Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 3: Bóng ma trên những chuyến tàu đêm

Cả căn gác xép ọp ẹp rung bần bật sau từng cú nện như búa bổ. Đất vôi cũ kỹ từ trần nứa mủn rụng lả tả xuống manh chiếu cói, vương cả lên mớ vải vụn và chiếc kéo thợ may sáng loáng đặt trên bàn. Thằng Toàn sợ hãi co rúm người lại, hai cánh tay khẳng khiu quàng chặt lấy thắt lưng con Hiền. Con bé mười bốn tuổi tái ngắt mặt mày, vừa ôm chặt lấy em vừa run lẩy bẩy, đôi mắt mở to dại đi vì kinh hoàng.

“Con Quyên đâu! Mở cửa ngay!”

Tiếng gót giày da đóng móng sắt nện huỳnh huỳnh vào cánh cổng nứa cài then ọp ẹp ngoài ngõ cụt. Tiếng quát tháo the thé, the thé như mũi đột sắt găm vào tôn lạnh xé toạc màn sương mù xám xịt đang bọc kín xóm đường tàu Khâm Thiên:

“Mẹ kiếp! Có người bên trong mà giả điếc à? Đại ca Bách cho chúng tao đến thu mười vạn tiền lãi quá hạn đây! Hôm nay không nôn đủ tiền ra, thì đừng có trách anh em tao dỡ nát cái tổ chim này, lôi chiếc máy may con bướm về quẳng xuống lòng sông Hồng!”

Thục Quyên hoảng hốt chực bước xuống thang gác, nhưng một bàn tay to bản, ráp ráp những vết chai sần của mạt sắt đã vươn ra, nhẹ nhàng mà vững chãi giữ chặt lấy bả vai cô.

Hoài An chắn ngang lối xuống. Bờ vai anh rộng như một bức tường gạch, che trọn tầm mắt của ba chị em Quyên. Ánh mắt anh không còn vẻ trầm lắng, hiền hậu thường ngày bên bàn tiện, mà đã sẫm lại như màu thép nguội, quánh đặc một ngọn lửa giận dữ đang âm ỉ cháy.

“Cô mình ở yên trên này với hai em,” Hoài An nói, giọng anh trầm đục nhưng rành rọt đến từng chữ, tỏa ra một sức nặng trấn an kỳ lạ giữa cơn hỗn loạn. “Khép then cửa buồng lại. Dù có chuyện gì xảy ra dưới sân, tuyệt đối không được bước xuống.”

“Anh An... Đừng... Lũ chúng nó đông lắm, lại toàn dân dao búa...” Quyên run rẩy níu lấy vạt áo bông sờn mép của anh, giọng nghẹn ứ nơi cuống họng.

Hoài An không đáp. Anh chỉ khẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay lạnh ngắt của cô một cái dứt khoát, rồi quay người sải từng bước dài xuống cầu thang gỗ. Tiếng bậc thang kêu kẽo kẹt dưới sức nặng của thân hình vạm vỡ. Vừa chạm chân xuống nền gạch ẩm ướt ở khoang dưới, ánh mắt An đã quét nhanh qua góc tường, với lấy một thanh đòn sắt dài chừng ba gang tay — đoạn thép trục đầu máy xe lửa hỏng mà anh tiện dở để góc sân.

Ngoài cổng, hàng rào nứa ken dày đã bắt đầu răng rắc nứt toác dưới sức xô đẩy của bốn năm gã đàn ông bặm trợn. Đám đòi nợ khoác những chiếc áo bạt xám xịt cáu bẩn, cổ quấn khăn len dùi cuồn cuộn, đứa cầm xà-beng, đứa lăm lăm đoạn dây xích sắt dùng để khóa bánh xe đạp. Mùi rượu đế sặc sụa trộn lẫn mùi thuốc lá lào khét lẹt xộc qua khe nứa, nồng nặc và tởm lợm.

“Mở ra! Đập tan mẹ nó cánh cửa này đi!”

Giữa lúc gã đi đầu vung chiếc xà-beng định nạy tung chốt cửa gỗ, thì từ đầu ngõ Lê Duẩn, một âm thanh chói gắt bất ngờ xé toạc không gian buốt giá.

“BÀNH! BÀNH! BÀNH! TẠCH TẠCH TẠCH!”

Tiếng động cơ hai thì của chiếc xe máy nổ ròn tan, đanh giòn và dữ dội như tràng pháo tép nổ sát bên tai. Ánh đèn pha vàng vọt quét loang loáng qua những bức tường vôi lở lói của dải phố Khâm Thiên, xua tan đám sương mù ẩm ướt. Chiếc xe lướt tới như một mũi tên xé gió, phanh rúm lại ngay trước cổng ngõ, quét bánh sau hất tung một vạt sỏi đá dăm bên mép đường ray.

Đó là một chiếc Simson 50cc màu đỏ đu đủ bóng lộn — thứ tài sản xa xỉ, thời thượng tột cùng của đất Hà thành vào những năm cuối thập niên tám mươi, chiếc xe mà chỉ có những tay buôn chuyến cộm cán, những kẻ bỗng chốc phất lên nhờ những chuyến hàng lậu xuyên Việt dọc đường tàu mới có thể cưỡi lên.

Tiếng động cơ vừa ngắt, đám bặm trợn đang hùng hổ đập cửa bỗng đồng loạt giật thót, vội vã buông tay lùi dạt sang hai bên mép ngõ, cúi rạp người xuống như đàn chó săn nhìn thấy chủ:

“Anh Bách! Đại ca đã tới!”

Khói xe màu xanh nhạt phả ra khét lẹt mùi dầu nhớt thơm ngoại nhập, nhưng ngay sau đó lập tức bị lấn át bởi một làn hương khác: mùi nước hoa Hồng Kông nồng nặc, ngòn ngọt đến lợm giọng.

Người vừa bước xuống khỏi chiếc Simson đỏ chính là Trần Quốc Bách. Hắn trạc hai mươi tám tuổi, vóc người cao ráo, mái tóc rẽ ngôi bóng mượt được chải ngược ra sau bằng thứ sáp thơm đắt tiền. Giữa cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông Hà Nội, Bách không mặc áo bông chần như dân lao động xóm ga, mà diện nguyên một bộ đồ bay phi công Liên Xô bằng vải dù xịn màu cỏ úa chần chỉ nổi, bên dưới là chiếc quần bò Thái mài gối cùng đôi bốt da bò cao cổ bóng loáng. Ngón tay trỏ của hắn lấp lánh một chiếc nhẫn vàng cẩn mặt đá đỏ to tướng, trên cổ tay lấp ló chiếc đồng hồ bọc vàng Seiko năm chém sáng lóa dưới ánh chiều tà.

Bách tháo chiếc kính râm gọng vàng cài vào ve áo dù, đưa mắt quét qua cánh cổng nứa xô lệch của tiệm may, rồi liếc xéo sang đám lâu la bằng ánh mắt sắc lạnh như lưỡi dao cạo.

“Lũ bay làm cái trò mèo gì ở đây thế?” Bách cất giọng the thé, điệu bộ trịch thượng nhưng gằn từng tiếng đầy uy quyền. “Tao bảo chúng mày đến ngõ hỏi thăm xem cô thợ may dạo này làm ăn thế nào, đứa nào cho phép chúng mày gầm gừ như lũ chó dại làm kinh động đến bà con xóm ga thế hả?”

Tên cầm đầu đám đòi nợ run rẩy, giấu chiếc xà-beng ra sau lưng, ấp úng:

“Dạ... dạ thưa anh Bách... Con bé Quyên này lì lợm quá. Tiền lãi tháng này quá hạn mấy hôm rồi mà nó không chịu đóng, cửa đóng then cài trốn tiệt bên trong... Chúng em chỉ định dọa cho nó biết sợ...”

“Dọa?” Bách cười khẩy một tiếng, ngón tay đeo nhẫn vàng khẽ gõ lách cách lên mặt đồng hồ xe máy. “Người đẹp như hoa như ngọc, đôi tay vàng ngọc để may áo lụa, chúng mày làm sứt mẻ một sợi lông chân của cô ấy thì lấy cái gì đền cho tao? Cút hết ra đầu ngõ đứng đợi!”

Đám lâu la như được cởi trói, răm rắp vâng dạ rồi lủi nhanh ra phía đường cái lớn Lê Duẩn.

Cánh cổng nứa lúc này bật mở rộng. Hoài An bước ra, hai tay buông thõng nhưng lăm lăm thanh đòn thép sau tà áo bông. Đôi mắt anh quắc lên, nhìn chòng chọc vào khuôn mặt trơn nhẵn, trơ tráo của Bách.

Hai người đàn ông trẻ tuổi đứng đối diện nhau giữa con ngõ chật hẹp, cách nhau chỉ chừng vài bước chân. Một bên là người thợ tiện nghèo với bàn tay chai sạn vì mạt sắt, bộ quần áo xanh công nhân loang lổ vết dầu máy và ánh mắt cương trực của một kẻ sống bằng mồ hôi nước mắt; một bên là tay trùm buôn chuyến phất lên nhờ thời cuộc nhiễu nhương, dát lên người toàn nhung lụa ngoại nhập và toát ra thứ mùi tanh tưởi của kim tiền bất chính.

Bách liếc nhìn thanh đòn sắt sau lưng An, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười giễu cợt đầy ngạo mạn. Hắn không hề tỏ ra sợ hãi, trái lại còn ung dung rút trong túi áo dù ra một bao thuốc lá thơm Ba Số 555 nắp dẹt màu xanh biển — thứ thuốc lá ngoại chỉ dành cho dân buôn lớn. “Tách” một tiếng, ngọn lửa xanh lét từ chiếc bật lửa Dupont mạ vàng bùng lên, soi rõ nụ cười xảo quyệt trên gương mặt hắn.

“Chú em Hoài An... Chắn cửa hăng hái gớm nhỉ?” Bách nhả một ngụm khói trắng đục vào không khí lạnh buốt, ánh mắt liếc nhìn lên khung cửa sổ gác xép của Quyên, nơi có cái bóng mảnh mai đang nép sau tấm rèm vải hoa. “Nhưng chú em lầm rồi. Chiều nay tao sang đây không phải để dồn con bé thợ may vào chân tường. Ba trăm nghìn bạc rách đối với con Quyên thì to như núi đè gãy lưng, nhưng với Trần Quốc Bách này... nó chỉ bằng nửa chuyến hàng tao đánh từ Sài Gòn ra ga Giáp Bát mà thôi.”

Bách búng tàn thuốc xuống vũng nước mưa đọng bên mép rãnh, rồi quay ngoắt người lại, hướng thẳng ánh mắt sang gian nhà cấp bốn lợp ngói xi-măng xám xịt cách đó vài bước chân — xưởng cơ khí Đặng gia.

“Hôm nay, tao sang là để mang lộc trời cho cái xưởng rỉ sét nhà chúng mày.”

Nói đoạn, chẳng thèm đợi An lên tiếng, Bách đã ngạo nghễ sải bước, đôi bốt da nện cồm cộp trên lớp xỉ than, đi thẳng vào gian xưởng tiện đang mở toang cửa.

Hoài An siết chặt thanh đòn thép, đốt ngón tay trắng bệch ra vì kìm nén. Anh không thể để tên cáo già này làm càn trước mặt cha mình. Khẽ liếc mắt ra hiệu cho Quyên trên gác xép an tâm, An rảo bước bám riết theo sau gót giày của Bách.

Bên trong xưởng tiện Đặng gia, không khí ẩm lạnh và nồng nặc mùi dầu luyn quen thuộc. Dưới ánh sáng vàng vọt tù mù của bóng đèn dây tóc sáu mươi oát treo lơ lửng trên sợi dây điện chằng chịt bụi than, ông Đặng Văn Tấn đang đứng tựa lưng vào mép đe thép.

Ông Tấn mặc chiếc áo dạ cũ thời chống Mỹ đã sờn rách hai bên cùi chỏ, tấm tạp-dề bằng da bò thô cáu bẩn dầu mỡ buộc ngang hông. Chân phải của ông hơi co lên vì vết thương mảnh đạn năm xưa ở chiến trường Đường 9 lại giở chứng nhức buốt mỗi khi gió mùa đông bắc tràn về. Trên bàn tay gân guốc, đen đúa vì cả đời cọ xát với sắt thép, ông đang cầm chiếc giũa ba cạnh cạo gỉ cho một thanh phôi.

Nghe tiếng bước chân lạ, ông Tấn ngẩng đầu lên. Đôi lông mày rậm bạc trắng của người thợ già nhíu chặt lại khi nhìn thấy gã thanh niên lạ mặt trong bộ đồ bay lộng lẫy nghênh ngang bước vào xưởng mình mà không thèm cởi mũ hay cất lời chào hỏi.

“Ai cho anh tự tiện vào đây?” Giọng ông Tấn đanh lại, trầm và vang như tiếng kim loại va đập.

Bách không hề nao núng. Hắn đảo mắt một vòng quanh gian xưởng chật chội. Ánh mắt hắn lướt qua chiếc máy tiện vạn năng thời Tiệp Khắc viện trợ đã tróc sơn xanh, đống phôi sắt thô nằm lăn lóc nơi góc nhà, rồi dừng lại ở khay nhôm đựng mấy con ốc vít và bạc lót tiện dở.

“Xưởng của thợ tiện bậc sáu Xưởng xe lửa Gia Lâm vang bóng một thời... mà giờ tiêu điều thế này thôi sao, bác Tấn?” Bách cất giọng mỉa mai, đưa tay quẹt nhẹ một vệt bụi than trên thành máy tiện rồi chùi vào chiếc khăn mùi-xoa trắng muốt. “Nghe đâu từ ngày nhà nước xóa bỏ bao cấp, chuyển sang tự hạch toán kinh doanh, xưởng Đặng gia ế ẩm đến mức sắp phải bán cả máy móc lấy tiền đong gạo? Khổ thật đấy. Người có tài mà không thức thời thì cũng chỉ như đống sắt vụn này, nằm chờ rỉ sét mà thôi.”

“Trần Quốc Bách!” Hoài An bước xộc vào, thanh đòn thép trong tay gõ mạnh một tiếng “KENG” xuống mặt bàn gỗ lim kê sát cửa. “Xưởng nhà tôi làm ăn thế nào không mượn đến loại người như anh bận tâm! Có việc gì thì nói thẳng ra, rồi cút khỏi đây ngay!”

“Nóng nảy thế, chú em?” Bách cười gằn, nhưng ánh mắt hắn lập tức đổi khác, trở nên giảo hoạt và toan tính tột cùng.

Hắn thò tay vào chiếc túi dù bên hông áo bay, lôi ra một bọc giấy báo cũ buộc dây chun chằng chịt, ném mạnh xuống mặt bàn tiện.

“BẸP!”

Một tiếng động nặng trịch vang lên. Dây chun đứt phựt, lớp giấy báo bung ra, để lộ những cọc tiền giấy mệnh giá năm mươi đồng, một trăm đồng mới cáu cạnh, xếp ngay ngắn thành từng thếp dày cộp. Trong ánh đèn vàng mờ ảo, màu đỏ sẫm của những tờ tiền giấy thời Đổi Mới ánh lên một thứ ma lực đầy cám dỗ. Đó là một món tiền khổng lồ — dễ đến cả triệu đồng, số tiền mà một người thợ tiện mẫn cán như Hoài An hay ông Tấn có còng lưng đạp máy cả chục năm ròng rã cũng chưa chắc tích cóp nổi giữa cơn bão giá phi mã năm 1988.

Cùng với cọc tiền, Bách rút từ trong ngực áo ra một tờ giấy can khổ A4 gấp tư, mở phẳng ra đặt bên cạnh. Đó là một bản vẽ kỹ thuật vẽ bằng bút chì kim, nét vẽ nguệch ngoạc nhưng thể hiện rất rõ hình dáng mặt cắt của một cụm chi tiết cơ khí: cụm bạc lót trục truyền động của đầu máy xe lửa.

Ông Tấn nhìn cọc tiền, rồi đưa mắt nhìn sang bản vẽ. Đôi mắt người thợ già nheo lại, những nếp nhăn nơi khóe mắt giật giật.“Mày muốn cái gì?” Ông Tấn lạnh lùng hỏi.

Bách bước lại gần bàn tiện, hạ thấp giọng xuống, từng lời từng chữ phả ra đầy mùi tanh tưởi của một âm mưu đen tối:

“Tôi muốn xưởng Đặng gia nhận gia công độc quyền lô hàng này cho tôi. Đúng hai trăm bộ bạc lót đầu máy xe lửa theo bản vẽ này.”

Hoài An liếc nhìn bản vẽ, lông mày lập tức nhíu chặt lại. Là thợ cơ khí lành nghề theo cha từ thuở mười lăm tuổi, anh chỉ cần nhìn qua kích thước và thông số dung sai ghi trên bản vẽ là đã nhận ra ngay điều bất thường.

“Bản vẽ này sai be bét,” Hoài An chỉ tay vào các con số ghi chú. “Độ dày thành bạc lót theo tiêu chuẩn kỹ thuật của đầu máy hơi nước Tự Lực và đầu máy diezen D9E phải là mười hai milimet, làm bằng đồng thanh phốt-pho hoặc hợp kim babit chịu mòn cực cao. Tại sao trong bản vẽ này, độ dày chỉ để có tám milimet? Lại còn ghi chú dùng 'gang xám pha phế liệu'?”

Bách cười khì khì, vỗ tay bôm bốp như tán thưởng sự tinh tường của Hoài An:

“Khá lắm! Đúng là con nhà nòi! Nhìn một cái là ra ngay tim đen của vấn đề!”

Hắn ghé sát mặt vào ông Tấn, đôi mắt híp lại lộ rõ vẻ nham hiểm:

“Bác Tấn à, thời buổi Đổi Mới rồi, kinh tế thị trường là phải biết luồn lách. Bác ôm cái mớ lý thuyết sách vở của mấy ông kỹ sư viện trợ Tiệp Khắc, Liên Xô để làm cái gì? Tổng cục Đường sắt chuẩn bị mở đợt đại tu quy mô lớn cho toàn bộ các đoàn tàu Thống Nhất chạy tuyến Bắc - Nam để phục vụ Tết Kỷ Tỵ. Phụ tùng ngoại thì đắt như vàng ròng, hàng bãi nhập về thì khan hiếm. Tôi đã có tay trong cắm sẵn ở kho vật tư đường sắt ga Hà Nội và ga Giáp Bát. Chúng nó chỉ cần số lượng để hợp thức hóa chứng từ rút tiền ngân sách.”

Bách chỉ tay vào cọc tiền trên bàn:

“Việc của bố con bác cực kỳ đơn giản: dùng gang vụn, sắt phế liệu thu gom ở các bãi ve chai, nấu chảy rồi đúc thô, sau đó đưa lên chiếc máy tiện này gọt giũa cho tôi. Tiện mỏng ruột đi bốn milimet để bớt nguyên liệu! Bên ngoài chỉ cần mạ một lớp đồng thau mỏng dính cho nó vàng ươm, bóng lộn lên như hàng xịn. Đưa vào kho, ký nghiệm thu cái rẹt là xong! Ai mà hơi đâu đi bổ từng cái bạc lót ra để kiểm tra kim loại bên trong?”

Hắn ngửa cổ cười đắc chí, giọng nói đầy vẻ dụ dỗ ma quái:

“Mỗi một bộ bạc lót này, giá vật tư nhà nước thanh toán là tiền triệu. Tôi trả công tiện cho xưởng Đặng gia năm trăm đồng một bộ — gấp mười lần tiền công nhật các xưởng cơ khí quốc doanh đang trả cho thợ bậc cao! Hai trăm bộ, bố con bác đút túi trọn vẹn một vạn đồng tiền công! Lại còn tiền chia phần trăm chênh lệch vật tư nữa!”

Gian xưởng bỗng chốc chìm vào một sự im lặng rợn người. Chỉ có tiếng gió đông rít qua khe cửa gỗ và tiếng còi tàu hơi nước từ phía ga Hàng Cỏ vọng lại xa xăm, trầm đục như một tiếng thở dài não nuột của màn đêm.

Hoài An đứng chết trân. Máu trong người anh như sôi sùng sục, hai bàn tay siết chặt đến mức móng tay cắm sâu vào da thịt. Tiện rút ruột kim loại? Pha gang vụn vào bạc lót đầu máy xe lửa? Đây không còn là chuyện gian lận thương mại tầm thường của lũ con buôn phe phẩy, đây là một tội ác tày trời!

Bách thấy hai cha con im lặng, tưởng họ đã xiêu lòng trước núi tiền, liền bồi thêm một đòn quyết định:

“Bác Tấn, chú em Hoài An, nghĩ cho kỹ đi! Nhận lời tôi, cái xưởng này không những sống khỏe, mà sang năm chú em An còn thừa tiền tậu xe máy bãi, cưới vợ đàng hoàng. Còn nếu cứ ôm lấy cái đạo đức cổ hủ ấy... thì lấy cái gì mà nhét vào mồm? Lấy cái gì mà cứu con bé thục nữ ngõ sau đang sắp bị siết nhà siết máy may?”

Bách vừa dứt lời, một tiếng quát vang lên như sấm sét giữa đêm đông:

“CÂM MIỆNG!”

“CHÁT!”

Một âm thanh chói tai nổ tung trong gian xưởng. Cây búa tiện nặng hơn hai cân trên tay ông Tấn giáng thẳng xuống mặt đe thép, tóe ra một chùm tia lửa đỏ rực rỡ lóa mắt. Lực đánh mạnh đến nỗi mặt đe thép rung bần bật, làm cọc tiền trên bàn tiện nảy tung lên, rơi lả tả xuống sàn đất đầy phoi sắt gỉ.

Ông Tấn đứng thẳng người dậy. Dù một bên chân tập tễnh vì thương tật, nhưng vóc dáng của người thợ già lúc này sừng sững như một ngọn núi đá. Khuôn mặt sạm đen vì khói than của ông đỏ bừng lên vì uất nghẹn, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp tạp-dề da bò. Bàn tay ông run run — không phải vì sợ hãi, mà vì cơn thịnh nộ tột cùng của một người cả đời coi danh dự nghề nghiệp quý hơn mạng sống.

Ông chỉ thẳng mũi búa tiện vào mặt Trần Quốc Bách, giọng đanh thép, từng lời thốt ra như đúc bằng gang thép:

“Mày... mày cút ngay! Cầm cái đống tiền tanh tưởi của mày cút ngay khỏi xưởng tao!”

Bách lùi lại nửa bước, nụ cười trên môi tắt ngấm, vẻ mặt thoáng chốc biến sắc trước uy lực kinh người của ông già tàn tật.

“Bác Tấn... bác điên rồi à?” Bách gằn giọng, cố lấy lại vẻ trịch thượng. “Tiền tươi thóc thật đấy! Bác chê tiền à?”

“Tiền? Thứ tiền này là tiền bán mạng đồng bào!” Ông Tấn bước tới một bước, thanh búa trong tay rít lên trong không khí lạnh. “Bạc lót trục truyền động là trái tim của bánh xe lửa! Đầu máy kéo hàng chục toa tàu, chở hàng trăm tấn hàng và hàng nghìn con người, chạy rầm rập ngày đêm trên tuyến đường sắt Thống Nhất từ Hà Nội vào Sài Gòn! Bạc lót chuẩn phải chịu được ma sát hàng vạn vòng quay, chịu được nhiệt độ hàng trăm độ C mà không được biến dạng!”

Người thợ già th* d*c, đôi mắt ngấn lệ vì căm phẫn:

“Mày bảo tao rút ruột kim loại? Mày bảo tao pha gang vụn, gang xỉ vào đồng thanh? Mày có biết chỉ cần đoàn tàu chạy đến đoạn cua Phủ Lý hay vượt qua đèo Hải Vân, ma sát làm nóng trục, cái thứ bạc lót rác rưởi của mày sẽ vỡ vụn ra như cám không? Trục truyền động sẽ bị bó cứng! Bánh sắt sẽ trật khỏi đường ray! Cả đoàn tàu sẽ lao xuống vực, hàng trăm con người sẽ tan xương nát thịt dưới lòng sâu!”

Ông Tấn bước dồn Bách về phía cửa xưởng, tiếng nói nghẹn ngào mà bi tráng:

“Ba mươi năm tao làm thợ ở Xưởng xe lửa Gia Lâm, từ thời bom Mỹ dội nát cầu Long Biên, tao và đồng đội tao từng nhịn đói, thức trắng bao đêm bên lò tôi thép để tiện từng chiếc ốc vít, từng cụm bạc lót chuẩn xác đến từng phần trăm milimet để giữ cho mạch máu đường sắt không bao giờ đứt đoạn! Mồ hôi của tao, máu của anh em công nhân tao đổ xuống đường ray để đổi lấy sự an toàn cho từng chuyến tàu... chứ không phải để hôm nay cho cái loại kền kền buôn xác người như mày đem tính mạng đồng bào ra đánh quả!”

Ông Tấn vung mạnh cây búa chỉ ra ngoài màn mưa phùn:

“Dòng họ Đặng này thà chết đói, thà cái xưởng này sập tiệm, bố con tao thà đi bốc vác ở ke ga Hàng Cỏ kiếm từng củ khoai ăn qua ngày, chứ tuyệt đối không bao giờ mài giũa một milimet sắt vụn nào để làm hại con người! CÚT!”

Hoài An tiến lên một bước, đứng song song bên cạnh cha. Dáng người cao lớn của anh che khuất ánh đèn, đổ một bóng đen trùm lên người Bách. Anh cúi xuống, nhặt tờ bản vẽ kỹ thuật nhăn nhúm lên, xé toạc làm đôi, rồi vò nát ném thẳng vào ngực chiếc áo bay đắt tiền của Bách.

“Nghe rõ lời bố tôi chưa?” Hoài An gằn từng tiếng, ánh mắt lạnh buốt như băng tuyết trên đỉnh đèo. “Nhặt đống tiền bẩn của anh lại, và biến khỏi ngõ này ngay lập tức. Đừng để tôi phải dùng đến thanh đòn thép này tiễn khách!”

Bách đứng chết lặng giữa cửa xưởng. Gương mặt trơn nhẵn của hắn co giật liên hồi, từ trắng bệch chuyển sang tím tái vì nhục nhã. Ở cái đất Hà thành thời buổi mở cửa này, tiền của hắn đi đến đâu cửa mở toang đến đấy, từ các phòng ban vật tư cho đến những tụ điểm ăn chơi sang trọng nhất. Hắn chưa từng nghĩ mình lại bị một lão thợ già tàn tật và một thằng thợ tiện rách rưới ném tiền vào mặt, sỉ nhục không thương tiếc như thế này.

Hắn từ từ cúi xuống, nhặt từng thếp tiền vương vãi trên nền đất, nhét ngược vào túi áo dù. Mỗi một động tác của hắn đều chậm chạp, nhưng đôi mắt híp lại sau cặp mày rậm đang lóe lên những tia nhìn độc địa, hiểm ác như loài rắn độc bị giẫm phải đuôi.

“Được... Được lắm...” Bách cười khẩy, tiếng cười the thé rợn người vang lên giữa không gian tĩnh mịch. “Rượu mời không uống lại thích uống rượu phạt. Bố con nhà mày giỏi lắm! Cứ giữ lấy cái danh thợ tiện bậc sáu rách nát ấy mà thờ! Thời buổi này là thời buổi của đồng tiền, của kẻ thức thời, chứ không phải cái thời hô hào khẩu hiệu suông của các người nữa đâu!”

Hắn chỉnh lại cổ áo bay Liên Xô, quay người bước ra thềm ngõ, nhưng dừng lại ngay trước chiếc Simson đỏ. Hắn ngước nhìn lên căn gác xép của tiệm may ngõ Khâm Thiên — nơi ngọn đèn dầu vẫn đang le lói sau chấn song cửa sổ. Một nụ cười tàn nhẫn, méo mó nở trên khóe môi hắn.

Hắn quay phắt lại nhìn Hoài An, ánh mắt đầy vẻ thách thức và đe dọa:

“Để xem cái xưởng cơ khí này cầm cự được bao lâu khi tao gom sạch toàn bộ phôi thép nguyên liệu ở cái đất Hà Nội này! Để xem chúng mày lấy cái gì đổ vào mồm qua cái mùa đông năm nay!”

Bách nhảy lên yên xe, chân đạp mạnh cần khởi động. Tiếng động cơ 50cc gầm rú lên điên cuồng, xả ra một luồng khói xanh nồng nặc mùi xăng pha nhớt trùm kín cả lối đi chật hẹp.

Trước khi rồ ga phóng đi, Bách ném lại một câu lạnh gáy:

“Ông già cứ giữ lấy cái danh hão, để xem con bé thợ may ngõ sau có vì vài phân vàng mà phải tự quỳ gối xin làm vợ bé tôi không!”

Chiếc Simson rú ga rống lên một tràng dài chát chúa rồi lao vút ra phía dải đường tàu Lê Duẩn, cuốn theo lớp bụi than mù mịt và tiếng cười man rợ chìm dần vào bóng đêm đặc quánh.

Gió bấc lại ào ào thổi thốc qua con ngõ cụt. Mưa phùn bắt đầu rơi hạt nặng hơn, buốt giá găm vào da thịt. Hoài An đứng chôn chân bên bậu cửa xưởng tiện, lồng ngực anh phập phồng dữ dội, ánh mắt nhìn trừng trừng theo vệt đèn xe đỏ quạch đang mất hút về phía ga Hàng Cỏ. Phía sau lưng anh, ông Tấn run rẩy ngồi sụp xuống chiếc ghế đẩu cạnh đe thép, bàn tay già nua vẫn nắm chặt cán búa, hơi thở đứt quãng vì cơn uất nghẹn chưa tan. Và phía trên căn gác xép đối diện, bóng dáng Thục Quyên vẫn lặng lẽ đứng bên khung cửa, cô đơn và nhỏ bé giữa cơn giông bão đen tối đang chực nuốt chửng xóm nghèo.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn