Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 18: Bên mâm cơm tất niên

Mưa bụi giăng một màn sương mỏng manh như tơ trời lên khắp các mái ngói xô nghiêng của phố Khâm Thiên và xóm đường tàu Lê Duẩn. Chiều ba mươi Tết năm Kỷ Tỵ gõ cửa Hà Nội bằng cái rét ngọt ngào ngấm vào da thịt, nhưng không còn cái buốt giá cắt da, tê tái của những ngày đông ảm đạm vừa qua. Trong không gian bảng lảng khói sương, xóm ga Hàng Cỏ như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài gian nan, khoác lên mình chiếc áo mới rực rỡ sắc màu. Dọc theo lối đi lát đá dăm gồ ghề sát mép đường ray, những cành đào bích Nhật Tân thắm đỏ cắm trong chiếc lọ gốm da lươn cũ kỹ, những câu đối đỏ viết bằng mực tàu thơm nồng mùi giấy điệp phấp phới bên khung cửa gỗ liếp.

Đặng Hoài An đứng trước thềm xưởng cơ khí Đặng gia, trên tay cầm chiếc giẻ lau tẩm dầu hỏa cẩn thận lau sạch bụi bặm bám trên bệ máy tiện Tiệp Khắc. Thân máy bằng thép đúc màu xanh ô liu trầm mặc, các bánh răng ăn khớp bóng loáng và trục quay đã được anh tra mỡ bò cẩn thận, trùm lên tấm bạt bọc dù phẳng phiu để cho nó nghỉ ngơi sau chuỗi ngày gồng mình vận hành hết công suất.

Mùi dầu máy thân thuộc quyện vào mùi khói than đá nồng đượm, hòa cùng mùi lá dong luộc bốc lên nghi ngút từ chiếc nồi luộc bánh chưng dã chiến kê bằng mấy thanh tà vẹt gang xỉ nằm ngay trước cửa xưởng. Ngọn lửa than quả bàng reo tí tách, phả ra hơi ấm hừng hực xua tan đi cái lạnh se sắt của buổi chiều cuối năm.

“Anh An ơi! Anh xem này, chân em nhảy lò cò được rồi nhé!”

Tiếng cười trong veo của bé Toàn vang lên giòn tan bên mép đường tàu. Thằng bé mặc chiếc áo len cổ lọ màu mỡ gà mới tinh, hai má phúng phính đỏ ửng vì gió lạnh, đang thoăn thoắt nhảy chân sáo qua từng thanh tà vẹt gỗ. Không còn chiếc nạng gỗ xộc xệch, không còn những bước đi khập khiễng nhọc nhằn ghim vào lòng người ta nỗi xót xa, cẳng chân sau ca phẫu thuật tài hoa tại Viện Việt Đức nay đã hồi phục hoàn toàn, dẻo dai và vững chãi.

Hoài An buông chiếc giẻ lau, đưa tay quệt vệt dầu mỡ trên trán rồi bật cười rạng rỡ, bước nhanh tới đỡ lấy thằng bé khi nó lao vào lòng anh:

“Nhảy giỏi lắm, nhưng phải nhìn chừng đá ba-lát dưới chân kẻo vấp đấy nhé, chú bé con. Chiều nay không phải phụ chị Hiền nhặt hành nữa à?”

“Em nhặt xong cả một rổ to tướng rồi anh ạ! Chị Hiền bảo hôm nay em là người lớn, được cử sang canh nồi bánh chưng với anh cơ!” Toàn ngửa khuôn mặt sáng ngời nhìn Hoài An, hai mắt lấp lánh như hai vì sao nhỏ.

Ở góc sân trước xưởng, bà Trương Thị Mùi cùng mấy bà, mấy chị phụ nữ trong xóm ga đang tất bật bên mâm cỗ tất niên chung của xóm. Tiếng dao thớt lách cách vui tai, tiếng mỡ lợn phi hành hoa thơm nức mũi lan tỏa khắp con ngõ nhỏ. Năm nay là một năm kỳ lạ với người dân xóm đường tàu. Sự chuyển mình của thời cuộc sau Đại hội Đổi Mới đã bắt đầu nảy mầm trong từng ngõ ngách đời sống: không còn cảnh chen chúc nơm nớp cầm cuốn sổ gạo rách mép đứng xếp hàng từ bốn giờ sáng ở cửa hàng mậu dịch, người ta đã có thể tự tay mua được miếng thịt mông sấn tươi rói, con gà mái tơ béo vàng và mớ nếp cái hoa vàng mẩy tròn ngoài chợ tự do bằng chính những đồng tiền mồ hôi nước mắt làm ra từ sức lao động của mình.

Bà Mùi mặc chiếc áo bông màu tím than, lưng còng lom khom cẩn thận vớt từng chiếc bánh chưng xanh ngắt ra khỏi nồi than đá, thả ngay vào chậu nước mưa lạnh để rửa sạch lớp nhựa ngoài lá dong. Nụ cười phúc hậu nở bừng trên gương mặt in hằn những vết chân chim của người mẹ tần tảo:

“Thằng An này, lau máy móc xong xuôi thì vào rửa tay chân cho sạch sẽ rồi phụ thầy mổ nốt con gà thiến. Chiều nay xóm mình ăn bữa cơm tất niên sớm, để lát nữa còn lo việc đại sự bên nhà cô Quyên đấy con nhé!”

“Vâng, con xong ngay đây u ạ,” Hoài An khẽ đáp, giọng anh trầm ấm nhưng không giấu nổi một nhịp đập rộn ràng nơi lồng ngực.

Bàn tay chai sần của anh bất giác lần vào túi trong của chiếc áo chần bông. Chiếc hộp nhung đỏ thẫm vẫn nằm im lìm ở đó, sát cạnh trái tim anh, phập phồng theo từng nhịp thở hồi hộp.

Bên chiếc bàn gỗ dài được ghép lại từ ba chiếc bàn học sinh cũ kê dọc mép hiên xóm ga, mâm cơm tất niên thịnh soạn mang đậm phong vị cổ truyền của đất Tràng An dần dần được bày biện tươm tất. Đó là sự chung tay thơm thảo của từng nếp nhà xóm thợ: bát canh bóng bì lợn nấu nấm hương, mọc giò và bóng bì lợn ngâm nước gừng thơm ngát; bát măng khô hầm móng giò béo ngậy vàng óng; đĩa dưa hành nén giòn tan điểm mấy lát ớt đỏ cay nồng; đĩa thịt đông trong suốt như thạch lấp lánh mộc nhĩ; khoanh giò lụa trắng mịn như lụa nõn; và đĩa gà luộc vàng rộm rải lá chanh thái chỉ tơ như những sợi vàng ròng.

Bác Cả Thiện – người thợ già gác ghi sắp đến tuổi về hưu của ga Hàng Cỏ – hôm nay diện bộ đồng phục đại lễ ngành đường sắt phẳng phiu, cài chiếc huy hiệu Ba mươi năm cống hiến sáng loáng trước ngực. Bác cầm chiếc bình sứ đựng rượu nếp cái hoa vàng Làng Vân thơm lừng, rót đầy vào từng chiếc chén hoa hồng nhỏ xíu đặt trên mâm.

“Nào, ông Tấn, Hoài An! Cả bà Mùi và các cô, các cháu xóm ga nữa, mau lại đây quây quần cho ấm!” Bác Cả Thiện cất giọng hào sảng, xua tan đi màn sương lạnh đang bảng lảng lướt qua đường ray. “Hôm nay là chiều ba mươi Tết, cả năm trời xóm đường tàu chúng ta oằn mình chống chọi với gian nan, đi qua bao cơn bão dập sóng dồi. Bát cơm này, chén rượu này là để mừng cho đất nước đổi mới, mừng cho xóm ga tai qua nạn khỏi, và mừng cho hai xưởng nghề của hai đứa trẻ xóm mình đã đứng vững hiên ngang!”

Ông Đặng Văn Tấn bước ra từ gian nhà trong, chân vẫn đi tập tễnh nhưng dáng đi khoan thai, đĩnh đạc lạ thường. Ông mặc chiếc áo đại hàn dạ cũ thời chiến trường nhưng được giặt ủi sạch sẽ, mái tóc hoa râm chải gọn gàng để lộ vầng trán cương nghị. Ông bước đến bên cạnh Hoài An, đặt bàn tay rắn rỏi như gọng kìm lên vai con trai, siết nhẹ:

“Cả Thiện nói đúng đấy. Một năm qua, chúng ta đã giữ trọn vẹn được cái đạo đức của người thợ tiện, không làm ô danh thanh thép đường sắt. Nay nhìn thấy máy móc xưởng nhà chạy êm, con cái trưởng thành, lòng tôi mới thực sự thanh thản để đón một mùa xuân trọn vẹn.”

Mọi người cùng ngồi quây quần bên mâm cơm tất niên ấm cúng. Tiếng chạm chén lanh canh hòa cùng tiếng cười nói rôm rả. Miếng bánh chưng dẻo quánh thơm mùi đỗ xanh và tiêu sọ quyện cùng vị cay nồng của dưa hành nén, làm bừng lên hơi ấm tình làng nghĩa xóm trong buổi chiều cuối năm. Những người công nhân đường sắt, những chị tiểu thương gánh gồng, những đứa trẻ xóm ga nghèo khó... tất cả nhìn nhau bằng ánh mắt chan chứa niềm tin yêu và hy vọng. Cái bóng đen của nạn đói, của sự bức bách vì hàng gian, hàng lậu và những mưu mô hiểm độc của phường buôn chuyến như Quốc Bách đã hoàn toàn lùi xa sau cánh cửa nhà giam Hỏa Lò. Giờ đây, chỉ còn lại những giọt mồ hôi lương thiện và thành quả ngọt ngào từ bàn tay khối óc của chính họ.

Khi bữa cơm tất niên xóm thợ dần tàn, màn sương chiều buông xuống dày hơn, nhuộm tím sẫm cả khoảng trời phía trên nóc ga Hàng Cỏ. Ngọn đèn đường màu vàng vọt trên cột sắt đầu ngõ bật sáng, hắt những tia sáng ấm áp xuống dải đường ray sắt lạnh.

Bà Mùi buông đũa, khẽ giục:

“Kìa ông Tấn, bác Cả Thiện ơi! Đã bốn giờ chiều rồi đấy, mau chuẩn bị lễ vật sang bên nhà cô Quyên thôi, kẻo lỡ mất giờ lành trước lúc giao thừa!”

Cả gian nhà bỗng chốc lắng lại trong một bầu không khí trang nghiêm nhưng đong đầy rạo rực.

Ông Tấn đứng dậy, chỉnh lại cổ áo đại hàn, bước tới chiếc tủ thờ gia tiên bằng gỗ gụ. Trên mặt tủ, một chiếc khay đồng cổ phủ tấm khăn điều đỏ thắm đã được chuẩn bị tươm tất từ sớm tinh sương. Khi tấm khăn điều được mở ra, tất cả mọi người trong xóm ga đều phải trầm trồ thán phục.

Đó là một cơi trầu têm cánh phượng tinh xảo đến từng đường nét do chính tay bà Mùi tỉ mẩn ngồi têm suốt buổi sáng. Từng lá trầu không xanh mướt, bóng bẩy được uốn cong khéo léo như cánh chim phượng hoàng đang vỗ cánh bay lên, điểm xuyết miếng cau tươi bổ sáu hạt mẩy tròn, kẹp thêm miếng vỏ chay đỏ thắm và chút vôi trắng nồng nàn. Cạnh cơi trầu phượng là một phong bánh cốm Hàng Than bọc giấy bóng kính đỏ chót thắt lạt hồng điều óng ả, thoang thoảng hương thơm thanh khiết của cốm non và đậu xanh ngào đường; một cặp chai rượu nếp hoa vàng nút lá chuối khô; và một quả đào bích phai hé nụ e ấp đặt ngay ngắn trên đĩa men lam.

Lễ vật dẫu không mâm cao cỗ đầy xa hoa như những gia đình giàu xổi buôn chuyến, nhưng lại đượm trọn cốt cách thanh lịch, nề nếp gia phong và sự trân trọng tối thượng của người Tràng An dành cho người con gái mà họ muốn rước về làm dâu hiền.

Bác Cả Thiện trịnh trọng bưng chiếc cơi trầu phủ lụa điều lên hai tay, quay sang nhìn Hoài An mỉm cười hóm hỉnh:

“Nào, chú rể tương lai của xóm ga! Đã sẵn sàng bước qua dải ray xe lửa sang ngõ Khâm Thiên rước dâu hiền về cho Đặng gia chưa?”

Hoài An khẽ đỏ mặt, nhưng ánh mắt anh sáng bừng một niềm kiêu hãnh và hạnh phúc khôn tả. Anh mặc chiếc quần âu màu cỏ úa và chiếc áo sơ mi trắng tinh bên trong chiếc áo khoác kaki phẳng phiu – bộ cánh đẹp nhất mà anh gìn giữ suốt bao năm chỉ dành cho những dịp trọng đại nhất cuộc đời.

“Dạ, con sẵn sàng rồi bác Cả, thưa thầy u!” Hoài An dõng dạc thưa, giọng anh run run vì xúc động.

Đoàn dạm ngõ đặc biệt của xóm thợ đường tàu bắt đầu cất bước. Dẫn đầu là bác Cả Thiện trong tư cách người chủ hôn, trưởng tộc của xóm ga; tiếp theo là ông Tấn đĩnh đạc và bà Mùi tươi tắn bưng khay bánh cốm Hàng Than; theo sau là Hoài An cùng đông đảo bà con chòm xóm và hai đứa nhỏ Hiền, Toàn ríu rít xách theo cành đào bích.

Từng bước chân của Hoài An nện nhẹ trên mặt đá ba-lát và những thanh tà vẹt sắt quen thuộc. Anh nhìn dải đường ray kéo dài hun hút về phương Nam, rồi nhìn sang con ngõ Khâm Thiên trước mặt. Nơi đây, chỉ mới mấy tháng trước thôi, từng là chiến trường nghiệt ngã của những mưu toan ép nợ, siết đồ; nơi anh từng thức trắng những đêm đông buốt giá bên ánh đèn hàn để giành giật từng phần trăm milimet danh dự cho xưởng máy; nơi Thục Quyên từng rơi những giọt nước mắt cạn cùng trong căn gác xép tối tăm để che chở cho hai đứa em thơ.

Và giờ đây, cũng chính trên dải ray này, con đường hạnh phúc đã mở ra thênh thang, rải đầy xác pháo hồng và hương hoa xuân ấm áp.

Đến trước cửa tiệm may "Quyên Thục", mùi trầm hương thơm ngát tỏa ra từ khe cửa liếp gỗ quyện cùng hương vải mới khiến lòng người ngây ngất. Tấm biển hiệu bằng gỗ gụ khắc dòng chữ mạ nhũ vàng "Tiệm may Quyên Thục - Chuyên áo dài cổ truyền và tân thời" sáng lấp lánh dưới ánh đèn lồng đỏ treo trước mái hiên.

Bác Cả Thiện hắng giọng một tiếng vang ấm, rồi đưa tay gõ nhẹ lên cánh cửa gỗ:

“Chủ nhà ơi! Khách quý xóm đường tàu mang sính lễ sang dạm ngõ đây!”

Cánh cửa gỗ từ từ mở ra.

Thục Quyên đứng sững nơi bậu cửa, đôi mắt bồ câu tròn xoe ngỡ ngàng rồi ngập tràn một niềm xúc động nghẹn ngào.

Chiều nay, cô không mặc chiếc áo lao động lấm lem bụi vải hay chiếc áo len giản dị thường ngày. Quyên diện một chiếc áo dài tân thời chiết eo màu cánh sen nhạt bằng chất liệu lụa tơ tằm Nam Bộ – chính là mẫu áo dài cách tân mà cô đã dồn hết tâm huyết sáng tạo nên. Tà áo mềm mại rủ xuống thướt tha theo từng nhịp thở, tôn lên vòng eo thon thả và nét đoan trang, đài các của người con gái Hà thành. Mái tóc đen nhánh của cô được vấn gọn gàng sau gáy bằng chiếc cặp đồi mồi, để lộ chiếc cổ cao thanh tú và đôi bờ vai mảnh mai.

Đứng sau lưng cô, bé Hiền mỉm cười rạng rỡ, hai tay bưng khay nước chè xanh nóng hổi khói bay nghi ngút.

“Kìa con bé này, mừng quá mà hóa ngơ ngẩn rồi à?” Bà Mùi cười hiền hậu, bước tới nắm lấy bàn tay mềm mại nhưng hơi lạnh của Quyên, “Mau mời bác Cả và mọi người vào nhà đi con!”

“Dạ… con… con kính mời thầy u, mời bác Cả và bà con vào nhà ạ!” Quyên bừng tỉnh, giọng run run, đôi má ửng đỏ như cánh hoa đào đầu mùa.

Căn nhà nhỏ của tiệm may ngõ Khâm Thiên chiều ba mươi Tết được dọn dẹp phong quang, sạch sẽ tinh tươm. Ba chiếc máy may Liên Xô bóng loáng được kê gọn gàng bên góc tường, phủ khăn thêu hoa cẩn thận. Bàn thờ gia tiên nghi ngút khói trầm hương thơm ngát, mâm ngũ quả sum suê và bức di ảnh của người mẹ quá cố như đang mỉm cười ấm áp nhìn xuống bầy con.

Mọi người an tọa quanh chiếc bàn trà bằng gỗ xoan đào. Bác Cả Thiện trịnh trọng đặt cơi trầu têm cánh phượng và khay bánh cốm Hàng Than lên chính giữa chiếc bàn gỗ, rồi đứng dậy, hai tay chắp trước ngực, giọng nói dõng dạc và truyền cảm vang vọng khắp căn phòng:

“Thưa hương linh bà giáo Nguyễn, thưa hai bên gia đình và toàn thể bà con lối xóm! Hôm nay là chiều ba mươi Tết năm Kỷ Tỵ, thời khắc chuyển giao thiêng liêng của đất trời, xóm ga Hàng Cỏ chúng tôi vô cùng vinh hạnh được thay mặt cho gia đình ông Đặng Văn Tấn và bà Trương Thị Mùi, mang cơi trầu têm cánh phượng cùng phong bánh cốm Hàng Than sang trước bàn thờ gia tiên họ Nguyễn, chính thức có lời dạm ngõ cháu Nguyễn Thục Quyên cho cháu Đặng Hoài An!”

Tiếng vỗ tay rào rào của bà con lối xóm vang lên giòn giã. Bác Cả Thiện dừng lại một nhịp, ánh mắt trìu mến nhìn luân phiên giữa Hoài An và Thục Quyên:

“Bà con xóm ga chúng tôi đã chứng kiến hai đứa trẻ này lớn lên từ những ngày hoa gạo đỏ rực bên đường tàu. Chúng nó đã cùng nhau đi qua những năm tháng bao cấp đói nghèo, cùng nhau đối mặt với những biến cố nghiệt ngã nhất của cuộc đời. Thằng An là một người thợ tiện có đôi bàn tay vàng và một tấm lòng trong sạch như thép đã tôi qua lửa đỏ; còn con Quyên là một cô thợ may tài hoa, nết na, hiếu thảo và giàu lòng tự trọng. Bằng chính mồ hôi, nước mắt và đạo đức lao động chân chính, chúng nó đã vực dậy xưởng tiện Đặng gia, chấn hưng tiệm may Khâm Thiên, bảo bọc cho các em khôn lớn và trả sạch nợ nần một cách hiên ngang, đàng hoàng!”Bác Cả Thiện nghẹn ngào, giọng bác trầm xuống đầy xúc động:

“Hôm nay, trước bàn thờ mẹ của cháu Quyên và trước sự chứng kiến của chính quyền cùng bà con lối xóm, chúng tôi xin trao trầu cau này, mong cháu Quyên thuận lòng kết tóc xe tơ cùng cháu An, để hai mái nhà xóm thợ hòa làm một, cùng nhau xây đắp một tương lai no ấm, hạnh phúc bên cạnh tiếng còi tàu thân thương của quê hương!”

Ông Tấn đứng dậy, bước tới trước bàn thờ mẹ Quyên, thắp ba nén nhang thơm rồi c*m v** bát hương đồng. Người thợ già từng trải qua bao mưa bom bão đạn chiến trường khẽ cúi đầu, giọng trầm hùng nhưng rưng rưng:

“Chị giáo ở dưới suối vàng hãy yên lòng. Thằng An nhà tôi tuy vụng đường ăn nói, nhưng nó là đứa sống có trước có sau, một lòng một dạ thương con Quyên. Gia đình tôi xin thề trước anh linh chị, sẽ coi con Quyên như con gái ruột thịt trong nhà, cùng nó chăm lo cho hai cháu Hiền và Toàn ăn học thành tài, không để đứa nào phải chịu một ngày thiệt thòi, cơ cực!”

Bà Mùi mắt hoe đỏ, đưa tay chấm nước mắt hạnh phúc, khẽ kéo Quyên lại gần bàn thờ:

“Quyên à, con thắp nhang tạ ơn mẹ đi con.”

Thục Quyên run rẩy đón nén nhang từ tay bà Mùi. Những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu nay bỗng trào ra lăn dài trên gò má ửng hồng. Đó không phải là những giọt nước mắt tủi nhục, đắng cay của những đêm thức trắng may đồ trả nợ lãi, mà là những giọt nước mắt hạnh phúc vỡ òa của một tâm hồn đã được chữa lành trọn vẹn sau muôn vàn giông bão.

Cô quỳ xuống trước bàn thờ mẹ, lạy ba lạy tạ ơn sinh thành dưỡng dục:

“Mẹ ơi… con gái mẹ đã trả hết nợ rồi, chân bé Toàn đã khỏi hẳn rồi mẹ ạ… Hôm nay, thầy u và anh An sang dạm ngõ con… Mẹ ở trên cao hãy mỉm cười phù hộ cho chúng con…”

Hoài An lặng lẽ bước tới bên cạnh cô. Anh cũng quỳ xuống chiếc chiếu cói hoa, cùng cô dập đầu trước bàn thờ mẹ. Bờ vai rộng vững chãi của anh kề sát bên bờ vai mảnh mai của cô gái, như một lời khẳng định thầm lặng rằng từ nay về sau, giông gió cuộc đời sẽ có anh đứng ra che chắn.

Khi cả hai đứng dậy, không khí trong căn phòng ngập tràn sự thiêng liêng và ấm áp lạ kỳ.

Bác Cả Thiện mỉm cười gật đầu, đưa mắt ra hiệu cho Hoài An:

“Nào, Hoài An! Lời hẹn ước chiều ba mươi Tết của anh thợ tiện với cô thợ may, bây giờ không thực hiện thì còn đợi đến lúc nào nữa?”

Mọi ánh mắt trong phòng lập tức đổ dồn về phía Hoài An. Bé Hiền và bé Toàn nắm chặt tay nhau, mắt tròn xoe chờ đợi.

Hoài An hít một hơi thật sâu để nén lại nhịp đập rộn rã trong lồng ngực. Anh đưa tay vào túi áo trong, cẩn thận rút chiếc hộp nhung đỏ thẫm mà anh đã trao cho Quyên đêm trước ra đặt vào lòng bàn tay.

Dưới ánh đèn điện vàng ấm áp và ánh nến lung linh trên bàn thờ, ngón tay chai sần đầy những vết sẹo mạt sắt của người thợ tiện khẽ bật mở chiếc chốt mạ đồng nhỏ xíu.

Nắp hộp nhung đỏ bật mở.

Cả căn phòng bỗng ồ lên một tiếng trầm trồ đầy thán phục.

Bên trong lớp nhung đỏ mịn màng không phải là những món trang sức vàng ngọc mua vội ở tiệm kim hoàn Hàng Bạc, mà là một cặp nhẫn cưới bằng bạc sáng loáng, lấp lánh những ánh quang tinh xảo lạ thường.

Đó là một tác phẩm cơ khí đỉnh cao kết hợp với mỹ thuật truyền thống do chính tay Đặng Hoài An miệt mài thức trắng bao đêm bên chiếc máy tiện để chế tác. Thân nhẫn tròn trịa, nhẵn thín đến độ bóng gương hoàn hảo không một vết gợn dung sai. Nhưng điều kỳ diệu nhất nằm ở bề mặt chiếc nhẫn: bằng kỹ thuật tiện ren siêu vi và bàn tay cạo rà thủ công bậc thầy, Hoài An đã chạm khắc chìm vào thân nhẫn hình ảnh một bánh răng cơ khí góc cạnh, dũng mãnh đan lồng khít khao vào một dải lụa mềm mại, uốn lượn thướt tha.

Bánh răng của người thợ cơ khí và dải lụa của cô thợ may.

Cái cứng cỏi, kiên cường của thép gai góc hòa quyện trọn vẹn vào nét dịu dàng, thanh khiết của lụa tơ tằm. Hai tâm hồn, hai cuộc đời, hai nghề nghiệp cần lao đã gắn kết làm một, không thể tách rời.

“Trời đất ơi… đẹp quá!” Chị thợ may phụ trong xóm không kìm được tiếng xuýt xoa. “Chưa bao giờ tôi thấy đôi nhẫn nào tinh xảo và ý nghĩa đến thế này!”

Hoài An nhìn sâu vào đôi mắt bồ câu đẫm lệ của Thục Quyên. Giọng anh trầm ấm, chân thành, từng lời từng chữ như khắc tạc vào không gian chiều cuối năm:

“Quyên à… Đôi nhẫn này không đúc bằng vàng ròng bạc ngọc mua bằng tiền bạc buôn chuyến. Nó được tiện ra từ khối bạc nguyên chất bằng chính đôi bàn tay lao động của anh, bằng tất cả mồ hôi và lòng tự trọng của một người thợ đường sắt. Bánh răng này là anh – là xưởng máy Đặng gia; còn dải lụa mềm mại này là em – là tiệm may Khâm Thiên. Bánh răng sẽ mãi mãi che chở, nâng niu dải lụa; và dải lụa sẽ mãi mãi quấn quýt, làm dịu đi những góc cạnh nhọc nhằn của bánh răng.”

Anh nhẹ nhàng nâng bàn tay trái của Thục Quyên lên. Bàn tay cô nhỏ nhắn, ngón tay thon dài của người thợ may khẽ run rẩy trong lòng tay anh.

“Chiều nay, trước sự chứng kiến của cha mẹ hai bên, của hương linh mẹ em và toàn thể bà con xóm ga… em có đồng ý nhận chiếc nhẫn này, để cùng anh đi hết cuộc đời này không, Quyên?”

Thục Quyên nhìn đôi nhẫn bạc lấp lánh, rồi ngước nhìn khuôn mặt phong trần, ánh mắt sáng ngời cương trực và tràn ngập tình yêu thương bao la của Hoài An. Ký ức về những ngày đông tăm tối nhất bỗng ùa về: ngày cô bị chủ nợ vây ráp, ngày chiếc máy may con bướm suýt bị cướp đi, ngày anh xông vào gánh nợ thay cô, ngày anh thức trắng đêm cứu đoàn tàu giữa mưa bão... Trong mọi khoảnh khắc ngặt nghèo nhất, người đàn ông này luôn là bức tường thành vững chãi nhất che chở cho cô và các em.

Một nụ cười rạng rỡ bừng nở trên môi Thục Quyên giữa hai hàng nước mắt hạnh phúc. Cô khẽ gật đầu, giọng nói nghẹn ngào nhưng đanh chắc như một lời thề son sắt:

“Em đồng ý, anh An… Cả đời này, em chỉ nguyện làm dải lụa mềm mại bên cạnh bánh răng của anh thôi!”

Hoài An xúc động run run, cẩn thận lồng chiếc nhẫn bạc có khắc hình dải lụa vào ngón tay áp út của Thục Quyên. Chiếc nhẫn vừa vặn tuyệt đối, ôm khít lấy ngón tay cô như thể nó sinh ra chỉ để dành riêng cho bàn tay ấy. Rồi Quyên cũng run rẩy cầm lấy chiếc nhẫn còn lại, đeo vào ngón tay áp út chai sần của Hoài An.

Hai bàn tay đan chặt vào nhau. Kim loại chạm vào da thịt, truyền sang nhau hơi ấm nồng nàn của tình yêu và niềm tin bất diệt.

Tiếng vỗ tay rộn rã của bà con xóm ga bùng nổ, vang lừng khắp con ngõ Khâm Thiên. Bé Toàn reo lên sung sướng, nhảy cẫng lên ôm chầm lấy chân anh An, còn bé Hiền thì ôm lấy chị gái, nước mắt ngắn dài mừng cho ngày vui của chị. Bà Mùi lau nước mắt, cười rạng rỡ bên cạnh ông Tấn đang khẽ mỉm cười mãn nguyện. Bác Cả Thiện nâng chén rượu Làng Vân lên cao, uống cạn một hơi trong tiếng hoan hô rộn rã của cả xóm nghèo.

Buổi lễ dạm ngõ kết thúc trong sự hân hoan tột cùng. Đêm giao thừa buông xuống thật êm đềm trên đất Hà thành.

Mưa xuân bắt đầu lất phất bay, giăng mắc những hạt bụi nước li ti trên những cành đào đang hé nụ trước hiên nhà. Khắp xóm ga Hàng Cỏ và phố Khâm Thiên, mùi thuốc pháo Bình Đà bắt đầu thoang thoảng nồng nồng trong gió lạnh, báo hiệu thời khắc thiêng liêng nhất của một năm đang đến rất gần. Những ngọn đèn dầu, đèn điện trong từng nếp nhà xóm đường tàu đều được thắp sáng trưng. Người ta mở toang cửa đón gió xuân, không còn ai phải đóng chặt then cài vì sợ những lời đe dọa đòi nợ hay những toan tính chụp giật của bóng tối.

Hoài An và Thục Quyên sánh bước bên nhau, chậm rãi bước dọc theo dải đường ray sắt dẫn về thềm xưởng cơ khí Đặng gia. Hai bàn tay họ vẫn đan chặt vào nhau, chiếc nhẫn bạc trên tay hai người lấp lánh phản chiếu ánh đèn lồng đỏ treo dọc mái hiên.

“Em có lạnh không?” Hoài An khẽ hỏi, kéo tà áo chần bông che bớt gió cho cô.

“Có anh ở bên cạnh, em không thấy lạnh chút nào nữa,” Quyên khẽ mỉm cười, tựa đầu vào bờ vai vững chãi của anh, hít hà mùi dầu máy và mùi hương bồ kết thân thương. “Anh An này, qua Tết, tiệm may của em sẽ may một bộ áo dài thật đẹp để tặng u Mùi, và may cho thầy một bộ âu phục mới tinh nhé.”

“Được chứ, u Mùi chắc chắn sẽ thích lắm,” Hoài An mỉm cười, ánh mắt nhìn về phía xưởng tiện ngập tràn ánh lửa ấm áp, “Còn anh, anh sẽ cùng thợ trong xưởng hoàn thành thật tốt lô bạc trục cho các đoàn tàu Thống Nhất. Đất nước đổi mới rồi, đường tàu nối liền Nam Bắc sẽ chạy nhanh hơn, an toàn hơn, chở theo bao nhiêu niềm vui của người lao động mình.”

Đúng mười hai giờ đêm.

Thời khắc chuyển giao giữa năm cũ Mậu Thìn và năm mới Kỷ Tỵ chính thức điểm.

Từ các nếp nhà dọc phố Khâm Thiên, tiếng phong pháo tép bắt đầu nổ lách tách, đì đẹt rồi rộ lên giòn giã như ngô rang. Xác pháo đỏ hồng bay lả tả trong màn mưa xuân lất phất, rải một thảm hoa rực rỡ lên khắp mặt đất và những thanh tà vẹt xám xịt của đường tàu. Mùi thuốc pháo thơm nồng quyện vào mùi trầm hương bảng lảng, tạo nên một không khí Tết thiêng liêng, nồng đượm tình người.

Và ngay giữa thời khắc giao thừa linh thiêng ấy, từ phía xa xăm của sân ga Hàng Cỏ, một âm thanh hùng tráng, ngân vang bỗng xé toạc màn sương đêm tĩnh lặng.

“Tuuuuuuuuu… uuuuuuuu… uuuuuuuu!”

Tiếng còi tàu hơi nước của đoàn tàu Thống Nhất Bắc – Nam rúc lên từng hồi dài giòn giã, dõng dạc và kiêu hãnh. Tiếng còi tàu như một bản hùng ca của đất trời, xua tan đi tất cả những nhọc nhằn, cơ cực, những giọt nước mắt và bóng tối của một năm cũ đầy bão giông. Tiếng còi vang rền dội vào lòng đêm Hà Nội, rung chuyển từng thanh ray kim loại dưới chân họ, rung lên từng nhịp đập hân hoan trong lồng ngực của những con người lao động chân chính.

Đoàn tàu Thống Nhất chầm chậm lăn bánh vào ga, mang theo ánh đèn pha rực sáng xua tan bóng đêm, báo hiệu một mùa xuân Đổi Mới thực sự đã về gõ cửa từng nếp nhà nghèo xóm ga, mở ra một chân trời tương lai ngập tràn ánh nắng và hạnh phúc lứa đôi.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn