Tiết trời sau Tết Kỷ Tỵ ấm dần lên trong những đợt mưa xuân giăng mắc như tơ nhện. Gió bấc hanh hao đã nhường chỗ cho ngọn gió đông nam ẩm ướt, mang theo hơi thở cựa mình của cỏ cây dọc theo dải đất ven bờ sông Hồng thổi vào lòng Hà Nội. Trên những thân xà cừ cổ thụ ven đường Khâm Thiên, lớp vỏ sần sùi bỗng nứt ra những chồi non xanh mướt như ngọc bích, và dưới hiên căn gác xép nhỏ, chậu đào bích của ba chị em Thục Quyên vẫn kiên trì bung nở những cánh hoa cuối cùng, rực rỡ một màu son tươi tắn.
Từ sáng sớm tinh mơ, tiếng lách cách nhịp nhàng của thoi đưa và bàn đạp chiếc máy may Con Bướm đã đều đặn vang lên trên căn gác xép thơm mùi vải mới.
Thục Quyên ngồi bên bậu cửa sổ mở hé, nơi ánh sáng ban mai lọt qua rèm tre mỏng, rải một vạt vàng êm dịu lên tấm phản gỗ lim. Trước mặt cô là khúc lụa tơ tằm thượng hạng do chính chị Bé Hai cất công lặn lội xuống tận Bảo Lộc lựa từng cây mang ra Bắc làm quà cưới. Khác với những sắc đỏ cờ rực rỡ hay đỏ thắm chói chang mà các cô dâu thành thị lúc bấy giờ bắt đầu chuộng theo mốt ngoại nhập, Quyên chọn cho mình một sắc đỏ trầm hơn: màu đỏ gạch.
Đó là sắc đỏ nung qua lửa của những mái ngói phố cổ rêu phong, sắc đỏ của phù sa sông Hồng mùa nước son, đằm thắm, sâu lắng mà bền bỉ lạ thường. Thứ lụa ấy khi chạm vào tay mát rượi như nước suối đầu nguồn, nhưng khi ôm vào da thịt lại tỏa ra một hơi ấm dịu dàng khôn tả. Ánh sáng xiên khoai chiếu vào mặt vải làm ánh lên những sợi tơ óng ả, chìm nổi những vân mây mộc mạc mà sang trọng đến nao lòng.
Quyên cầm chiếc kéo cán đồng nặng trịch – di vật duy nhất người mẹ quá cố để lại cho cô thợ may nhỏ. Bàn tay thon dài của cô lướt trên mặt vải mềm mại, từng đường phấn may con sò màu trắng vạch ra những nét cong thanh thoát. Cô không cần dùng đến thước dây quá nhiều; từng số đo của chính mình, từng cử động của cơ thể đã in sâu trong tâm trí người thợ may sau bao năm gắn bó với nghề. Chiếc áo dài cưới này không xẻ tà quá cao theo lối phóng túng của phương Tây, cũng không nuốt dáng lùng bùng như thuở cơ chế bao cấp còn thiếu thốn vải vóc. Quyên khéo léo kết hợp kỹ thuật cắt nách raglan của phương Nam với đường lượn eo thắt đáy lưng ong đoan trang của phụ nữ Tràng An xưa. Phần cổ áo dựng cao ba phân vừa vặn, ôm ấp lấy chiếc cổ thanh tân trắng ngần, hai tà áo rủ xuống mềm mại như một dòng suối đỏ êm đềm lượn qua gót chân.
“Xoẹt… xoẹt…”
Tiếng lưỡi kéo sắc ngọt rẽ vào thớ lụa nghe thật êm tai. Mỗi nhát cắt hạ xuống, lòng Quyên lại dâng lên một nỗi niềm bồi hồi khó tả. Cô nhớ lại những đêm mùa đông rét căm căm của năm trước, khi căn gác này còn lạnh lẽo đến thấu xương, ngọn đèn dầu leo lét soi bóng cô cô độc bên đống vải vụn vá víu kiếm từng hào bạc lẻ mua cháo cho em. Cô nhớ cái ngày tay sai của Quốc Bách đạp cửa xông vào, tiếng đập phá chói tai và nỗi nhục nhằn khi tờ giấy nợ ba trăm nghìn đồng như một chiếc thòng lọng siết chặt lấy cổ họng. Những ngày tháng ấy tăm tối như đường hầm xe lửa không có lối ra. Nếu không có bàn tay vững chãi và đôi mắt kiên định của Hoài An chìa ra giữa giông bão, nếu không có tấm lòng bao bọc của u Mùi, thầy Tấn và bà con xóm ga nghèo, liệu giờ này số phận ba chị em cô sẽ trôi dạt về phương trời nào?
Bàn tay cầm kéo của Quyên khẽ run lên. Một giọt nước mắt ấm nóng bất giác rơi xuống mép vải, loang ra thành một chấm sẫm màu rồi nhanh chóng thấm sâu vào lòng sợi tơ. Đó không phải là nước mắt của tủi hờn, mà là những giọt nước mắt ngọt ngào của sự tái sinh.
“Chị Quyên ơi! Chị xem em nhặt rau ngót sạch chưa này!”
Tiếng gọi lảnh lót kéo Quyên ra khỏi dòng hồi ức. Ở góc phản, bé Toàn đang ngồi xếp bằng, tay thoăn thoắt tuốt từng cọng rau ngót xanh mướt cho vào chiếc rổ xảo. Đôi chân từng bị thương tật suýt tàn phế của cậu bé nay đã thẳng thớm, lớp da non hồng hào lành lặn sau ca mổ định mệnh ở Viện Việt Đức. Không còn chiếc nạng gỗ kẽo kẹt bên nách, thằng bé cử động hoạt bát, đôi mắt tròn xoe ngập tràn vẻ tinh nghịch của một đứa trẻ lên chín tuổi vừa được trả lại tuổi thơ trọn vẹn.
Bé Hiền từ dưới bếp bước lên, tay bưng âu nước vôi trong để ngâm sợi tơ thêu, miệng cười tươi rói:
“Chị khéo lo, anh Toàn bữa nay chạy còn nhanh hơn cả em nữa cơ! Hôm qua bác Cả Thiện vừa dắt anh ấy ra tận đầu ghi ga xem đầu máy xe lửa, bác còn bảo chân thằng c* này sau này tha hồ mà nhảy tàu như lính thông tin!”
“Cái con bé này, ăn nói linh tinh!” Quyên khẽ quở, nhưng ánh mắt lấp lánh nụ cười. Cô đưa tay xoa đầu hai đứa em, ngửi thấy mùi bồ kết thơm dịu trên mái tóc tết gọn gàng của Hiền. “Bác Cả đùa đấy, lo mà học cho xong kỳ hai để tháng Chín còn vào lớp sáu. Cả thằng Toàn nữa, thầy Tấn đã xin cho vào lớp một trường Khâm Thiên rồi, không được lêu lổng ngoài đường ray đâu nghe chưa.”
“Vâng ạ!” Toàn nhoẻn miệng cười, để lộ hai chiếc răng sún ngộ nghĩnh. Cậu bé ghé sát đầu vào tà áo đỏ gạch trải trên phản, đưa ngón tay nhỏ xíu chạm nhẹ vào thớ lụa mát rượi, thầm thì đầy ngưỡng mộ: “Chị Quyên may áo cưới đẹp quá… Mai chị mặc chiếc áo này, anh An nhìn thấy chắc chắn sẽ đứng ngây người ra như khúc gỗ cho mà xem!”
Hiền khúc khích cười, còn Quyên thì đỏ bừng mặt, vội giơ chiếc que đóm gõ nhẹ vào mu bàn tay cậu em út:
“Chỉ khéo nói láo là không ai bằng! Mau đi rửa tay sạch rồi phụ chị tẽ mấy con suốt chỉ màu hồng đào ra đây.”
Quyên ngồi xuống trước khung thêu nhỏ bằng gỗ xoan đào. Đây là công đoạn cô dồn nhiều tâm sức nhất. Trước ngực tà áo cưới, bên phía trái tim, cô không chọn những hình rồng phượng cầu kỳ thường thấy ở các đám cưới vương giả, mà tự tay phác thảo một nhành hoa đào phai thanh mảnh. Từng sợi chỉ tơ nhuộm màu hồng phớt, màu trắng ngà và xanh non được luồn qua lỗ kim bé xíu. Dưới mũi kim thoăn thoắt và tinh tế của người con gái Tràng An, từng cánh đào phai dần dần hiện lên sống động, cánh mỏng manh e ấp nghiêng mình trong gió xuân, bên cạnh là một chồi biếc mỡ màng đang vươn lên đón nắng.
Đó là biểu tượng của mùa xuân đầu tiên sau những năm tháng bão dập sóng dồi, là lời hẹn ước son sắt của tình yêu đơm hoa kết trái từ chính mảnh đất xóm ga nghèo cằn cỗi nhưng thắm đượm nghĩa tình.
Từ khung cửa sổ gác xép, Quyên phóng tầm mắt qua dải đường ray sắt đen bóng đang ươm màu mưa bụi.
Bên kia đường tàu, xưởng cơ khí Đặng gia đang rực sáng ánh đèn huỳnh quang hòa cùng ánh lửa hàn lập lòe. Tiếng máy tiện Tiệp Khắc ro ro êm ái, tiếng mạt sắt văng lách tách vào máng hứng và tiếng kim loại va chạm leng keng tạo thành một bản giao hưởng lao động quen thuộc, gắn liền với tuổi thanh xuân của cô.
Quyên biết, suốt ba đêm nay, Hoài An hầu như không chợp mắt.
Sau khi cùng các kỹ sư Tổng cục Đường sắt hoàn thành nghiệm thu lô bạc trục đầu tiên cho các đoàn tàu Thống Nhất, đáng lẽ anh phải nghỉ ngơi lấy lại sức khỏe sau chuỗi ngày lao lực đến kiệt cùng. Thế nhưng, cứ hễ đêm xuống, khi sáu người thợ trẻ trong xóm đã ra về sau ca làm việc, gian xưởng nhỏ lại chỉ còn lại một mình anh cặm cụi bên bàn tiện. Dưới ánh đèn chụp màu xanh, bờ vai rộng vững chãi của Hoài An đổ một chiếc bóng lớn lên vách tường vôi loang lổ. Anh đang dồn toàn bộ tay nghề bậc bảy của mình vào một kỷ vật thiêng liêng nhất đời người thợ.
Đến gần trưa, khi mũi thêu cuối cùng vừa thắt nút gọn gàng sau lớp lót lụa, Quyên đứng dậy vươn vai. Cô trút bỏ chiếc tạp dề vải thô, cẩn thận gấp gọn tà áo cưới phủ lên một tấm vải trắng sạch sẽ để tránh bụi than đường tàu. Rót một âu nước chè xanh om gừng tươi còn bốc khói nghi ngút vào chiếc tích sứ Bát Tràng, Quyên bước xuống cầu thang gỗ, dặn dò hai em trông nhà rồi chậm rãi băng qua dải đường sắt sang bên xưởng cơ khí.
Mùi dầu mỡ máy nồng nồng, mùi khói than đá và hương thép nóng quen thuộc xộc vào cánh mũi khiến lòng cô dâng lên một cảm giác an tâm đến lạ kỳ. Bước qua bậc cửa xưởng, Quyên thấy Hoài An đang cúi rạp người trên bàn máy tiện mini chuyên dùng gia công chi tiết đồng hồ và khí tài chính xác. Chiếc áo công nhân màu xanh công nhân đường sắt bạc phếch của anh ướt đẫm mồ hôi sau lưng, hai ống tay áo xắn cao để lộ bắp tay cuồn cuộn gân guốc. Vết sẹo dài do mảnh kim loại cứa trong chuyến cứu hộ tàu đêm ở Phủ Lý đã kéo da non, nổi cộm lên thành một vệt hồng kiêu hãnh.
Gương mặt anh chăm chú đến mức từng sợi cơ trên gò má đều căng ra, đôi mắt sáng ngời sau cặp kính bảo hộ không hề chớp. Anh đang dùng một mũi dao tiện bằng hợp kim siêu cứng, cẩn thận gạt từng lớp phoi bạc mỏng tang như tơ nhện trên một vòng tròn kim loại nhỏ xíu kẹp trên đầu mâm cặp.
“Anh An…” Quyên khẽ cất tiếng gọi, sợ làm anh giật mình làm hỏng mất đường tiện tinh vi.
Hoài An dừng tay gạt công tắc điện. Tiếng mô-tơ từ từ lịm đi. Anh tháo kính bảo hộ ra, quay lại nhìn cô. Đôi mắt anh trũng sâu vì thiếu ngủ nhưng ánh lên niềm vui rạng ngời khi thấy bóng dáng thanh thoát của người thương. Anh vội vã đưa vạt áo lau mồ hôi trên trán, rồi chùi chùi hai bàn tay dính đầy dầu máy vào chiếc giẻ lau khô bên cạnh, lúng túng như một đứa trẻ bị bắt quả tang làm việc vụng trộm.
“Quyên đấy à? Em sang lúc nào thế? Gió ngoài đường ray lạnh lắm, sao không quàng thêm chiếc khăn len?”
Quyên mỉm cười dịu dàng, đặt âu tích trà gừng xuống chiếc bàn gỗ kê cạnh đống phôi thép, rồi bước lại gần bên anh. Cô rút chiếc khăn tay mùi-xoa thêu hoa cúc trắng trong túi áo, nhẹ nhàng chấm những giọt mồ hôi còn đọng trên thái dương và gò má sạm nắng của anh:
“Em mang nước chè gừng ấm sang cho anh đây. Anh làm lụng gì mà thức trắng mấy đêm liền thế này? Mai là ngày trọng đại rồi, mặt mũi hốc hác thế kia, lát nữa bác Cả Thiện sang lại mắng cho đấy.”
Hoài An không nói, chỉ nhìn cô bằng ánh mắt chan chứa yêu thương. Anh đưa bàn tay chai sần nhưng ấm áp nắm lấy những ngón tay mềm mại của cô, khẽ kéo cô lại gần bàn máy tiện. Trên mặt kính phẳng dùng để kiểm tra độ đồng phẳng, hai chiếc nhẫn bằng bạc nguyên chất đang nằm ngay ngắn trên tấm nhung xanh.
Khác với đôi nhẫn đính hôn hôm ba mươi Tết được chế tác vội vã bằng bạc vụn, cặp nhẫn cưới chính thức này là một kiệt tác của nghệ thuật cơ khí chính xác và tâm hồn người thợ. Bề mặt nhẫn được đánh bóng bằng bột đá mịn và da thuộc, sáng loáng như gương, soi rõ từng sợi lông mi của Quyên. Nhưng điều kỳ diệu nhất nằm ở hoa văn được chạm khắc chìm chạy dọc theo thân nhẫn: một chuỗi những chiếc răng cưa cơ khí vi mô, đều đặn đến từng phần trăm milimet, đang lồng khít và uốn lượn nhịp nhàng theo một dải lụa mềm mại như sóng nước.
Hai biểu tượng tưởng chừng như đối nghịch – một bên là sắt thép khô khan, chuẩn xác của người thợ tiện, một bên là tơ lụa thướt tha, uyển chuyển của cô thợ may – nay đã hòa quyện vào nhau làm một, khăng khít không một kẽ hở.
“U Mùi cho anh đôi hoa tai bạc cũ của u từ ngày về làm dâu họ Đặng,” Hoài An trầm giọng, ngón tay khẽ miết lên mặt nhẫn bóng loáng, “Anh nấu chảy ra, lọc hết tạp chất rồi tự tay cán phôi, tiện ren và cạo rà thủ công từng zem một. Anh muốn chiếc nhẫn cưới của chúng mình phải là thứ kim loại bền bỉ nhất, chuẩn xác nhất. Giống như tình cảm của anh dành cho em vậy, dù cuộc đời có xoay vần, dẫu qua bao nhiêu giông bão thời cuộc, bánh răng này sẽ mãi mãi che chở và ôm ấp dải lụa của đời anh.”
Quyên nấc nghẹn một tiếng trong cổ họng. Lồng ngực cô phập phồng xúc động. Cô nhìn đôi bàn tay thợ tiện chai sần đầy những vết xước nhỏ li ti của anh – đôi bàn tay đã từng cứu sống đoàn tàu Thống Nhất trong đêm mưa bão, đôi bàn tay đã thức trắng bao đêm gánh vác nợ nần cùng cô, và giờ đây lại tỉ mỉ khắc từng đường nét tinh xảo để dâng tặng cô trọn vẹn một tấm chân tình.
“Anh đeo thử cho em xem có vừa không,” Hoài An khẽ nói, cẩn thận nâng chiếc nhẫn nhỏ hơn lên.
Anh cầm bàn tay trái của Quyên, nhẹ nhàng lồng chiếc nhẫn bạc vào ngón áp út. Chiếc nhẫn trượt qua khớp ngón tay một cách êm ái lạ thường, rồi ôm khít lấy ngón tay cô, không hề lỏng lẻo dù chỉ một phần mười milimet, cũng không hề gây một cảm giác gò bó chật chội. Đó là sự vừa vặn tuyệt đối của tình yêu, của sự thấu hiểu đã được thử thách qua lửa đỏ và bão giông.
“Vừa như in… không sai một ly nào,” Quyên mỉm cười qua làn nước mắt lấp lánh, ngắm nhìn vòng bạc sáng ngời trên tay mình. “Chiếc áo cưới của em cũng vừa vặn lắm, anh An ạ. Lát nữa em mặc thử, anh xem có đẹp không nhé.”
“Áo của cô thợ may giỏi nhất phố Khâm Thiên may thì làm sao mà không đẹp được,” Hoài An cười hiền hậu, ánh mắt ngập tràn niềm kiêu hãnh.
Đúng lúc ấy, ngoài ngõ đường ray bỗng vang lên tiếng hò reo rộn rã của đám thanh niên và tiếng cười nói râm ran của các bà, các cô trong xóm.
“Nào! Anh em ơi, ghé vai vào phụ một tay! Đẩy cái cột tre này sang bên phải một tí kẻo tàu qua nó quệt vào mái bạt!”
Tiếng bác Cả Thiện oang oang vang lên từ chiếc loa cầm tay bằng sắt tây cũ. Quyên và An cùng bước ra cửa xưởng nhìn sang.Cả xóm đường tàu Lê Duẩn – Khâm Thiên hôm nay như biến thành một ngày hội lớn. Khoảng đất trống chạy dọc theo mép đường ray đối diện cổng ga Hàng Cỏ – nơi mọi ngày vốn là bãi tập kết xỉ than và những thanh tà vẹt cũ – nay đã được dọn dẹp sạch bóng không còn một cọng rác. Đám thanh niên thợ tiện trẻ của xưởng Đặng gia cùng dân quân tự vệ khối phố đang hò dô kéo những thân tre ngà to bằng bắp chân dựng lên khung rạp cưới dã chiến. Mái rạp được căng bằng những tấm bạt dù màu xanh quân đội mượn từ kho của ngành đường sắt, che kín cả một khoảng không gian rộng lớn, đủ chỗ cho hàng trăm người dân xóm ga đến chung vui.
Ở phía cổng vào, một chiếc cổng cưới độc nhất vô nhị đang dần thành hình dưới bàn tay khéo léo của bà con lối xóm. Chị Bé Hai từ trong Nam không chỉ gửi ra tơ lụa mà còn gửi theo một bó bẹ dừa xiêm Bến Tre xanh ngắt cùng mấy buồng cau tươi rói trên chuyến tàu nhanh Bắc – Nam. Bác Cả Thiện dùng dao rựa tỉ mẩn rọc từng tàu dừa, uốn thành hình đôi chim bồ câu trắng muốt đang ngậm dải lụa hồng mềm mại. Hai bên cột cổng được kết bằng những cành đào bích Nhật Tân thắm đượm sắc xuân xen lẫn những nhành lá măng xanh rì. Trên vòm cổng, một dải băng rôn bằng vải đỏ thắm căng ngang, nổi bật dòng chữ cắt bằng xốp trắng rắc kim tuyến óng ánh: “CHÚC MỪNG HẠNH PHÚC HOÀI AN – THỤC QUYÊN”.
Xung quanh rạp, lũ trẻ con trong xóm, đứa nào đứa nấy mặc quần áo mới còn thơm mùi thuốc nhuộm, xúm xít quanh một bình khí nén để bơm những quả bóng bay xanh, đỏ, tím, vàng rực rỡ, rồi đem buộc thành từng chùm lúc lắt đung đưa dưới mái hiên.
Bà Mùi cùng mấy bà tiểu thương chợ Khâm Thiên đang ngồi quây quần bên góc sân xưởng cơ khí, thoăn thoắt têm trầu cánh phượng. Từng lá trầu không cay nồng được xé khéo léo, cài miếng cau tươi điểm thêm cánh hoa hồng đỏ chót trông như những cánh chim phượng hoàng chuẩn bị tung cánh bay lên. Mùi xôi gấc bốc lên nghi ngút từ chiếc chõ đồ xôi bằng đồng đặt trên bếp than tổ ong, nhuộm một màu đỏ son may mắn vào không gian ẩm ướt của ngày xuân.
“Bác Cả ơi! Tàu hàng số bốn chuẩn bị vào ghi đấy nhé!” Một anh công nhân đường sắt mặc áo gile phản quang chạy ngang qua hét to thông báo.
“Biết rồi! Cứ bảo chú lái tàu chạy chậm thôi, chuẩn bị bấm còi chúc mừng đám cưới thợ cơ khí xóm ga nhé!” Bác Cả Thiện ngẩng đầu lên, quẹt mồ hôi trên trán cười sảng khoái.
Chỉ vài phút sau, một đầu máy hơi nước cũ kỹ kéo theo mười toa hàng từ từ trườn qua khúc cua Khâm Thiên. Bánh sắt nghiến trên đường ray ken két, hơi nước xả phì phì trắng xóa hai bên sườn máy. Nhìn thấy chiếc rạp cưới rực rỡ và cổng hoa lá dừa bên mép ray, người lái tàu thò đầu ra ngoài cửa kính buồng lái, nở một nụ cười rạng rỡ rồi giật mạnh dây còi:
“Tuuuuuuuuu… uuuuuuuu!”
Tiếng còi tàu rúc lên ba hồi dài giòn giã như một lời chào nồng nhiệt của những người thợ đường sắt gửi đến đôi bạn trẻ. Đám thanh niên dưới rạp cưới đồng loạt vẫy tay reo hò, còn lũ trẻ con thì nhảy cẫng lên vỗ tay bôm bốp. Khói than đá bay là đà qua mái bạt, quyện vào mùi trầm hương, mùi xôi gấc và hương hoa đào đầu xuân, tạo nên một phong vị xóm ga nồng đượm, ấm áp tình người mà không một khách sạn sang trọng nào của Hà Nội thời bấy giờ có thể có được.
Chiều muộn buông xuống. Mưa xuân ngớt dần, nhường chỗ cho một làn sương mỏng lãng đãng vương trên những mái ngói thâm nâu.
Trong căn gác xép của tiệm may nhỏ, Thục Quyên đứng trước tấm gương soi khung gỗ ố màu thời gian. Cô đã mặc xong chiếc áo dài cưới màu đỏ gạch.
Tà lụa tơ tằm ôm khít lấy thân hình mảnh mai, đường lượn eo thanh thoát tôn lên trọn vẹn nét duyên dáng, kín đáo của người thiếu nữ Hà thành. Nhành hoa đào phai thêu bên ngực trái nổi bật trên nền lụa đỏ trầm như một ngọn lửa nhỏ ấm áp sưởi ấm tâm hồn. Mái tóc đen dài óng ả được cô chải mượt mà, búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc kẹp đồi mồi giản dị, để lộ chiếc gáy trắng ngần và đôi hoa tai bằng ngọc trai nhỏ u Mùi vừa trao tặng ban chiều.
Quyên nhìn mình trong gương. Đôi má cô ửng hồng tự nhiên mà không cần đến phấn son đắt tiền của Thái Lan hay Liên Xô. Trong đôi mắt bồ câu từng một thời đượm buồn vì gánh nặng áo cơm, nay lấp lánh một niềm tin mãnh liệt vào tương lai, một sự thanh thản và kiêu hãnh của người con gái đã vượt qua muôn vàn thử thách bằng chính đôi bàn tay lao động chân chính của mình.
Có tiếng bước chân quen thuộc ngập ngừng bước lên từng bậc cầu thang gỗ.
Quyên quay lại. Hoài An đang đứng ở ngưỡng cửa. Anh đã tắm gội sạch sẽ, thay bộ âu phục màu ghi sáng phẳng phiu mà cô đã thức đêm may tặng anh tuần trước. Mái tóc đen cắt cao gọn gàng, khuôn mặt chữ điền cương trực rạng rỡ dưới ánh đèn điện vàng.
Khi ánh mắt anh chạm vào hình bóng cô trong tà áo dài cưới đỏ gạch, Hoài An bỗng đứng sững lại. Hơi thở anh nghẹn lại nơi lồng ngực, đôi mắt mở to ngỡ ngàng như thể trước mắt anh không phải là cô bạn thanh mai trúc mã quen thuộc từ thuở hoa gạo đỏ, mà là một nàng tiên giáng trần giữa căn gác nghèo xóm ga.
“Quyên…” Anh thốt lên thì thào, giọng nói run run vì xúc động. “Em… em đẹp quá. Đẹp hơn tất cả những gì anh từng tưởng tượng…”
Quyên e lệ cúi đầu, hai má càng đỏ rực như màu tà áo. Cô bước lại gần anh, đưa tay chỉnh lại ve áo âu phục cho ngay ngắn, khẽ thì thầm:
“Anh mặc bộ này vừa vặn lắm. Trông đĩnh đạc ra dáng chủ xưởng cơ khí lắm rồi đấy.”
Hoài An không kìm được lòng mình, anh đưa hai tay nhẹ nhàng ôm lấy bờ vai mềm mại của cô. Anh cúi xuống, ngửi thấy mùi hương bồ kết quen thuộc vương trên mái tóc cô quyện cùng hương tơ lụa mới thơm tho.
“Quyên này,” Hoài An nhìn sâu vào mắt cô, giọng nói trầm ấm mà đanh chắc như thép tôi, “Cảm ơn em… Cảm ơn em đã không buông xuôi trong những ngày bão táp tăm tối nhất. Cảm ơn em đã tin tưởng anh, đã cùng anh đi qua những đêm không ngủ bên bàn máy tiện. Ngày mai, trước mặt thầy u, trước mặt hương hồn mẹ em và toàn thể bà con lối xóm, anh sẽ chính thức đón em về làm vợ. Cả cuộc đời này, anh nguyện sẽ dùng đôi bàn tay này để che chở cho em và các em, để em không bao giờ phải rơi một giọt nước mắt tủi hờn nào nữa.”
Quyên tựa đầu vào lồng ngực vạm vỡ của anh, lắng nghe từng nhịp đập rộn ràng, mạnh mẽ của trái tim người thợ. Bàn tay cô khẽ chạm vào chiếc nhẫn cưới bạc trên ngón tay áp út của anh. Hai chiếc nhẫn chạm vào nhau, phát ra một tiếng kêu lách cách thật khẽ, thanh tao và bền vững.
“Em cũng cảm ơn anh, anh An,” cô nghẹn ngào nói, siết chặt lấy vạt áo anh. “Có anh bên cạnh, em không còn sợ bất cứ khó khăn nào nữa. Chúng mình sẽ cùng nhau giữ lấy ngọn lửa nghề của cha ông, cùng nhau nuôi dạy các em nên người…”
Đêm mùa xuân lắng dần trong tĩnh lặng. Xóm đường tàu chìm vào giấc ngủ yên bình hiếm có. Không còn tiếng cãi vã đòi nợ, không còn những bóng đen lén lút của bọn buôn lậu rình rập quanh các toa tàu. Chỉ còn lại ánh đèn ấm áp hắt ra từ những nếp nhà ngói nghiêng xô lệch và mùi thuốc pháo đón xuân còn vương vít trong từng ngõ nhỏ.
Đúng năm giờ sáng ngày hôm sau.
Khi màn sương sớm còn bảng lảng giăng mắc trên những mái tôn rỉ sét của ga Hàng Cỏ, một hồi còi báo động chuyển ghi bỗng vang lên từ phía phòng điều hành trung tâm. Tiếng loa phóng thanh của nhà ga rè rè phát đi bản tin đặc biệt:
“Thông báo! Đoàn tàu Thống Nhất đặc biệt mang ký hiệu TN-01, vận hành đầu máy diesel D9E số hiệu 234 vừa hoàn tất quy trình thử tải đường dài, đang tiến vào sân ga số một! Đề nghị các bộ phận kỹ thuật và điều độ chuẩn bị đón tàu!”
Tiếng bước chân rầm rập vang lên ngoài đường ray. Bác Cả Thiện trong bộ đồng phục hoa xa chỉnh tề, ngực đeo huy hiệu ba mươi năm tuổi nghề, hớt hải chạy sang đập rầm rầm vào cánh cửa sắt xưởng Đặng gia:
“Tấn ơi! An ơi! Quyên ơi! Mau ra sân ga xem này! Tàu về rồi! Đầu máy của thằng An về ga rồi!”
Hoài An và Thục Quyên vội vã chạy theo ông Tấn, bà Mùi và cả xóm ga túa ra phía thềm sân ga số một.
Dưới ánh đèn pha công suất lớn rực sáng xua tan màn sương sớm của đất trời Hà Nội, một cảnh tượng hùng tráng hiện ra trước mắt mọi người.
Đoàn tàu Thống Nhất Bắc – Nam lừng lững trườn vào sân ga. Dẫn đầu đoàn tàu không phải là những cỗ máy hơi nước cũ kỹ xả khói đen kịt của những năm tháng gian khó, mà là chiếc đầu máy diesel D9E hiện đại màu đỏ tươi xen lẫn sọc vàng kiêu hãnh. Đầu máy ấy vừa trải qua chuyến chạy thử nghiệm xuyên Việt ba nghìn cây số sau khi được thay thế toàn bộ cụm bạc lót và trục truyền động do chính tay Hoài An và xưởng cơ khí Đặng gia tiện gọt từ thanh thép C.F.I. huyền thoại.
Con tàu vận hành êm ru như lướt trên mặt nước. Không hề có một tiếng rít gằn của kim loại bị quá nhiệt, không một gợn rung lắc bất thường. Từng vòng bánh thép cuộn tròn uy dũng, chuẩn xác đến tuyệt đối, mang theo mồ hôi, trí tuệ và lòng tự trọng thiêng liêng của những người thợ Việt Nam thời kỳ Đổi Mới.
Nhưng điều khiến Thục Quyên và cả xóm ga sững sờ, xúc động đến rơi nước mắt chính là diện mạo của đoàn tàu sớm nay.
Phía trước mũi đầu máy D9E, một chiếc băng rôn lớn bằng vải lụa đỏ thắm viền tua rua vàng óng được căng trang trọng, nổi bật dòng chữ mạ vàng lấp lánh trong nắng sớm: “ĐOÀN TÀU THỐNG NHẤT – CHUYẾN TÀU HẠNH PHÚC MÙA XUÂN 1989”.
Dọc theo các khung cửa sổ của toa xe danh dự số một, những dải lụa đỏ gạch mềm mại – cùng màu với tà áo cưới của Thục Quyên – được kết thành những bông hoa rực rỡ đung đưa trong gió. Hàng chục kỹ sư, công nhân của Tổng cục Đường sắt và ban giám đốc xí nghiệp đầu máy đứng dọc hai bên thềm ga, tay cầm cờ hoa vẫy chào rộn rã.
Cửa buồng lái bật mở. Vị trưởng đoàn tàu bước xuống thềm ga, bước nhanh về phía Hoài An và Thục Quyên đang đứng cạnh nhau bên dải đường ray. Ông mỉm cười rạng rỡ, giơ tay chào theo nghi thức ngành hỏa xa rồi cất giọng dõng dạc:
“Báo cáo đồng chí thợ cả Đặng Hoài An! Toàn bộ cụm chi tiết máy của xưởng Đặng gia đã vượt qua mười nghìn giờ thử tải khắc nghiệt nhất, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hành trình Bắc – Nam! Theo quyết định đặc cách của Tổng cục Đường sắt, đoàn tàu Thống Nhất D9E hôm nay sẽ vinh dự trở thành toa xe rước dâu chính thức để đưa chú rể Hoài An và cô dâu Thục Quyên làm lễ thành hôn bên thềm ga Hàng Cỏ!”
Một tràng pháo tay sấm sét bùng nổ, vang dội khắp sân ga lịch sử. Tiếng hoan hô của công nhân đường sắt, tiếng reo vui của bà con phố Khâm Thiên và tiếng cười giòn giã của bác Cả Thiện hòa vào nhau làm rung chuyển cả bầu không khí buổi sớm mai.
Hoài An quay sang nhìn Thục Quyên. Tà áo dài cưới màu đỏ gạch của cô bay nhẹ trong ngọn gió xuân lộng lẫy, chiếc nhẫn bạc trên tay cô ánh lên một vầng sáng ấm áp kỳ diệu. Quyên nghẹn ngào siết chặt lấy bàn tay anh, ánh mắt long lanh nhìn con tàu Thống Nhất sừng sững trước mặt.
Con tàu ấy chở theo thành quả lao động chân chính của đời anh, chở theo ước mơ hồi sinh tiệm may của đời cô, và giờ đây, nó đang kiêu hãnh gióng lên những hồi còi giòn giã, sẵn sàng cho một chuyến khởi hành chưa từng có trong lịch sử ga Hàng Cỏ – chuyến tàu chở tình yêu và hạnh phúc lứa đôi cập bến bình minh rạng rỡ của một kỷ nguyên mới.