Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 6: Mảnh thép và đường chỉ

Gió bấc rít từng cơn qua những khe ván ép trên căn gác xép ngõ Khâm Thiên, mang theo cái rét căm căm đặc trưng của Hà Nội những ngày cuối năm 1988. Trời còn chưa rạng tỏ, màn sương mù đặc quánh như sữa phả ra từ phía sông Hồng đã trùm kín những mái ngói rêu phong xô lệch và dải đường ray thép lạnh ngắt của xóm ga Hàng Cỏ.

Thục Quyên tỉnh giấc khi ngọn đèn dầu hỏa bên bàn may vừa cạn bấc, lụi dần thành một chấm đỏ leo lét rồi tắt ngấm. Toàn thân cô ê ẩm, mu bàn tay và cẳng tay còn nhức nhối sau trận xô xát chiều qua với đám tay sai đòi nợ của Quốc Bách. Nhưng kỳ lạ thay, trong lồng ngực cô, nơi buồng tim bé nhỏ từng bị bóp nghẹt bởi nỗi tuyệt vọng và tủi hổ, giờ đây lại ấm sực lên một ngọn lửa dịu dàng khôn tả.

Ngón tay út của bàn tay phải dường như vẫn còn lưu lại hơi ấm thô ráp, nồng nặc mùi dầu luyn và mạt sắt từ bàn tay quấn băng của Hoài An. Lời thề dưới ánh đèn hàn đêm qua, tiếng còi tàu xé toạc màn sương giá, và ánh mắt cương trực sáng rực như than hồng của anh vẫn đang dội vào tâm trí cô từng hồi mãnh liệt.

Dưới tầng trệt, tiếng cọt kẹt của khung cửa sắt kéo Quyên về thực tại.

Cô vội vã quấn chiếc khăn len sợi màu xanh công nhân đã sờn mép quanh cổ, bước nhẹ xuống cầu thang gỗ ọp ẹp để không đánh thức hai đứa em nhỏ đang cuộn tròn trong manh chiếu đơn rách gấu. Bên ngoài ngõ, Hoài An đã dắt chiếc xe đạp Phượng Hoàng cánh chả cà tàng ra thềm. Chiếc xe cũ kỹ tróc sơn lốm đốm, xích líp khô dầu kêu lách cách theo từng nhịp dắt. Trên chiếc giá đèo hàng buộc túm một chiếc túi vải dù bạc phếch đựng mấy mẩu sắt vụn cùng cuốn sổ tay kỹ thuật bìa da sờn góc của ông Tấn.

“Anh An!” Quyên khẽ gọi, giọng run run vì gió sớm phả vào cuống họng.

Hoài An dừng tay dắt xe, quay ngoắt lại. Dưới ánh sáng lờ nhờ của buổi sớm đông, bóng dáng anh dong dỏng cao, bờ vai rộng vững chãi như một chỗ dựa ngàn cân giữa cuộc đời đầy giông bão của ba chị em cô. Ánh mắt anh chạm vào cô, lập tức mềm lại, phủ đầy vẻ âu yếm vụng về nhưng chân thành mộc mạc:

“Quyên? Sao cô mình dậy sớm thế? Tay còn đau không, sao không nằm thêm một lát cho ấm?”

“Tôi đỡ nhiều rồi.” Quyên bước nhanh lại gần, đôi bàn tay thon gầy vội vã giúi vào túi áo khoác bông bộ đội bạc màu của anh một bọc giấy báo còn nóng hổi. “Anh cầm lấy. Củ khoai lang u nướng vùi tro từ tối qua, tôi ủ trong thúng trấu nãy giờ vẫn còn bốc khói. Đi đường xa qua cầu Long Biên gió lộng buốt óc lắm, anh nhớ gặm cho ấm bụng.”

Hoài An ngập ngừng, định từ chối theo thói quen của một người đàn ông không muốn để người thương phải bận lòng tốn kém, nhưng khi nhìn thấy đôi mắt bồ câu trong veo đượm vẻ lo âu tha thiết của Quyên, bàn tay quấn băng trắng của anh chầm chậm nhận lấy bọc khoai. Hơi ấm nồng đượm từ củ khoai nướng lan tỏa qua lớp giấy báo, thấm vào da thịt buốt cóng.

“Tôi sang Xưởng đầu máy Gia Lâm một chuyến,” Hoài An hạ thấp giọng, ánh mắt trở nên đanh lại khi nhớ tới bức điện khẩn của Tổng cục Đường sắt đêm qua. “Bác Cả Thiện nói đúng, cái máy tiện Tiệp Khắc của xưởng nhà tôi đã rơ trục từ lâu, gọt ra được dung sai một phần mười milimet đã là trầy vi tróc vảy, nói chi đến một phần trăm milimet theo chuẩn quang học mới. Tôi phải sang bên kia sông tìm gặp bác thợ cả Doãn và các kỹ sư già từng tu nghiệp ở Liên Xô về. Chỉ có họ mới nắm được bí quyết tôi ram thép chịu mài mòn và cách triệt tiêu độ rung lắc của bàn xe dao. Chỉ cần có công thức luyện kim chuẩn, tôi tin mình sẽ tìm ra cách chế tác chiếc bạc lót đạt chuẩn.”

Quyên nhìn sâu vào mắt anh. Cô hiểu người con trai này. Ẩn sau vẻ ngoài trầm lặng, ít nói là một ngọn lửa tự trọng nghề nghiệp ngùn ngụt cháy. Anh không chỉ đang chiến đấu để gánh vác món nợ năm vạn đồng trong bảy ngày cho gia đình cô, mà còn đang chiến đấu vì danh dự của những người thợ cơ khí chân chính xóm ga, trước sự bóp nghẹt tàn nhẫn của những toan tính làm ăn chộp giật thời mở cửa.

“Anh cứ yên tâm đi,” Quyên gật đầu thật mạnh, nén lại sự bồn chồn trong dạ. “Việc ở xóm ga cứ để tôi lo. Hôm nay tàu Thống Nhất về chuyến sớm chở nhiều hàng Tết, tôi sẽ ra phụ u mở quán chè rồi tìm xem có ai cần sửa quần áo hay may gia công không. Bằng mọi giá, chúng ta sẽ gom góp dần từng đồng.”

Hoài An nhìn cô thật lâu. Giữa cái lạnh cắt da cắt thịt, nụ cười hiền hậu của anh như một tia nắng đầu ngày xua tan đi sự ảm đạm. Anh đưa bàn tay lành lặn khẽ kéo lại mép khăn len cho cô, thì thầm:

“Đợi tôi về.”

Nói rồi, anh nhấn mạnh bàn đạp. Chiếc xe Phượng Hoàng lao đi vun vút, cuốn theo làn gió lạnh, rẽ qua đường ray thép mờ ảo trong sương, hướng về phía cầu Long Biên sừng sững bắc qua dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa.

*

Khi đồng hồ trên nóc ga Hàng Cỏ điểm sáu giờ ba mươi phút sáng, một hồi còi dài đanh thép vang dội xé toạc màn sương giá. Đoàn tàu Thống Nhất Bắc - Nam mang số hiệu Đ13 sau hành trình ròng rã bốn ngày ba đêm vượt hàng ngàn cây số từ Sài Gòn đã rầm rập tiến vào sân ga số một.

Đầu máy hơi nước gầm rú, nhả ra những cuộn khói xám xịt thơm nồng mùi than đá, hơi nước xì xì phì ra từ hai bên thành pít-tông làm mù mịt cả một khoảng sân ga. Cánh cửa các toa tàu bật mở, lập tức biến sân ga thành một biển người huyên náo, chuyển động không ngừng.

Hà Nội năm 1988, thời kỳ Đổi Mới vừa bén rễ, những chuyến tàu Thống Nhất không chỉ chở người hồi hương mà còn là huyết mạch lưu thông hàng hóa khổng lồ của cả nước. Dân buôn chuyến mang theo đủ thứ hàng hóa từ phương Nam tràn ra: quạt con cóc, đài cát-sét hai cửa băng, đường kính trắng, vải vóc, lụa là… Sự va đập giữa cái ngột ngạt, thiếu thốn của thời bao cấp cũ với sự sôi động, bộc phát của nền kinh tế thị trường manh nha hiện rõ mồn một trên từng khuôn mặt hốc hác, từng kiện hàng chằng buộc lỉnh kỉnh bằng dây cao su cắt từ săm lốp ô tô.

Quyên vừa bưng khay nước vối nóng sang phụ bà Mùi dọn mấy chiếc ghế đẩu ven đường tàu thì phía thềm ga bỗng vang lên tiếng la ó thất thanh:

“Ối trời đất ơi! Đứt rồi! Coi chừng, né giùm tui với bà con ơi!”

Rắc! Xoẹt!

Một chiếc vali đan bằng nan tre bọc vải dù to kềnh càng bị đứt phựt chiếc quai xách do va quệt vào mép cửa toa tàu đông nghẹt. Người đàn bà kéo chiếc vali trượt chân trên thềm đá trơn trượt vì sương sớm, cả thân hình đẫy đà ngã nhào ra phía trước. Chiếc vali bung nắp, lăn lóc trên nền gạch bám đầy bụi than đá và dầu mỡ nhớt nhát sát mép đường ray.

Bên trong vali, những xấp vải lụa cuộn chặt bắt đầu bung ra, chực rơi thẳng xuống rãnh thoát nước đen ngòm cạnh bệ ghi sắt!

“Cứu mấy cây lụa của tui!” Người đàn bà thảng thốt kêu lên bằng một chất giọng Nam Bộ hào sảng nhưng giờ đây nghẹn lại vì hoảng hốt.

Không một giây chần chừ, Thục Quyên đặt phắt chiếc khay nhôm trên tay xuống chiếc bàn gỗ của quán chè, thân hình mảnh mai thoăn thoắt lao vút qua thanh chắn an toàn. Bằng phản xạ nhanh nhạy của một người lớn lên bên cạnh những đoàn tàu đang chạy, cô trượt một bước dài, đầu gối dập xuống nền đá buốt nhói, nhưng hai cánh tay đã kịp thời vươn ra, ôm trọn lấy ba cuộn lụa lớn ngay trước khi chúng chạm vào vũng nước dầu bẩn thỉu.

Bụi than bay mù mịt bám vào gấu quần vải đen của Quyên, cẳng tay cô quẹt qua mép sắc của tà vẹt gỗ buốt rát, nhưng những xấp lụa nằm gọn trong lòng cô vẫn sạch tinh tươm, không dính một hạt bụi.

“Cô em… Cô em không sao chứ?”

Người phụ nữ vội vã lồm cồm bò dậy, gương mặt tròn trịa, phốp pháp đầm đìa mồ hôi dù trời đang rét căm căm. Chị trố mắt nhìn cô gái trẻ mảnh mai đang ôm khư khư những cuộn lụa cho mình, thở phào một hơi dài như vừa trút được tảng đá ngàn cân trong lồng ngực:

“Trời đất quỷ thần ơi! May quá chừng may! Chậm một tích tắc nữa là mấy cây tơ tằm An Giang của tui ngâm trong đống dầu máy của mấy ổng rồi! Cảm ơn cô em dữ nghen!”

Quyên đứng dậy, phủi vội bụi than trên đầu gối, mỉm cười dịu dàng trao lại những cuộn lụa cho người phụ nữ:

“Không có gì đâu chị. Ga đông người, chen chúc trơn trượt lắm. Chị có bị trật chân không?”

Lúc này, người phụ nữ mới định thần nhìn lại. Chiếc vali tre đã toạc một mảng lớn ở đáy, chốt kim loại bị giằng gãy đôi, nếu bây giờ xách lên thì hàng họ bên trong sẽ rơi lả tả xuống đường ray. Người phụ nữ đứng nhìn đống lụa ngổn ngang giữa sân ga đầy dẫy những ánh mắt tò mò của dân bốc vác và khách bộ hành, mặt mày lộ rõ vẻ bối rối, sốt ruột:

“Thiệt tình, xui xẻo ghê nơi! Mới bước chân xuống đất Bắc đã gặp nạn rách bọc thế này, giờ kiếm đâu ra bao tải hay dây rơm mà bó lại đem về phố đây trời?”

Quyên nhìn xuống chiếc vali rách, rồi nhìn vào đôi mắt đang lo ngay ngáy của người phụ nữ phương Nam. Một linh tính nghề nghiệp bừng sáng trong đầu cô.

“Chị đừng lo,” Quyên cất giọng điềm tĩnh, ấm áp. “Nhà tôi ở ngay ngõ Khâm Thiên sát bên ga đây thôi. Nếu chị không chê, mời chị ghé quán nước của u Mùi uống chén nước vối gừng cho ấm người, để tôi mang kim chỉ và vải thô ra gia cố, mạng lại chiếc túi cho chị. Chỉ mười phút là chắc chắn, chị tha hồ xách đi không sợ đứt quai nữa.”

Người phụ nữ chớp chớp mắt, nhìn cô gái Hà Nội có đôi mắt bồ câu trong sáng và nụ cười đôn hậu, nỗi e dè của dân buôn đường dài lập tức tan biến. Chị xua tay cười xởi lởi:

“Vậy thì quý hóa quá! Tui tên Bé Hai, dân An Giang, chuyên đánh hàng tơ lụa từ trỏng ra ngoài này. Cô em thiệt là bồ tát sống cứu nguy cho tui chuyến này rồi!”

*

Bên quán nước chè chén của bà Mùi dưới bóng cây bàng cằn cỗi rụng trơ trụi lá, ấm nước vối gừng bốc khói nghi ngút. Chị Bé Hai ngồi xếp bằng trên chiếc ghế gỗ dài, vừa ủ hai bàn tay đẫy đà vào chén sành nóng để tìm hơi ấm, vừa tấm tắc nhìn đôi bàn tay thoăn thoắt của Thục Quyên.

Chiếc kim khâu bao tải bằng thép lớn được Quyên luồn sợi chỉ dù bện ba chắc nịch, xuyên qua từng thớ nan tre và mép vải bạt dày cộp. Từng đường khâu chữ X chéo nhau đều tăm tắp, phẳng phiu và dứt khoát. Chỉ chưa đầy một tuần trà, chiếc quai xách đã được đính chặt vào thân vali bằng lớp vải lót tăng cường, giật thử bần bật mà không hề xê dịch.

“Khéo quá chừng khéo!” Chị Bé Hai thốt lên, ánh mắt đầy kinh ngạc. “Cái tay này không phải tay thợ may vá vụng ngoài vỉa hè đâu nghen. Đường chỉ đâm thẳng thớm, gút nút kín mít, giấu mối tinh xảo ghê nơi! Cô em học nghề ở đâu mà giỏi quá vậy?”

Quyên thắt nút chỉ cuối cùng, dùng chiếc kéo bấm sắc lẹm cắt phựt một đường ngọt xớt, mỉm cười e ấp:

“Nhà tôi ba đời làm nghề cắt may áo dài ở ngõ Khâm Thiên này chị ạ. Mẹ tôi trước đây là thợ may có tiếng của phố, tôi theo nghề từ năm mười hai tuổi, cầm kim đạp máy quen rồi.”

“Thảo nào!” Chị Bé Hai gật gù, ánh mắt sắc sảo của một thương nhân lão luyện chợt lóe lên tia nhìn thích thú. Chị với tay mở chiếc vali vừa được khâu lại chắc chắn, lật lớp vải bạt bên trên, rút ra một xấp vải mềm rủ được bọc cẩn thận trong giấy bản mỏng. “Nè, cô em nhìn giùm tui coi tơ lụa tui mang từ phương Nam ra đợt này chất lượng ra sao?”

Khi lớp giấy bản hé mở, ánh mắt Thục Quyên bỗng chốc ngưng đọng.

Đó là một xấp lụa tơ tằm mang sắc tím hoa cà phảng phất ánh khói, bề mặt mịn màng không một gợn chỉ lỗi. Khác hẳn với thứ vải phi bóng cứng quắc, tích điện kêu tanh tách của hàng trôi nổi từ biên giới phía Bắc, tấm lụa này như có sự sống riêng.

Quyên rụt rè đưa những ngón tay gầy guộc, chai nhẹ nơi đầu ngón vì cầm kéo lướt trên mặt vải. Một cảm giác mát lạnh như sương sớm, nhưng ngay sau đó lại mềm mại, ấm áp lạ kỳ truyền thẳng vào da thịt cô. Tấm lụa rủ xuống lòng bàn tay cô như dòng nước mùa thu, uốn lượn theo từng cử động khẽ khàng nhất.

“Đây là… lụa Tân Châu dệt từ tơ tằm nguyên chất?” Giọng Quyên run lên vì xúc động. Đã bao nhiêu năm rồi, kể từ ngày mẹ mất và cảnh khó khăn bóp nghẹt mọi nguồn vải thượng hạng, cô mới lại được chạm tay vào một dải lụa tuyệt mỹ đến nhường này.

“Chính xác!” Chị Bé Hai đắc ý khoe, giọng sang sảng. “Lụa tơ tằm miệt vườn thứ thiệt đó cô em! Dệt thủ công bằng tơ tằm tự nhiên, nhuộm bằng kỹ thuật gia truyền miệt Tân Châu, mang ra tới Hà Nội này là tốn biết bao nhiêu công sức trèo đèo lội suối, né trạm kiểm soát trầy vi tróc vảy. Nhưng mà…”

Nói đến đây, nét mặt chị Bé Hai bỗng chùng xuống, buông tiếng thở dài thườn thượt:

“Nhưng mà dân ngoài này ngộ ghê nghen. Tui mang ra mấy chuyến trước, người ta nhìn thì mê đó, mà hổng dám mua nhiều. Họ chê lụa mềm quá, may áo kiểu thời bao cấp – cái kiểu áo cánh cổ cao sít sao, độn vai vuông vức, rộng thùng thình như bao tải – thì nó rủ xuống nhìn luộm thuộm, không đứng dáng. Mà phụ nữ Hà Nội bây giờ, nhất là mấy bà mấy cô làm việc ở các cơ quan hay buôn bán ngoài chợ Đồng Xuân, họ bắt đầu thích diện đồ tôn dáng rồi. Mấy thợ may ngoài phố lớn cứ quen tay cắt theo phom áo cũ thời chiến, cứng nhắc như đeo giáp sắt, làm uổng cả tấm lụa quý của tui!”

Lời than thở của chị Bé Hai như một tia sét rạch ngang bóng tối trong tâm trí Thục Quyên.

Đúng rồi! Thời đại đã đổi thay rồi!

Sau Đại hội VI, cánh cửa giao thương mở ra, luồng gió mới của thời đại đang thổi bùng lên khát vọng làm đẹp đã bị dồn nén suốt bao năm chiến tranh và tem phiếu. Người phụ nữ Hà thành vốn dĩ mang trong mình nét thanh lịch, cốt cách Tràng An tao nhã, họ không muốn mãi giấu mình trong những bộ quần áo bảo hộ công nhân xám xịt hay những chiếc áo sơ mi may gập thô kệch nữa. Họ muốn đẹp, muốn duyên dáng, nhưng vẫn phải giữ được vẻ kín đáo, đoan trang.

Tại sao cứ phải bắt tơ lụa mềm mại gò mình vào những khuôn mẫu áo dài cổ điển gắt gao, cứng ngắc của thời trước?

“Chị Bé Hai,” Quyên ngước mắt lên, đôi mắt bồ câu bừng sáng lên một niềm đam mê mãnh liệt, giọng nói run rẩy nhưng đầy kiên định. “Nếu chị tin tôi, chị có dám để tôi cắt thử một manh vải này không?”

Chị Bé Hai ngẩn người: “Cô em định làm gì?”

“Tôi sẽ không may theo lối cũ,” Quyên chỉ tay vào xấp lụa, những ý tưởng ấp ủ bấy lâu trong những đêm thức trắng bên ngọn đèn dầu bỗng vỡ òa thành hình hài rõ rệt. “Tôi sẽ hạ thấp cổ áo xuống, khoét thành dáng cổ thuyền thanh mảnh hoặc cổ lá sen mềm mại để khoe trọn chiếc cổ cao thanh tú của người phụ nữ. Thân áo sẽ không thả suông hay độn m*t cứng ngắc, mà tôi sẽ chiết eo bằng những đường đề-cúp uốn lượn tinh tế theo sống lưng, ôm sát đường cong tự nhiên mà không hề gây tức ngực. Tà áo sẽ thu hẹp lại một chút, bay bổng theo từng bước đi, để mỗi khi gió đông hay nắng xuân thổi qua, tà lụa phương Nam sẽ quấn quýt lấy dáng ngọc của người Tràng An!”

Chị Bé Hai sững sờ nhìn cô gái thợ may trẻ tuổi. Dưới ánh sáng ban mai đang dần rạng tỏ bên thềm ga Hàng Cỏ, khuôn mặt thanh tú của Quyên như bừng sáng lên một ngọn lửa thần kỳ. Đó là ngọn lửa của một người thợ thực thụ, một người không chỉ sống bằng nghề kiếm cơm, mà đang gửi gắm trọn vẹn tình yêu vào từng đường kim mũi chỉ.

Tính cách hào sảng, thích cái mới của người miền Tây trong chị Bé Hai trỗi dậy. Chị ngẫm nghĩ một thoáng rồi cười lớn:“Nghe cô em nói xuôi tai dữ nghen! Tui đi buôn chuyến, khoái nhất là người có gan tính chuyện mới. Thôi được, tui để cô em cắt thử một xấp này coi tài nghệ tới đâu. Nhưng nói trước nghen, tui là dân buôn sành sỏi, phom áo mà không ra dáng là tui bắt đền nguyên cây lụa đó!”

“Chị cứ yên tâm,” Quyên mỉm cười tự tin. “Mời chị lên gác xép nhà tôi.”

*

Căn gác xép nhỏ của gia đình Thục Quyên ngập tràn trong ánh sáng xám bạc của mùa đông.

Chiếc máy may con bướm Liên Xô đã được bàn tay Hoài An hàn gắn lại chân đế gang vững chắc đêm qua, đứng ngay ngắn ở góc phòng cạnh khung cửa sổ trông ra đường tàu. Tiếng bé Hiền đang dạy em Toàn đánh vần ê a ở gian chái dưới nhà vọng lên, hòa cùng tiếng gió rít nhè nhẹ qua khe liếp.

Quyên trải rộng xấp lụa màu hoa cà lên chiếc bàn cắt bằng gỗ thông nhẵn thín. Mùi hương ngai ngái của tơ tằm mới quyện lẫn mùi hoa cúc khô thoang thoảng tạo nên một bầu không khí thanh tịnh, ấm cúng.

Cô hít một hơi thật sâu, với tay lấy chiếc thước gỗ mộc và thỏi phấn may màu xanh lá cây đã mòn vẹt. Trước mắt cô, vóc dáng đẫy đà của chị Bé Hai là một bài toán hình học không hề đơn giản. Người đẫy đà thường rất ngại mặc áo dài lụa vì sợ lộ khuyết điểm vòng hai, nhưng Quyên đã nhìn ra cách hóa giải.

“Chị đứng thẳng lưng, thả lỏng vai giùm tôi,” Quyên khẽ bảo, vòng chiếc thước dây mềm qua vai, qua ngực, rồi luồn xuống vòng eo của chị Bé Hai.

Từng con số được Quyên ghi nhớ rành rẽ trong đầu: vai ba mươi tám, ngực chín mươi hai, hạ eo ba mươi sáu, dài áo một trăm hai mươi… Bàn tay cô lướt trên người khách nhẹ nhàng, chuẩn xác và đầy tôn trọng.

Khi chiếc thước dây buông xuống, Quyên cầm lấy thỏi phấn. Không một chút ngập ngừng, cánh tay cô đưa những nét vẽ thoăn thoắt trên nền lụa tím. Từng đường cong uốn lượn mềm mại hiện ra: đường lượn nách áo sâu hơn bình thường để người mặc thoải mái vận động; đường chiết ly thân sau kéo dài hơn để tạo cảm giác lưng thon gọn; và đặc biệt là đường khoét cổ thuyền võng xuống vừa đủ, phô diễn xương quai xanh quyến rũ mà không hề hở hang, giữ trọn nét e ấp truyền thống.

Rắc!

Quyên cầm lên chiếc kéo thép gia bảo cán bọc chỉ đỏ của mẹ để lại. Lưỡi kéo thép tôi thủ công sắc lẹm, bén ngót lướt đi trên mặt lụa.

Xoẹt… xoẹt… xoẹt…

Tiếng kéo cắt vải vang lên nhịp nhàng, êm ái như tiếng tằm ăn rỗi giữa đêm thanh vắng. Không một đường kéo nào run rẩy, không một mép vải nào bị tưa sợi. Từng mảnh thân trước, thân sau, tay áo raglan được tách rời ra khỏi xấp lụa một cách hoàn hảo, chuẩn xác đến từng sợi tơ canh dọc.

Chị Bé Hai nín thở đứng nhìn, hai mắt mở to không chớp. Là một người buôn lụa nhiều năm, từng thấy hàng trăm thợ may khắp các chợ miền Tây cho tới Chợ Lớn cắt vải, nhưng chị hiếm thấy ai có đường kéo dứt khoát, tự tin và thuần thục đến mức mê hoặc như cô thợ may trẻ này.

Quyên ngồi xuống trước chiếc máy may con bướm. Chân cô đặt lên bàn đạp bằng gang đúc.

Két… rào rào rào…!

Bánh đà quay tít. Chiếc kim số 9 siêu mảnh lao lên thụt xuống vun vút, cuốn theo sợi chỉ tơ mỏng manh kết nối những mảnh lụa lại với nhau. Tiếng máy may chạy êm ru, đều đặn như nhịp thở, không còn một chút rung lắc hay tiếng kêu lọc cọc nào sau khi được bàn tay tài hoa của Hoài An căn chỉnh lại trục xoay và bôi trơn bằng dầu máy tinh khiết.

Quyên tập trung toàn bộ tâm trí vào việc may mộc định hình phom dáng. Đối với nghề may thủ công truyền thống, việc hoàn thiện một chiếc áo dài tơ tằm thượng hạng với những đường viền tà tăm tinh xảo giấu chỉ đòi hỏi cả ngày trời tỉ mẩn khâu tay. Nhưng lúc này, điều cốt tử là phải ráp mộc thật chuẩn các đường xương sống: tra tay raglan cho thật phẳng, chạy các đường đề-cúp chiết ly dọc thân để định hình dáng áo, và tạm thời bấm ghim định vị hàng khuy bấm bên mạn sườn phải để khách mặc thử phom.

Từng đường kim mũi chỉ mộc mạc chạy dọc thân áo, giũ bỏ hoàn toàn nét gò bó, thô cứng của lối may cũ. Mồ hôi lấm tấm rịn ra trên vầng trán thanh tú của Quyên, vương nhẹ bên lọn tóc mai buông xõa. Cô quên đi cái đói cồn cào trong bụng, quên đi nỗi đau nhức nhối ở cánh tay bị bầm tím, quên đi cả món nợ ngàn cân đang treo lơ lửng trên đầu. Trong giây phút này, toàn bộ linh hồn cô hòa làm một với từng thớ vải.

Hơn một tiếng đồng hồ miệt mài trôi qua.

Khi bóng nắng mùa đông hiếm hoi rọi qua ô kính gác xép, dát một vệt vàng nhạt lên chiếc bàn gỗ, Quyên bấm đứt sợi chỉ lược cuối cùng, đứng dậy khẽ thở phào.

Chiếc áo dài lụa tơ tằm màu tím hoa cà đã thành hình phom mộc rõ rệt, những nếp gập mềm mại buông lơi duyên dáng.

“Chị Bé Hai, chị mặc thử xem phom dáng đã vừa vặn chưa,” Quyên mỉm cười, giọng khản đặc vì mệt nhưng ánh mắt lấp lánh sự tự tin của người thợ lành nghề.

Chị Bé Hai vội vã cởi chiếc áo khoác len dày cộp, cẩn thận xỏ tay vào tà áo lụa tím. Quyên đứng bên cạnh, đôi tay khéo léo giúp chị vuốt phẳng vai áo raglan. Khi hàng khuy bấm bên mạn sườn được cài ngay ngắn, chị Bé Hai hồi hộp bước lại trước chiếc gương soi khung gỗ ố màu thời gian treo trên vách ván ép.

Người phụ nữ phương Nam bỗng đứng sững sờ trước gương.

Trong gương, không còn là một bà buôn chuyến lam lũ, sồ sề sau những ngày dài vật lộn trên các chuyến tàu Thống Nhất nữa. Tà áo dài màu tím hoa cà như có một sức mạnh kỳ diệu: đường chiết ly uốn lượn khéo léo đã giấu đi phần lớn khuyết điểm vòng hai đẫy đà, tôn lên bờ vai tròn lẳn và chiếc cổ trắng ngần dưới làn cổ thuyền e ấp. Dù mới chỉ là may mộc định hình phom dáng, chưa hoàn thiện phần gấu tà và thùa khuy tỉ mỉ, nhưng từng bước chị xoay người, tà lụa mềm mại lại lượn sóng nhịp nhàng, toát lên vẻ sang trọng, quý phái mà phóng khoáng lạ thường.

“Trời… trời đất ơi!” Chị Bé Hai đưa hai tay ôm lấy má, giọng nghẹn lại vì ngỡ ngàng. “Đẹp… Đẹp dữ vậy trời! Tui… tui chưa bao giờ thấy mình mặc áo dài mà nhìn thon thả, sang cả như vầy hết trơn! Mấy thợ may quen ở trỏng cũng hổng ai khéo giấu bụng cho tui được như cô em!”

Chị quay ngoắt lại, nắm lấy hai bàn tay gầy gò của Thục Quyên, ánh mắt tràn ngập vẻ khâm phục và phấn khởi của một người vừa tìm thấy món hàng độc nhất vô nhị:

“Cô em tài thiệt đó Quyên! Nhìn mộc thôi mà đã ra cái chất đài các thế này rồi! Mấy bà bạn buôn của tui ngoài chợ Đồng Xuân với bạn hàng Chợ Lớn mà thấy mẫu áo cổ thuyền lụa Tân Châu này, bảo đảm mê mệt liền cho coi!”

Nhìn sự hài lòng chân thực trên gương mặt người khách buôn phương Nam, Quyên cảm thấy sống mũi mình cay cay. Đôi bàn tay người thợ may của cô, những nhọc nhằn đêm ngày của cô rốt cuộc đã được công nhận.

“Chị ưng ý là tôi mừng lắm,” Quyên khẽ nói. “Bây giờ tôi xin phép tháo áo ra để khâu tay giấu chỉ, cuộn viền tà tăm cho thật phẳng phiu và đính khuy bấm hoàn chỉnh. Đến chiều tối mai là chị có thể diện một chiếc áo dài Tết trọn vẹn nhất.”

“Được, được chứ!” Chị Bé Hai cởi áo ra, cẩn thận gấp lại đưa cho Quyên. Là một con buôn đường dài lão luyện, dù vô cùng tâm đắc với hoa tay của cô thợ trẻ, chị vẫn giữ nét cẩn trọng, thực tế của người làm ăn: “Chuyến này tui mang ra chục cây lụa, nhưng làm ăn thì cứ phải chắc ăn từng bước. Tui để lại xấp lụa tím này cho cô em hoàn thiện cho tui cái áo đầu tiên này để tui mặc diện Tết và làm mẫu chào khách trước. Nếu mấy mối ngoài này và trong Nam gật đầu, tui hứa sẽ giao hết lụa cho cô em may cả lô hàng Tết!”

Chị Bé Hai mở chiếc túi vải nhỏ đeo bên người, rút ra những tờ giấy bạc xếp ngay ngắn:

“Đây, tui trả trước tiền công bộ áo thử nghiệm này cho cô em, hẳn ba ngàn đồng, gấp rưỡi giá thợ phố lớn! Cô em cứ thong thả làm cho tui thiệt kỹ, chiều mai tui ghé lấy!”

Ba ngàn đồng tiền mặt!

Cầm những tờ giấy bạc còn phẳng phiu trên tay, lòng Quyên rộn lên một niềm xúc động khó tả. Ba ngàn đồng là một món tiền công rất lớn cho một chiếc áo may đo thời điểm ấy, đủ để cô mua thêm gạo ngon, mua bông băng thuốc đỏ tẩm bổ cho đôi chân của bé Toàn trong những ngày tới. Dẫu số tiền này còn cách quá xa con số năm vạn đồng nợ lãi mà đám tay sai của Bách hạn định trong bảy ngày, nhưng điều quý giá nhất là cánh cửa hy vọng đã mở toang. Khả năng chị Bé Hai giao cả lô hàng lụa Tết là hoàn toàn có thật!

“Tôi cảm ơn chị Bé Hai nhiều lắm,” Quyên cúi đầu cảm kích. “Tôi nhất định sẽ làm thật cẩn thận, không phụ lòng tin của chị.”

Chị Bé Hai xách chiếc vali nan tre đã được khâu chắc chắn, cười xởi lởi vỗ vai Quyên rồi bước xuống cầu thang, hòa vào dòng người tấp nập của phố phường Hà Nội đang bắt đầu một ngày mưu sinh hối hả.

*

Chiều muộn buông xuống ngõ Khâm Thiên nhanh như một cái chớp mắt.

Gió bấc lại gầm gào thổi mạnh hơn, kéo theo những hạt mưa phùn buốt giá quất ràn rạt vào những mái tôn rỉ sét ven đường tàu. Trong căn gác xép của Thục Quyên, chiếc áo dài lụa tím đang được cô cẩn thận khâu từng mũi viền tà tăm dưới ánh đèn dầu. Bé Hiền và bé Toàn đang xúm xít quanh bàn, nhìn ngắm mảnh lụa tơ tằm mềm mại, ánh mắt hai đứa trẻ lấp lánh niềm vui ngây thơ khi nghe chị kể về cơ hội nhận may áo Tết.

Quyên đứng tựa bên khung cửa sổ, lòng rộn rã bồn chồn. Cô cẩn thận vuốt thẳng những tờ tiền công ba ngàn đồng chị Bé Hai đưa, gói ghém kỹ trong chiếc khăn tay thêu hoa cúc. Cô nóng lòng chờ đợi tiếng xe đạp cót két quen thuộc của Hoài An. Cô muốn là người đầu tiên chạy ra đầu ngõ đón anh, muốn kể cho anh nghe về tà áo dài cổ thuyền bằng lụa phương Nam, muốn chia sẻ với anh chút tiền công đầu tiên để anh vơi bớt âu lo, và quan trọng nhất: muốn nói với anh rằng con đường lao động chân chính của họ đang bắt đầu đơm hoa kết trái.

Két… rào… rào…

Tiếng xích líp khô dầu quen thuộc cuối cùng cũng vang lên từ phía ngã tư đường ray Lê Duẩn.

“Anh An về rồi kìa chị!” Bé Toàn reo lên, chống đôi nạng gỗ nhảy lò cò ra mép chiếu.

Quyên vội vã chạy xuống cầu thang, gương mặt rạng rỡ nụ cười tươi tắn. Nhưng ngay khi cô vừa đẩy cánh cổng sắt của xưởng cơ khí Đặng gia bước ra thềm, nụ cười trên môi cô bỗng chốc đông cứng lại.

Dưới ánh đèn đường vàng vọt, ảm đạm của cột đèn tín hiệu đường sắt, Hoài An đang dắt chiếc xe Phượng Hoàng bước vào sân.

Nhưng anh không còn dáng vẻ hăm hở, tràn đầy quyết tâm như lúc sáng sớm. Chiếc xe đạp của anh bị méo xệch một bên bàn đạp, xích líp tuột hẳn ra ngoài, bám đầy bùn đất đen ngòm. Toàn thân Hoài An bê bết mạt than và bùn lầy sau chặng đường dài đạp xe vượt gió rét qua cầu Long Biên. Chiếc áo khoác bông bộ đội của anh bị rách toạc một mảng lớn ở vai, để lộ lớp bông xơ xác thấm đẫm nước mưa lạnh buốt.

Và xót xa nhất là khuôn mặt anh.

Gương mặt chữ điền cương trực của chàng thợ tiện trẻ xám ngoét lại, hốc hác đi trông thấy chỉ sau một ngày. Đôi mắt sáng ngời đêm qua giờ đây trĩu nặng một nỗi u uất, bàng hoàng và bất lực đến cùng cực. Anh đứng chôn chân giữa sân xưởng đầy phoi sắt gỉ, buông rơi chiếc ghi đông xe đạp xuống đất đánh rầm một tiếng khô khốc.

“Anh An… Có chuyện gì thế anh?” Quyên hốt hoảng lao tới, hai tay run rẩy nắm lấy cánh tay ướt sũng, lạnh ngắt như băng của anh. “Anh đi Gia Lâm có gặp được bác thợ cả không? Sao người anh lại ra nông nỗi này?”

Hoài An ngước mắt lên nhìn cô. Khi nhìn thấy ánh mắt bồ câu tràn ngập yêu thương và những tia hy vọng vừa nhen nhóm của Quyên, khóe môi anh run bần bật, hai bàn tay chai sần siết chặt lại thành nắm đấm đến mức những khớp xương trắng bệch, móng tay găm sâu vào da thịt ứa máu qua lớp băng trắng đã nhuốm màu bùn đất.

“Quyên…” Giọng Hoài An khản đặc, vỡ vụn ra giữa tiếng gió đông gầm rú bên thềm ga. “Hỏng… Hỏng hết rồi cô mình ơi…”

“Hỏng là sao anh? Công thức tôi ram thép không dùng được ư?” Quyên tái mặt, tim thắt lại từng cơn.

“Không… Bác Doãn và các kỹ sư già tốt lắm. Họ đã truyền lại toàn bộ công thức ram thép hợp kim Mangan-Crom cho tôi… Cách triệt độ rơ của bàn trượt, góc cắt của dao tiện tôi đều đã ghi chép cẩn thận…” Hoài An nghẹn ngào, từng lời thốt ra như bị xé rách từ lồng ngực đang rỉ máu. “Nhưng chúng ta không có thép để làm nữa rồi…”

“Tại sao lại không có thép?”

Hoài An ngửa mặt lên trời, bật ra một tiếng thở hắt cay đắng, xót xa đến nghẹn lòng:

“Chiều nay, tôi đạp xe lùng sục khắp tất cả các kho vật tư cơ khí, từ Xưởng xe lửa Gia Lâm, kho sắt phế liệu Long Biên, cho đến tận chợ trời Phùng Hưng và các lò đúc phôi ở Văn Điển… Nhưng ở đâu họ cũng lắc đầu từ chối. Toàn bộ phôi thép hợp kim tròn chịu nhiệt, chịu mài mòn đạt chuẩn đường sắt trên toàn cõi Hà Nội này… ngay trong buổi trưa nay, đã bị một đầu nậu bí ẩn đem hàng bọc tiền mặt đến gom sạch sành sanh với giá cao bất thường!”

Anh run rẩy đưa mắt nhìn sang căn nhà chái của Quốc Bách ở đầu ngõ Khâm Thiên – nơi chiếc xe máy Simson màu đỏ bóng loáng vừa rồ ga phóng vụt qua trong làn khói xám nồng nặc mùi xăng pha nhớt:

“Là thằng Bách… Hắn đã dùng tiền bẩn phong tỏa toàn bộ đường sống của xưởng tiện nhà tôi rồi! Không có phôi thép hợp kim, chỉ còn lại sắt vụn pha gang xốp… Trong vòng hai ngày nữa, tôi lấy gì để tiện ra một zem chuẩn xác cho Tổng cục Đường sắt kiểm định đây?!”

Lời nói cay đắng của Hoài An rơi tõm vào màn đêm buốt giá. Cùng lúc đó, một hồi còi tàu Thống Nhất lại hú lên xé lòng từ phía ga Hàng Cỏ, báo hiệu một đêm giông bão tàn khốc sắp sửa giáng xuống xóm thợ nghèo bên đường ray.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn