Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 5: Lời thề dưới ánh đèn hàn

Câu hỏi của Thục Quyên rơi vào khoảng không gian buốt cóng, vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh buốt nhói như chính những mảnh gương vương vãi dưới chân họ.

Đặng Hoài An không đáp ngay. Lồng ngực anh phập phồng sau cơn giận dữ, hơi thở phả ra làn khói mờ mịt giữa căn phòng gác xép thông thốc gió mùa đông bắc. Chiếc cờ-lê mỏ lết bằng thép đặc nằm im lìm trên mặt sàn gỗ, ánh lên vệt máu đỏ tươi từ mu bàn tay anh rỉ xuống. Cơn đau thể xác giờ này chẳng thấm tháp vào đâu so với nỗi xót xa đang cào xé trong tâm can anh khi nhìn thấy khóe môi rớm máu và bờ vai gầy guộc đang run lên bần bật của người con gái trước mặt.

Dưới tầng, tiếng ồn ào của bà con lối xóm dần lắng xuống. Bác Cả Thiện đang cùng mấy bác thợ già giúp dựng lại cánh cửa liếp bị đạp gãy, còn bà Mùi thì sụt sùi dỗ dành bé Hiền đang ôm trán sưng một cục to tướng và c* Toàn đang nép chặt vào góc phản, đôi mắt thơ dại ngơ ngác nhìn quanh. Xóm ga Hàng Cỏ sau cơn bão táp của đám lưu manh đòi nợ chỉ còn trơ lại mùi khói than đá nồng nặc bốc lên từ đường ray và tiếng còi tàu đêm xa vắng vọng về.

Hoài An hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng không khí lạnh buốt để trấn tĩnh lại buồng tim đang đập loạn. Anh bước tới, ngồi xổm xuống trước mặt Quyên, đưa đôi bàn tay thô ráp đầy mạt sắt đỡ lấy hai vai cô, ép cô phải nhìn thẳng vào mắt mình.

“Tôi không điên, Quyên ạ,” giọng anh trầm và khàn đặc, nhưng từng âm sắc lại đanh chắc như tiếng đe gõ vào thép nguội. “Nếu hôm nay tôi không đứng ra nhận cái món nợ ấy, thằng Thắng ‘sẹo’ sẽ không dừng lại ở việc dọa nạt đâu. Cô định để chúng nó lôi chiếc máy may này ném xuống sông Hồng thật sao? Cô định để mẹ con bác Mùi và cả cái xóm này trơ mắt nhìn cô bị thằng Bách ép lên xe hoa làm lẽ cho nó à?”

“Nhưng năm vạn… chỉ trong một tuần!” Nước mắt Quyên trào ra, lăn dài qua vệt bụi than trên má, làm nhòe đi cả đôi mắt bồ câu vốn luôn quật cường. “Năm vạn bạc thời buổi này mua được cả tạ gạo, cả một cây vàng! Xưởng của thầy u anh cả tháng nay chạy ăn từng bữa, tiền phôi thép còn nợ đại lý ngoài phố Lò Đúc chưa trả xong, anh lấy đâu ra năm vạn ném vào mặt chúng nó? Anh đem chiếc máy tiện Tiệp Khắc của thầy ra cược… Nếu mất xưởng, cả nhà anh sẽ sống ra sao? Tôi… tôi làm sao gánh nổi cái tội này với bác Tấn, bác Mùi đây?”

Tiếng nấc nghẹn của cô như ngàn mũi kim chích vào da thịt Hoài An. Anh không buông tay, trái lại càng siết chặt bờ vai mảnh dẻ của cô hơn, truyền sang cô hơi ấm từ lòng bàn tay thợ tiện dày dặn.

“Chuyện của xưởng, chuyện năm vạn bạc, tôi tự có cách tính liệu. Thầy tôi gàn dở thật, nhưng thầy là thợ bậc cao, thầy hiểu giá trị của danh dự hơn bất kỳ ai. Thầy sẽ không trách tôi đâu.” Anh nhìn xuống chiếc máy may con bướm bị đạp đổ nghiêng, phần chân đế bằng gang đúc đã nứt toác một đường dài, sợi dây curoa bằng da bò đứt lìa nằm chỏng chơ. “Việc bây giờ của cô là lau nước mắt đi, xuống xem bé Hiền với c* Toàn. Còn chiếc máy may này, đêm nay tôi sẽ hàn lại cho cô. Ngày mai, cô vẫn phải có đồ mà đạp máy.”

Quyên sững sờ nhìn anh. Trong bóng tối lờ mờ của gian gác xép, ánh mắt Hoài An sáng quắc, rực lên một thứ ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi. Sự che chở tuyệt đối, không toan tính vụ lợi ấy làm tan chảy lớp vỏ bọc kiên cường mà cô đã phải gồng mình dựng lên suốt bao tháng ngày mồ côi, cơ cực.

Cô không nói thêm được lời nào nữa, chỉ khẽ gật đầu, đưa vạt áo thô chùi vội giọt nước mắt nóng hổi.

*

Mười giờ đêm, xóm ga Khâm Thiên chìm vào giấc ngủ muộn màng và bất an. Gió bấc rít từng hồi qua những khe ngói xô lệch, hất tung những hạt mưa phùn li ti vào khoảng sân chung. Dưới tầng một, sau khi được bà Mùi bôi dầu cù là và cho ăn bát cháo hoa lót dạ, hai đứa trẻ đã thiếp đi trong tấm chăn bông vá chằng vá đụp. Ông Tấn ngồi lặng lẽ bên hiên xưởng tiện bên kia con ngõ nhỏ, rít từng hơi thuốc lào đỏ lửa, bóng lưng còng đổ dài trên nền tường vôi bong tróc nhưng tịnh không thốt ra một lời mắng mỏ con trai.

Hoài An cởi chiếc áo bông sờn rách, chỉ mặc chiếc áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân đã bạc phếch và ám đầy mùi dầu luyn. Anh cùng bác Cả Thiện khiêng bộ khung chân máy may bị gãy sang gian chái của xưởng cơ khí Đặng gia.

Gian chái hẹp chỉ chừng sáu mét vuông, gió lùa phần phật qua tấm bạt dứa rách che tạm. Hoài An cặm cụi kéo chiếc máy biến áp hàn thủ công tự chế ra giữa sàn đất nện. Chiếc máy hàn này do chính tay hai bố con anh quấn từng cuộn dây đồng từ lõi biến thế cũ của nhà máy điện Yên Phụ thải ra, vỏ bọc tôn đã rỉ sét nhưng tiếng kêu ù ù của nó mỗi lần đóng cầu dao vẫn đanh và khỏe khoắn.

Anh đặt hai mảnh gang đúc của chân đế máy may khớp lại với nhau, dùng kẹp sắt xiết chặt để cố định rãnh nứt. Gang là thứ kim loại đỏng đảnh, giòn và cực kỳ khó hàn; nếu không biết cách gia nhiệt và chọn đúng que hàn niken, mối hàn khi nguội sẽ giòn rụm và nứt toác ngay dưới lực rung của bàn đạp. Nhưng Hoài An từ năm mười sáu tuổi đã theo cha học nghề, đôi bàn tay anh quen thuộc từng thớ kim loại như hơi thở của chính mình.

Cọt kẹt.

Tiếng then cửa gỗ khẽ lay động. Hoài An quay đầu lại.

Thục Quyên đứng ở cửa lách, trên tay bưng một chiếc đèn dầu hỏa hoa kỳ và chiếc âu nhôm nhỏ. Mái tóc đen dài của cô xõa ngang vai, chiếc khăn len màu chàm quấn hờ quanh cổ. Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu, gương mặt cô thanh tú nhưng nhợt nhạt, chỉ có đôi mắt là long lanh ngấn nước.

“Hiền với Toàn ngủ chưa?” Anh khẽ hỏi, tay vẫn cầm chiếc kìm hàn.

“Chúng nó mệt quá nên thiếp đi rồi. Bác Mùi cũng vừa chợp mắt bên giường trong,” Quyên bước khẽ khàng vào trong gian chái, đặt chiếc đèn dầu lên góc bàn nguội rồi đưa chiếc âu nhôm về phía anh. “Tôi… tôi mang sang ít cồn đỏ với bông gòn. Tay anh rách sâu thế kia, không rửa sạch bụi sắt thì mai làm sao cầm nổi kìm búa.”

Hoài An nhìn xuống mu bàn tay phải của mình. Vết cứa ban nãy do va vào mép kính vỡ của chiếc gương soi đã khô lại thành một vệt dài thâm tím, mép vết thương bám đầy mạt sắt đen sì và dính chặt vào lớp da chai sạn. Đến lúc này, khi cơn giận dữ đã qua đi, cảm giác buốt rát mới bắt đầu giần giật theo từng nhịp tim đập.

Anh cười trừ, lau vội bàn tay vào ống quần bảo hộ: “Gớm, ba cái vết xước vặt của dân thợ tiện ấy mà, nhằm nhò gì. Mai tôi bôi tí mỡ máy vào là nó se lại ngay.”

“Anh cứ coi thường!” Quyên trừng mắt nhìn anh, giọng trách móc nhưng lại run rẩy vì xót xa. “Ngồi xuống đây!”

Đó là lần đầu tiên cô gắt với anh bằng cái giọng điệu vừa dứt khoát vừa mềm mại như thế. Hoài An bỗng thấy mình lúng túng như một đứa trẻ phạm lỗi, ngoan ngoãn ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông mòn vẹt.

Quyên quỳ một chân xuống nền đất lạnh, đặt ngọn đèn dầu sát lại gần. Khoảng cách giữa hai người thu hẹp lại trong gang tấc. Hoài An có thể ngửi thấy mùi hương bồ kết thoang thoảng từ mái tóc của cô, lẫn trong mùi cồn đỏ hăng hắc và hơi ấm dìu dịu phả ra từ hơi thở gấp gáp của người con gái.

Đôi bàn tay mềm mại, nhỏ nhắn nhưng đầy những vết kim châm li ti của Quyên khẽ nâng bàn tay thô ráp của anh lên. Những ngón tay cô lạnh ngắt, khẽ run lên khi đầu ngón tay chạm vào da thịt anh.

“Sẽ xót đấy, anh cắn răng chịu một tí,” cô thì thầm.

Miếng bông tẩm cồn đỏ chạm vào miệng vết thương. Cơn đau rát như lửa đốt xộc thẳng lên tận óc, Hoài An khẽ rụt tay lại theo phản xạ, buột ra một tiếng hít hà khe khẽ.

“Đau lắm phải không?” Quyên dừng tay lại, ngước nhìn anh, đôi mắt đong đầy sự hối lỗi và đau đớn như thể chính da thịt cô đang bị cứa rách. Cô ghé sát miệng lại, chu môi nhè nhẹ thổi từng luồng hơi ấm vào vết thương để xua đi cái buốt rát của cồn.

Làn hơi ấm áp ấy lướt qua da thịt, chạy dọc theo cánh tay rồi rót thẳng vào buồng tim Hoài An một luồng điện tê dại. Anh nín thở, nhìn chăm chú vào từng đường nét trên gương mặt cô. Dưới ánh đèn dầu lay lắt, những sợi tóc tơ vương bên thái dương cô óng lên như tơ tằm. Vết bầm tím trên khóe môi cô vẫn còn đó, minh chứng cho sự bạo tàn của cuộc mưu sinh mà cô gái hai mươi hai tuổi này phải đơn độc gánh vác suốt hai năm qua.

“Quyên này,” Hoài An cất tiếng, giọng anh trầm xuống, dịu dàng đến mức chính anh cũng thấy ngỡ ngàng.

“Dạ?” Quyên vẫn cẩn thận dùng dải băng vải xé từ tấm lụa trắng sạch quấn từng vòng quanh mu bàn tay anh.

“Cô có nhớ cây hoa gạo đầu ngõ ga không?”

Đôi bàn tay của Quyên khựng lại một nhịp. Cô ngẩng đầu lên, ánh mắt bồ câu chạm thẳng vào cái nhìn thăm thẳm của anh.

“Cây hoa gạo bên cột tín hiệu số ba ấy à? Nhớ chứ… Năm nào tháng ba nó chẳng nở đỏ rực cả một góc trời.”

“Năm mười bảy tuổi, cô thi trượt cấp ba vì phải ở nhà chăm mẹ ốm,” Hoài An khẽ nói, ánh mắt xa xăm như trôi về những ngày tháng cũ. “Chiều hôm ấy, cô ngồi khóc một mình dưới gốc cây gạo, vạt áo lụa trắng dính đầy bụi than tàu hỏa. Tôi đứng sau rào chắn nhìn sang, muốn chạy lại đưa cho cô cái khăn tay mà không dám. Tôi sợ cái thằng thợ tiện mặt mũi lúc nào cũng nhem nhuốc dầu mỡ như tôi sẽ làm bẩn chiếc áo của cô.”

Gò má Thục Quyên bỗng ửng hồng lên dưới ánh đèn dầu. Cô cụp mắt xuống, ngón tay vô thức miết nhẹ lên mép dải băng vải: “Chuyện từ đời nào rồi… anh nhắc lại làm gì.”

“Tôi nhắc, vì tôi muốn cô hiểu,” Hoài An đưa bàn tay lành lặn còn lại, ngập ngừng một thoáng rồi nhẹ nhàng áp lên mu bàn tay nhỏ bé của cô. Cảm nhận được sự run rẩy của cô, anh không buông ra mà nắm chặt lấy, kiên định và ấm áp. “Bao nhiêu năm qua, từ ngày cô bắt đầu ngồi vào chiếc máy may này, tiếng lách cách của bàn đạp bên gác xép của cô và tiếng máy tiện bên xưởng của tôi chưa từng rời nhau một ngày nào. Mỗi lần tàu đêm chạy qua làm rung rinh khung cửa, tôi nhìn sang thấy bóng cô in trên vách nứa, tôi mới yên tâm mà cúi xuống tiện tiếp từng thanh sắt.”

Một giọt nước mắt ấm nóng của Quyên rơi trúng mu bàn tay đang băng bó của anh.

“An… tôi là đứa con gái mang nợ,” cô nghẹn ngào, cố rút tay về nhưng anh càng giữ chặt hơn. “Mẹ tôi mất để lại gánh nặng ngập đầu, hai đứa em nheo nhóc. Tôi như cái cây mục giữa dòng nước lũ, ai bám vào cũng chỉ có chìm theo thôi. Anh là đứa con trai duy nhất của bác Tấn, anh có tay nghề, anh xứng đáng có một người con gái lành lặn, đàng hoàng, có một cuộc đời yên ấm… chứ không phải đâm đầu vào gánh nợ của tôi để rồi tan gia bại sản thế này!”

“Ai bảo cô là gánh nợ?” Hoài An gằn giọng, ánh mắt bừng lên ngọn lửa mãnh liệt chưa từng thấy. “Với tôi, cô chưa bao giờ là gánh nợ cả! Thục Quyên, nếu việc bảo vệ cô và hai đứa nhỏ mà làm tôi tan gia bại sản, thì tôi chấp nhận! Nhưng Hoài An này không phải thằng hèn chỉ biết nói suông rồi chịu chết!”

Anh kéo cô lại gần hơn một chút, để cô nhìn thấy sự quả quyết đến tột cùng trong đáy mắt mình:

“Tôi yêu cô. Tôi thương cô từ cái thuở hoa gạo đỏ năm ấy, thương cái nết nhẫn nhịn, thương đôi bàn tay dám vì hai đứa em mà chai sần bên bàn máy may. Cái xưởng này, chiếc máy tiện này là danh dự của cha tôi, nhưng nếu không giữ được người con gái tôi thương, thì cái danh dự thợ thuyền ấy tôi giữ để làm gì? Tôi đứng ra bảo lãnh, không phải vì tôi liều mạng, mà vì tôi muốn chứng minh cho thằng Bách, cho cả cái xóm ga này thấy: bàn tay người thợ chân chính không bao giờ chịu quỳ gối trước đồng tiền nhơ bẩn của quân buôn lậu!”

Lời tỏ tình mộc mạc, thô ráp như chính những thanh phôi thép chưa qua tôi luyện, nhưng lại chân thành và nồng cháy đến mức khiến toàn thân Thục Quyên run rẩy. Bao nhiêu tủi nhục, bao nhiêu cay đắng và cô độc dồn nén suốt bao năm qua bỗng chốc vỡ òa thành một dòng suối ấm áp tưới đẫm tâm hồn khô héo của cô.

Quyên không rút tay lại nữa. Cô để mặc cho bàn tay thô ráp của anh bao bọc lấy tay mình. Đôi vai cô khẽ rung lên trong tiếng nấc, nhưng lần này không phải là nước mắt của sự tuyệt vọng, mà là giọt nước mắt của một kẻ bộ hành kiệt sức giữa sa mạc bỗng tìm thấy một dòng suối mát lành, một bờ vai vững chãi nhất trần đời để tựa vào.

“An…” Cô ngước nhìn anh, giọng nghẹn lại sau bờ môi run rẩy. “Anh… anh thật ngốc…”

“Ừ, tôi ngốc,” Hoài An nở một nụ cười hiền hậu, đưa ngón tay cái nhẹ nhàng gạt đi giọt nước mắt đọng trên gò má cô. “Nhưng gã thợ tiện ngốc này sẽ không để ai cướp mất nụ cười của cô đâu. Tin tôi đi.”

Gió đông ngoài kia vẫn gầm gào đập vào mái tôn xưởng máy, nhưng trong góc chái nhỏ này, hơi ấm từ ngọn đèn dầu và hơi ấm từ hai trái tim cùng nhịp đập đã xua tan đi tất cả cái giá lạnh căm căm của đêm đông Hà Nội năm 1988.

*

Hoài An buông tay Quyên ra, hít một hơi thật sâu rồi đứng dậy. Ánh mắt anh trở lại vẻ sắc bén, thực tế của một người thợ đứng trước một bài toán kỹ thuật hóc búa cần lời giải.

“Bây giờ, chúng ta phải tính đường sống,” Hoài An nói, kéo chiếc ghế đẩu lại gần chiếc bàn nguội, trải ra một tờ giấy xi măng phẳng phiu. “Năm vạn bạc trong bảy ngày. Nếu chỉ trông chờ vào việc sửa chữa lặt vặt cho dân xóm ga hay trông vào mấy cái áo bông chần của cô, chúng ta chắc chắn sẽ thua.”Quyên cũng đứng dậy, lấy lại sự điềm tĩnh và tháo vát vốn có của người con gái phố Khâm Thiên. Cô lau khô mắt, bước lại bên bàn: “Anh tính thế nào? Thằng Bách đã tuyên bố sẽ bóp nghẹt nguồn phôi thép của xưởng anh, còn tiệm may của tôi thì khách quen nghe tin bị đòi nợ cũng chẳng ai dám mang vải đến gửi nữa.”

Hoài An cầm một mẩu phấn trắng, vạch lên mặt bàn gỗ một hình tròn có nhiều rãnh khía:

“Thằng Bách cậy nó có tiền, có hàng bãi và móc nối được với mấy tay thủ kho thoái hóa để tuồn bạc lót giả vào các đoàn tàu đại tu Tết. Nhưng cô có biết điểm yếu chết người của nó là gì không?”

Quyên nhìn hình vẽ kỹ thuật, đôi lông mày lá liễu khẽ nhíu lại: “Là chất lượng?”

“Đúng! Chính là chất lượng!” Hoài An gõ mạnh mẩu phấn xuống bàn. “Bạc lót của thằng Bách là gang pha phế liệu, độ rơ lắc cực lớn, chạy đường dài tàu nóng trục là cháy bạc ngay. Ban kỹ thuật của Tổng cục Đường sắt đang đau đầu vì đợt tàu Thống Nhất vừa rồi liên tục phải nằm đường dọc miền Trung do hỏng cụm truyền động. Chiều nay, trước khi xảy ra chuyện, tôi có nghe lỏm được mấy bác kỹ sư bên Xưởng đầu máy Gia Lâm sang uống nước chè ở quán u tôi. Họ nói: Nhà nước đang chủ trương Đổi Mới, khuyến khích tự lực cánh sinh, các xưởng đầu máy được phép tìm kiếm đối tác cơ khí bên ngoài để ký hợp đồng cung ứng phụ tùng thay thế, miễn là hàng làm ra phải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật gắt gao, chịu lực và chịu mài mòn không thua gì hàng Tiệp, hàng Liên Xô!”

Đôi mắt Quyên sáng lên, nhưng rồi lại chùng xuống: “Nhưng xưởng của anh… làm sao cạnh tranh nổi với các nhà máy quốc doanh lớn?”

“Xưởng quốc doanh làm ăn theo lối bao cấp, thủ tục rườm rà, máy móc cũ kỹ lại thiếu động lực,” Hoài An giải thích cặn kẽ. “Thầy tôi có bí quyết tôi ram thép hợp kim của các chuyên gia Liên Xô từ hồi chiến tranh phá hoại. Nếu tôi tôi được loại thép có độ cứng bề mặt cao nhưng lõi vẫn dẻo dai, rồi dùng máy tiện Tiệp Khắc gọt chuẩn xác đến từng zem, từng phần trăm milimet, tôi sẽ đem mẫu trực tiếp sang phòng kỹ thuật Gia Lâm chào hàng! Chỉ cần họ gật đầu ký hợp đồng nguyên tắc và ứng trước ba mươi phần trăm tiền mặt để làm lô thử nghiệm, chúng ta không những có đủ năm vạn trả cho thằng Bách, mà xưởng Đặng gia sẽ chính thức bước chân vào chuỗi cung ứng chính ngạch của ngành hỏa xa!”

Quyên lắng nghe từng lời của anh, lồng ngực cô rộn rã một niềm tin mãnh liệt. Đứng trước nghịch cảnh, người đàn ông này không hề run sợ, trái lại còn nhìn ra cơ hội bứt phá giữa thời cuộc biến thiên.

“Còn cô thì sao, Quyên?” Hoài An nhìn cô, ánh mắt chan chứa sự khích lệ. “Cô định làm gì với tiệm may?”

Quyên khẽ mỉm cười, một nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng cả gương mặt thanh tú sau chuỗi ngày ủ dột:

“Tôi cũng nghĩ kỹ rồi. Thời bao cấp sắp hết rồi anh ạ. Phụ nữ bây giờ, nhất là các bà các cô buôn chuyến từ Nam ra, họ không còn thích những chiếc áo sơ mi phom hộp cứng đờ hay những chiếc áo dài may theo kiểu cổ xưa thụng thình nữa. Họ muốn đẹp, muốn thanh lịch nhưng phải tôn được dáng dấp mềm mại. Mấy hôm trước, tôi có xem trộm mấy tờ tạp chí thời trang nước ngoài của một bà khách làm ở bộ ngoại giao mang về. Tôi muốn cách tân chiếc áo dài truyền thống!”

“Cách tân thế nào?” Hoài An tò mò hỏi.

“Tôi sẽ hạ thấp cổ áo xuống một chút thành cổ thuyền hoặc cổ ba phân mềm mại, phần eo sẽ chiết cong hơn để ôm sát đường lượn của cơ thể phụ nữ, tay áo sẽ cắt theo kiểu raglan ráp xéo để không bị đùn vải ở nách. Quan trọng nhất là chất liệu: thay vì vải phin, vải thô cứng ngắc thời phân phối, tôi sẽ tìm cách liên hệ với các mối hàng chở lụa tơ tằm từ miền trong ra ga Hàng Cỏ. Lụa Nam Bộ vừa mềm vừa mát rượi, lên phom áo dài cách tân sẽ đẹp đến nao lòng!”

Nói đến niềm đam mê cắt may, đôi mắt Thục Quyên lấp lánh như có ngàn vì sao. Bàn tay cô múa lượn trong không khí, phác họa nên những đường cong tuyệt mỹ của tà áo dài mà cô hằng ấp ủ trong những đêm thức trắng bên ngọn đèn dầu.

Hoài An nhìn cô say đắm. Anh thấy ở Quyên một tâm hồn đồng điệu đến kỳ lạ: một bên là người thợ tiện với những đường gọt sắt thép chính xác đến từng phần trăm milimet, một bên là cô thợ may với những đường kéo lượn trên tơ lụa mềm mại. Cả hai đều tôn thờ cái đẹp của lao động chân chính, đều muốn dùng chính tài hoa của đôi bàn tay mình để vươn lên giữa buổi giao thời tao loạn.

“Tốt lắm!” Hoài An vỗ đùi một cái đét, giọng hào sảng. “Tôi làm thép, cô dệt lụa. Chúng ta sẽ không chịu thua số phận!”

Anh quay sang chiếc máy hàn: “Bây giờ, việc đầu tiên là phải hồi sinh chiếc máy may này cho cô đã. Cô cầm kính hàn che mắt đi, cẩn thận kẻo đau mắt đấy!”

Hoài An đeo chiếc kính bảo hộ màu đen, tay phải kẹp que hàn niken đã được sấy nóng, tay trái với lấy cầu dao điện đóng xoạch một cái. Chiếc máy biến áp rú lên một tiếng gầm gừ quen thuộc.

Xoẹt! Xoèeeeet!

Đầu que hàn vừa chạm vào rãnh nứt của thanh gang đúc, một luồng ánh sáng chói lòa màu xanh biếc bùng lên, soi rọi từng góc tối tăm của gian xưởng cơ khí. Những chùm hoa lửa kim loại li ti bắn tung tóe như những cánh pháo hoa đêm giao thừa, rực rỡ và ấm nóng.

Mùi khói thuốc hàn khen khét nồng nặc bốc lên, hòa lẫn với mùi dầu mỡ máy và hơi lạnh của màn đêm. Dưới ánh lửa hàn xanh lét le lói, gương mặt Hoài An hiện lên góc cạnh, kiên định và tập trung cao độ. Từng giọt kim loại nóng chảy lấp đầy vết nứt toác, gắn kết hai mảnh gang rời rạc lại thành một khối vững chắc duy nhất.

Quyên nép mình sau lưng anh, hai tay cầm mảnh kính đen che trước mặt, lặng lẽ ngắm nhìn tấm lưng rộng vững chãi đang hơi cúi xuống vì công việc của anh. Từng nhịp búa gõ xỉ hàn lách cách vang lên, đều đặn và dứt khoát. Trong khoảnh khắc ấy, mọi nỗi sợ hãi về khoản nợ năm vạn bạc, về sự đe dọa của Quốc Bách dường như đều tan biến ra ngoài khung cửa sổ.

Mười lăm phút sau, tiếng máy hàn tắt ngấm. Không gian chìm lại vào bóng tối dịu nhẹ của ngọn đèn dầu.

Mối hàn gang đỏ rực dần chuyển sang màu xám tro rồi nguội hẳn. Hoài An cầm chiếc dũa sắt, nhanh thoăn thoắt gọt phẳng những ba-via thừa trên mối nối. Anh dùng tay lắc mạnh: thanh chân đế gang đúc cứng ngắc như chưa từng bị gãy vỡ.

“Xong rồi!” Hoài An gạt mồ hôi trên trán, quay lại nhìn Quyên, nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng gương mặt lấm lem muội than. “Sợi curoa bị đứt, mai tôi lấy sợi da bò dự phòng bên xưởng thay vào, bảo đảm đạp êm ru hơn cả máy mới.”

Quyên bước tới, đưa tay chạm vào mối hàn còn âm ấm. Sự xúc động dâng nghẹn nơi cổ họng: “Cảm ơn anh… An.”

“Đã bảo không cần cảm ơn mà,” Hoài An mỉm cười. Anh bước ra phía thềm cửa xưởng, nơi nhìn thẳng ra dải đường sắt chạy dài hun hút trong sương đêm. Quyên lặng lẽ bước theo sau, đứng cạnh anh bên bậu cửa.

Đêm đã về khuya. Cả thành phố Hà Nội dường như đã chìm sâu vào giấc ngủ dưới cái rét cắt da cắt thịt. Nhưng trên dải đường ray thép trước mặt họ, hai thanh ray kim loại vẫn sáng bóng lên dưới ánh đèn vàng của cột tín hiệu xa xa.

Hoài An đưa ngón tay út của bàn tay đang quấn băng trắng ra trước mặt cô, ánh mắt sáng ngời:

“Quyên, ngoéo tay thề với tôi đi.”

Quyên ngỡ ngàng: “Thề gì cơ?”

“Thề rằng dù bảy ngày tới hay bảy năm nữa có khó khăn, giông bão đến đâu, chúng ta cũng không bao giờ gục ngã. Tôi sẽ đúc nên những chiếc bạc lót chuẩn xác nhất cho tàu Thống Nhất, cô sẽ may nên những tà áo dài đẹp nhất cho người Hà Nội. Và chúng ta… sẽ cùng nhau trả sạch món nợ này, đàng hoàng bước đi dưới ánh mặt trời!”

Nhìn ngón tay út thô ráp, chai sần của anh chìa ra giữa gió đông buốt giá, trái tim Quyên rung lên những nhịp đập mãnh liệt. Cô không ngần ngại giơ ngón tay út thon thả, trắng trẻo của mình lên, móc chặt lấy ngón tay anh.

Hai ngón tay xiết chặt. Hai số phận, hai tâm hồn của những người con lao động xóm ga Hàng Cỏ từ giây phút này đã chính thức gắn kết keo sơn, không gì có thể chia lìa.

ĐÚNG LÚC ĐÓ!

U U U U U…!

Một hồi còi tàu hơi nước vang rền, xé toạc màn đêm tĩnh mịch của phố phường.

Mặt đất dưới chân họ bỗng rung chuyển bần bật. Từ khúc quanh phía đường Khâm Thiên, đoàn tàu Thống Nhất Bắc - Nam chở đầy hàng hóa và hành khách chuyến đêm muộn đang rầm rập tiến vào ga Hàng Cỏ. Ánh đèn pha cực mạnh từ đỉnh đầu máy xe lửa quét một vệt sáng trắng lóa qua thềm ga, rọi thẳng vào gian xưởng cơ khí, soi rõ gương mặt tràn đầy quyết tâm và ngón tay út đang ngoéo chặt của đôi bạn trẻ.

Gió tàu thốc tới, cuồn cuộn thổi tung tà áo bảo hộ của Hoài An và mái tóc đen dài của Thục Quyên. Tiếng bánh sắt nghiến trên thanh ray xình xịch, xình xịch như một bản trường ca hùng tráng của sắt thép, giục giã và thôi thúc sức sống của một thời đại mới đang chuyển mình cựa quậy.

Cả hai đứng yên trong ánh sáng chói lòa ấy, mỉm cười nhìn nhau, không còn một chút sợ hãi nào trước bóng tối của tương lai.

Đoàn tàu dần khuất sau sân ga, tiếng xình xịch xa dần, trả lại sự yên ắng cho con ngõ nhỏ. Ánh lửa que hàn khi nãy giờ đã tắt ngấm hoàn toàn, chỉ còn lại làn khói mỏng thơm mùi kim loại lởn vởn quanh hiên nhà.

Hoài An buông tay Quyên ra, toan bảo cô quay về phòng ngủ để giữ sức cho ngày mai, thì bỗng nhiên—

Cạch! Cạch! Rầm!

Tiếng bước chân chạy thình thịch vội vã từ phía đường ray lao thẳng vào ngõ Khâm Thiên. Cánh cổng sắt của xưởng tiện bị xô mạnh bật mở.

Bác Cả Thiện trong bộ đồng phục công nhân đường sắt sờn rách, chiếc đèn bão cầm tay lắc lư dữ dội, chiếc mũ vải che tai xộc xệch, hớt hải chạy xộc vào gian chái. Khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn của người thợ gác ghi xám ngoét lại vì gió lạnh và một nỗi kinh hoàng tột độ. Bác thở không ra hơi, hai tay run lẩy bẩy bám chặt lấy vai Hoài An, chiếc đèn bão suýt rơi xuống đất.

“An… Thằng An đâu rồi! Bác Tấn đâu!” Bác Cả Thiện hổn hển, giọng lạc hẳn đi giữa tiếng th* d*c.

“Bác Cả! Cháu đây! Có chuyện gì thế bác?” Hoài An giật mình, vội đỡ lấy cánh tay người thợ già. Quyên cũng hoảng hốt bước lại gần.

Bác Cả Thiện nuốt một ngụm nước bọt khan rát, rút trong túi áo ngực ra một tờ công văn khẩn bằng giấy rơm màu vàng ố, run giọng thông báo:

“Nguy to rồi cháu ơi! Trên Tổng cục… Tổng cục Đường sắt vừa phát điện khẩn hỏa tốc xuống các ga đầu mối lúc nửa đêm! Do xảy ra sự cố nứt trục bánh xe trên tuyến Nam Định chiều nay, Tổng cục vừa ra lệnh: Cắt giảm toàn bộ chỉ tiêu sửa chữa thủ công, đóng cửa xét thầu tự do! Họ ra tối hậu thư: Trong vòng ba ngày tới, nếu các cơ sở gia công bên ngoài không chứng minh và kiểm định được độ chuẩn xác một phần trăm milimet—đúng một zem tuyệt đối trên máy đo trắc vi quang học của Viện Kỹ thuật—thì toàn bộ phụ tùng tư nhân sẽ bị cấm vĩnh viễn không được bén mảng vào đường sắt!”

Bác Cả Thiện th* d*c, nhìn chằm chằm vào chiếc máy tiện Tiệp Khắc cũ kỹ nằm im lìm trong góc tối của xưởng Đặng gia:

“Một phần trăm milimet… Với cái máy tiện rơ trục từ thời chiến tranh này của bố con mày, làm sao mà gọt ra nổi một zem chuẩn xác hả An ơi?!”

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn