượt dọc. Nhắm mắt lại!”

Hoài An làm theo lời cha. Anh nhắm nghiền hai mắt, đặt đầu ngón tay chai sạn lên thanh trượt kim loại lạnh ngắt.

“Thấy gì không?” Ông Tấn hỏi.

“Con thấy… máy rung giật từng nhịp khoảng nửa giây một lần ạ.”

“Đúng! Đó là nhịp lắc của bánh răng số bốn bị mòn một góc. Khi mày vặn dao ăn phôi, mày phải lựa theo cái nhịp lắc ấy. Nhát dao tiến vào phải rơi vào đúng khoảng lặng giữa hai nhịp rung! Và quan trọng nhất: nghe!”

Ông Tấn cầm một chiếc giũa thép cũ, tỳ nhẹ đầu giũa vào thành mâm cặp đang quay.

“Nghe tiếng rít của kim loại. Khi mũi dao tiện ăn chuẩn một phần mười zem, tiếng sắt bị cắt sẽ phát ra âm thanh ‘xo ro… xo ro…’ êm ru như tiếng tằm ăn rỗi, mạt sắt b*n r* sẽ cuộn tròn như lò xo bút bi và có màu xanh tím cánh kiến. Còn nếu tiếng kêu rít lên chói tai như tiếng lợn bị chọc tiết ‘keng… két…’, mạt sắt vụn nát như cám dính màu đen xỉn, tức là dao đang bị vỗ mặt, bước tiến quá dày, hoặc góc cắt bị tù!”

Lời chỉ dẫn mộc mạc mà chuẩn xác đến từng chi tiết của người thợ cả bậc sáu như một luồng ánh sáng xé toạc màn sương mù trong đầu Hoài An. Bao nhiêu năm học nghề, anh nắm vững lý thuyết, thông thạo sách vở Liên Xô, nhưng cái “hồn” của nghề thợ tiện – sự giao cảm giữa da thịt con người và nhịp thở của sắt thép – thì đêm nay, qua ngọn lửa than và sự truyền dạy của cha, anh mới thực sự thấu suốt.

Hoài An mở bừng mắt. Trong mắt anh không còn một tia do dự hay sợ hãi nào nữa. Chỉ còn lại ngọn lửa đam mê và sự tự tin kiên định của một người thợ chân chính.

“Thầy để con mài lại mũi dao.”

Hoài An bước sang bàn đá mài. Anh nhặt mảnh thép gió P18 bị gãy, cẩn thận đưa vào đĩa đá mài ráp. Những tia lửa hoa cải bung nở rực rỡ trong đêm tối, soi sáng góc xưởng nghèo. Anh tỉ mỉ mài góc trước mười hai độ, góc sau tám độ, rồi cẩn thận vê một góc lượn bán kính không phẩy hai milimet ở đỉnh dao để triệt tiêu ứng suất tập trung.

Xong xuôi, anh quay lại lò than. Mẩu phôi thép hợp kim cuối cùng được đưa vào lòng lửa.

Lần này, không còn sự vội vã. Quyên lặng lẽ đứng bên cạnh phụ anh kéo bễ than, nhịp nhàng, đều đặn theo từng nhịp thở của anh. Ánh than hồng phản chiếu lên khuôn mặt thanh tú của người con gái và bờ vai vững chãi của chàng trai, tạo nên một bức tranh lao động ấm áp kỳ lạ giữa mùa đông buốt giá.

Khi mẩu thép ánh lên sắc đỏ tươi hoàn hảo, Hoài An gắp ra, nhúng vào thùng dầu đã được sưởi ấm vừa đủ năm mươi độ C. Lần này, tiếng rít êm ru. Không có khói đen khét lẹt, chỉ có một làn khói trắng mỏng tang bốc lên. Phôi thép được ram nguội từ từ, bề mặt mịn màng, không một vết rạn nứt nhỏ nhất!

Hoài An kẹp phôi lên mâm cặp. Anh hít một hơi sâu, đưa mắt nhìn Thục Quyên. Cô khẽ gật đầu, nở nụ cười khích lệ đầy tin tưởng. Bên cạnh, ông Tấn đứng khoanh tay, ánh mắt nghiêm nghị dõi theo từng cử động nhỏ của con trai.

Cạch!

Máy tiện khởi động. Hoài An đặt ngón tay lên bàn trượt, cảm nhận nhịp rung của bánh răng mòn. Đợi đúng khoảng lặng của nhịp rung, bàn tay anh xoay nhẹ du xích.

Xo ro… xo ro… xo ro…

Âm thanh kim loại cọ xát vang lên êm ái đến kỳ diệu!

Từng dải mạt thép Mangan-Crom xanh tím óng ánh, xoăn tít như những lọn tóc mây mềm mại từ từ tuôn ra từ mũi dao tiện, rơi lả tả xuống khay hứng. Không rung giật, không khói khét, không tiếng rít chói tai. Mũi dao lướt trên bề mặt thép hợp kim ngọt ngào như lưỡi kéo sắc lẹm của Thục Quyên cắt qua dải lụa Hà Đông.

Hoài An tiện mặt ngoài, rồi đổi dao tiện móc lỗ trong. Từng milimet, từng zem kim loại được gọt giũa với độ tập trung cao độ của cả thể xác lẫn tâm hồn. Anh không còn nghĩ đến món nợ năm vạn bạc, không còn nghĩ đến sự đe dọa của Quốc Bách, trong thế giới của anh lúc này chỉ còn lại tiếng còi tàu đêm xa xa hòa cùng tiếng “xo ro” êm đềm của lưỡi dao và nhịp đập rộn rã của trái tim người thợ.

Sau gần hai tiếng đồng hồ nắn nót, Hoài An gạt cần dừng máy.

Xưởng tiện chìm vào tĩnh lặng. Chỉ còn lại tiếng thở khe khẽ của ba con người.

Hoài An cẩn thận nhấc chiếc thước pan-me đo ngoài và bộ pan-me đo trong chuyên dụng ra khỏi hộp gỗ lót nhung. Anh cẩn thận đo từng điểm trên thân chi tiết bạc lót. Đầu trên: bốn mươi tám phẩy không không milimet. Đầu dưới: bốn mươi tám phẩy không không milimet. Đo tiếp đường kính lỗ trong bằng đầu đo ba chấu của pan-me đo trong kết hợp calip nút kiểm định: ba mươi hai phẩy không một milimet.

Độ nhẵn bóng bề mặt đạt cấp tám – sáng loáng như gương soi, có thể nhìn thấy rõ từng sợi lông tơ phản chiếu trên mặt kim loại! Sai số tổng thể: đúng một phần mười zem, tức một phần trăm milimet (0,01mm), hoàn toàn trùng khớp với tiêu chuẩn khắt khe nhất của Tổng cục Đường sắt dành cho đầu máy xe lửa Thống Nhất!

“Thầy ơi… Đo chuẩn rồi thầy ơi!” Hoài An nghẹn ngào thốt lên, hai mắt nhòe đi vì sung sướng.

Ông Tấn bước lại, cầm chiếc pan-me đo lại một lần nữa. Đôi bàn tay gầy guộc, chai sạn của người thợ già khẽ run lên. Ông ngước nhìn con trai, khóe mắt già nua lấp lánh giọt lệ hiếm hoi:

“Tốt lắm… Tay nghề của mày hôm nay… đã vượt qua tao rồi, con ạ!”

Thục Quyên đứng bên cạnh, hai tay ôm chặt lấy ngực, nước mắt hạnh phúc lăn dài trên đôi má ửng hồng vì hơi ấm của lò than. Cô bước lại gần Hoài An, không giấu giếm được sự xúc động, khẽ nắm lấy cánh tay áo đẫm mồ hôi của anh.

Chi tiết bạc lót mẫu duy nhất – kết tinh từ mồ hôi, nước mắt, máu và tình yêu thương của xóm thợ đường tàu – được Hoài An cẩn thận dùng kìm nhấc lên, đưa vào bể dầu tôi lần cuối để định hình mạng tinh thể bề mặt và tạo lớp màng chống gỉ.

Kim loại chìm vào làn dầu sóng sánh, bóng bẩy và hoàn hảo không một tì vết dưới ánh đèn vàng vọt. Niềm hy vọng về một tương lai tươi sáng, về sự hồi sinh của xưởng Đặng gia và tiệm may nhỏ bỗng bừng sáng rực rỡ trong lòng ba con người nghèo khổ giữa đêm đông Hà Nội.

Nhưng đúng vào khoảnh khắc Hoài An vừa nhấc chiếc bạc lót mẫu duy nhất ấy ra khỏi thùng dầu, nụ cười trên môi anh còn chưa kịp nở trọn vẹn…

ROẸT! TÁCH!

Một tiếng nổ chát chúa cùng luồng tia lửa điện lách tách bất ngờ b*n r* từ phía buồng động cơ của chiếc máy tiện Tiệp Khắc duy nhất trong xưởng. Mùi khét lẹt của nhựa thông và lớp men cách điện dây đồng cháy xộc lên nồng nặc. Những tia lửa điện màu xanh lét phụt qua khe tản nhiệt, kèm theo một cột khói đen đặc cuồn cuộn bốc lên mái tôn, khiến trục máy quay giật cục một cái rồi đứng khựng hoàn toàn giữa tiếng còi tàu đêm vừa rền rĩ hú vang ngoài sân ga Hàng Cỏ.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn