Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 17: Hương lụa phố Khâm Thiên

Đêm đông Hà Nội buốt như cứa vào da thịt, nhưng trong căn gác xép nhỏ ở con ngõ ngoằn ngoèo phố Khâm Thiên, không khí lại ấm sực bởi hơi thở của niềm hạnh phúc ngỡ như chỉ có trong những giấc chiêm bao.

Nguyễn Thục Quyên ngồi lặng bên chiếc bàn máy may con bướm đã tróc sơn vài chỗ. Ngọn đèn chữ U leo lét tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, soi rõ tờ giấy điện tín màu vàng nhạt được cô vuốt phẳng phiu, đặt trang trọng ngay cạnh chiếc kéo cắt vải cán đồng. Những ngón tay thon dài, vốn chai sần vì mũi kim và mép kéo suốt bao năm tháng nhọc nhằn, khẽ run rẩy lướt qua từng con chữ in hoa không dấu:

“SAIGON NGAY 24 THANG 12 NAM 1988 — TIN DAI THANG ROI EM OI — TOAN BO 50 BO AO DAI LUA CACH TAN DUA VAO CHO BEN THANH DA DUOC BAN SACH TRONG DUNG MOT NGAY... DANG DAT THEM 100 BO CHO NGUOI TA DI CHOI TET... CHI DANG LEN TAU THONG NHAT RA BAC MANG THEO TOAN BO TIEN HANG VA TIEN THUONG HAU HINH CHO EM... CHI BE HAI.”

Quyên khép hờ mi mắt, để mặc hai giọt nước mắt ấm nóng lăn dài trên gò má, thấm vào khóe môi một vị mặn chát nhưng ngọt ngào khôn tả.

Mới chỉ mấy ngày trước thôi, căn nhà này còn chìm trong u uất ngột ngạt. Mẹ cô nhắm mắt xuôi tay khi căn bệnh hiểm nghèo chưa kịp dứt, để lại gánh nợ lãi cắt cổ của tay trùm hụi Trần Quốc Bách và đôi vai gầy guộc của cô với hai đứa em thơ dại. Rồi biến cố ba kiện lụa Nam Bộ bị rạch nát, đổ đầy dầu luyn bẩn thỉu ngay trên sân ga Hàng Cỏ ngỡ như đã dìm cô xuống đáy vực sâu.

Trong cơn tuyệt vọng ấy, chính lòng kiêu hãnh của một người con gái đất kinh kỳ và sự chở che vững chãi của Hoài An đã níu cô lại. Cô đã không đầu hàng. Những mảnh lụa lành lặn còn sót lại từ lõi cây vải đã được cô chắp nối với từng thước đũi thô dệt thủ công của làng Vạn Phúc, khéo léo biến nhược điểm thành nét duyên ngầm độc nhất vô nhị. Chiếc áo dài chắp mảng cách tân — với cổ thuyền thanh thoát, vạt áo lượn mềm ôm sát vòng eo thon mà không gò bó — hóa ra lại là một nét chấm phá lộng lẫy giữa buổi giao thời, khi phụ nữ phương Nam bắt đầu khao khát một vẻ đẹp vừa đoan trang truyền thống, vừa phóng khoáng hiện đại.

Cửa liếp khẽ lay động. Tiếng còi tàu đêm từ phía ga Hàng Cỏ lại rúc lên một hồi dài, âm vang trầm ấm len lỏi qua từng mái ngói nghiêng xô lệch, vọng vào ngõ nhỏ. Tiếng còi tàu ấy suốt mười mấy năm qua từng khiến Quyên thắt ruột thắt gan vì những âu lo cơm áo, giờ đây nghe sao mà thân thương, dạt dào hy vọng. Mùa xuân Đổi Mới đang thực sự về thật rồi.

*

Hai ngày sau, một buổi sớm cuối đông mờ mịt sương muối.

Sân ga Hàng Cỏ bảng lảng khói than đá và hơi nước bốc lên từ những cỗ đầu máy xe lửa khổng lồ. Tàu Thống Nhất Bắc – Nam mang số hiệu Đổi Mới từ từ trườn vào đường sắt số một, tiếng bánh sắt nghiến ken két trên thanh ray rồi dừng hẳn bằng một tiếng thở dài xả hơi nước phù phù.

Quyên đứng bên cạnh Hoài An nơi ke ga. Cô khoác chiếc áo len đan màu xanh rêu, cổ quàng dải khăn dạ mềm mại, đôi mắt bồ câu lấp lánh dõi theo từng dòng người đang ùa xuống sân ga. Bên cạnh cô, Hoài An đứng sừng sững như một cây tùng vững chãi. Bắp tay anh vẫn còn quấn lớp băng gạc trắng sau đêm huyết chiến bảo vệ xưởng cơ khí, nhưng ánh mắt chàng thợ tiện sáng rực, khóe môi luôn nở nụ cười hiền hậu, an lòng.

“Kìa, anh An! Chị Bé Hai đằng kia kìa!” Quyên khẽ reo lên, chỉ tay về phía toa tàu số bốn.

Giữa đám đông hành khách lỉnh kỉnh đồ đạc, một người phụ nữ đẫy đà, mặc chiếc áo bà ba bằng gấm màu hoàng yến, cổ đeo sợi dây chuyền vàng tây sáng loáng đang hớt hải bước xuống. Vừa nhìn thấy Quyên và An, gương mặt tròn trịa phúc hậu của chị Bé Hai liền bừng lên nụ cười rạng rỡ, giọng miền Tây hào sảng cất lên át cả tiếng loa phát thanh rè rè trên cột thép:

“Trời đất quỷ thần ơi! Quyên ơi! Thằng An ơi! Chị Hai ra tới rồi nè!”

Quyên vội chạy tới đỡ lấy chiếc túi du lịch to tướng bằng vải bạt dù trên tay chị. Hoài An thoăn thoắt đón lấy hai chiếc giỏ mây nặng trịch trĩu hạt mà chị Bé Hai mang theo. Vừa chạm mặt, người phụ nữ phương Nam đã không kìm được xúc động, ôm chầm lấy Thục Quyên, vỗ bồm bộp vào lưng cô thợ may trẻ:

“Con nhỏ này tài thiệt chớ! Em có biết trong trỏng người ta mê mấy cái áo dài chắp mảng của em tới mức nào hông? Bữa chị chở năm mươi bộ vô sạp chợ Bến Thành, mới treo lên ma-nơ-canh chưa đầy nửa buổi sáng là mấy bà vợ chủ thầu, mấy cô đào cải lương với cả mấy cô sinh viên đại học kéo tới nườm nượp! Người ta giành nhau từng cái một, trả tiền tươi thóc thật hổng thèm bớt một cắc! Họ khen áo ngoài Bắc may sao mà đường kim mũi chỉ nó tinh xảo, cái cổ thuyền khoét vừa khéo léo khoe được xương quai xanh, vạt đũi chắp lụa mặc lên vừa mát vừa sang trọng hết phần thiên hạ!”

Chị Bé Hai vừa nói vừa kéo Quyên và An ra một góc khuất râm mát bên cạnh phòng chờ ga Hàng Cỏ. Nhìn quanh quất không thấy ai để ý, chị vội vã kéo khóa chiếc túi du lịch bằng bạt dù dày dặn, để lộ bên trong những cọc tiền giấy mệnh giá lớn còn thơm nguyên mùi mực in của Ngân hàng Nhà nước, được buộc dây thun cẩn thận thành từng bó vuông vức.

“Đây! Tiền bán năm mươi bộ áo bữa trước, trừ hết chi phí vận chuyển với tiền vải đợt một, còn nguyên vẹn trong này!” Chị Bé Hai nhét trọn một bọc vải dù nặng trịch vào hai bàn tay nhỏ bé của Quyên, giọng nghẹn lại vì mừng rỡ, “Trong này có đủ tiền công của em, cộng thêm năm vạn đồng tiền thưởng mà các chủ sạp Bến Thành gửi tặng riêng cho cô thợ may tài ba Khâm Thiên! Họ dặn chị bằng mọi giá phải mang bằng được một trăm bộ nữa vào trước ngày hăm ba tháng Chạp để họ bán Tết! Chuyến này chị chở ra thêm mười cây lụa tơ tằm thượng hạng loại một của đất Bảo Lộc, không dính một giọt dầu nào hết! Em gái ơi, em đổi đời rồi!”

Cầm bọc tiền nặng trĩu trên tay, Thục Quyên ngỡ ngàng như đang ôm một tảng đá ấm. Số tiền này… không chỉ đủ để trang trải toàn bộ chi phí sinh hoạt cho ba chị em, mà còn thừa sức thanh toán sạch sành sanh từng đồng nợ gốc cuối cùng mà mẹ cô từng phải vay mượn khi bạo bệnh!

Cô ngước nhìn Hoài An. Người thanh niên thợ tiện mỉm cười gật đầu, ánh mắt đong đầy sự tự hào và niềm tin yêu vô bờ bến. Anh không nói lời nào, chỉ khẽ đặt bàn tay to bản, ấm áp lên bờ vai mảnh mai của cô như muốn san sẻ trọn vẹn sức nặng của niềm vui ấy.

“Chị Hai… em cảm ơn chị…” Quyên nghẹn ngào, nước mắt rưng rưng.

“Ơ cái con nhỏ này, ơn nghĩa gì!” Chị Bé Hai xua tay quầy quậy, nhưng khóe mắt cũng đỏ hoe, “Nhờ tài khéo của em mà chị Hai mày cũng trúng đậm chuyến này đó chớ! Giờ việc đầu tiên là tụi mình phải về ngõ Khâm Thiên. Bữa nay chị phải tận mắt chứng kiến em cắt băng khai trương cái tiệm may đàng hoàng mới chịu à nghen!”

*

Trưa hôm ấy, con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo phố Khâm Thiên bỗng rộn rã khác thường.

Ngôi nhà cấp bốn của gia đình Thục Quyên — nơi từng bao trùm bởi không khí tang thương và những lần bị côn đồ đập cửa đòi nợ — nay đã hoàn toàn thay da đổi thịt. Cánh cửa gỗ cũ kỹ được quét một lớp sơn nâu mới thơm mùi dầu trẩu. Gian phòng khách phía trước được dọn dẹp phong quang, những cuộn lụa ngũ sắc Nam Bộ óng ả được xếp ngay ngắn trên kệ gỗ bào nhẵn.

Đặc biệt nhất là tấm biển hiệu treo trang trọng ngay trước hiên nhà. Đó là một tấm gỗ gụ nguyên khối do chính tay ông Tấn chọn từ kho gỗ quý của xưởng cơ khí, được Hoài An tỉ mẩn dùng cưa lọng, đục thép và giấy ráp mài nhẵn thín từng góc cạnh suốt hai đêm ròng. Trên nền gỗ nâu sẫm bóng loáng màu vecni, hai chữ “QUYÊN THỤC” được chạm nổi sắc sảo, dát nhũ vàng sáng lấp lánh, bên dưới đề một dòng chữ nhỏ khiêm nhường nhưng đầy tự hào: “Chuyên may đo áo dài truyền thống & âu phục thời trang”.

Bà con xóm ga kéo đến chật kín cả con ngõ nhỏ.

Bà Mùi – mẹ Hoài An – tươi cười bưng sang một ấm chè sen nóng hổi cùng đĩa kẹo lạc giòn tan để đãi khách. Ông Tấn chống cây gậy gỗ, đứng bên cạnh bác Cả Thiện, gương mặt người thợ già hỏa xa giãn ra những nếp nhăn khắc khổ, đôi mắt ánh lên niềm hãnh diện khôn nguôi.

“Nào, bác Cả Thiện, bác là người cao niên nhất xóm đường tàu này, bác lên nói đôi lời rồi trao kéo cho cái Quyên nó cắt băng khai trương đi chứ!” Chị Bé Hai xởi lởi giục giã.

Bác Cả Thiện vuốt chòm râu bạc, chỉnh lại chiếc mũ công nhân đường sắt đã bạc màu, cất giọng sang sảng mà ấm áp:

“Thưa toàn thể bà con lối xóm! Con bé Quyên mồ côi mẹ từ sớm, một nách hai em, nhưng chưa từng một ngày làm điều gì khuất tất, chưa từng vì nghèo mà đánh mất cái nết thảo thơm của người Tràng An. Hôm nay, cái tiệm may ‘Quyên Thục’ này mở ra, không chỉ là cái sinh kế của riêng ba chị em nó, mà còn là niềm vui, là niềm tự hào chung của cái xóm nghèo ga Hàng Cỏ này! Tôi chỉ mong sao, tiếng còi tàu ngày ngày chạy qua đây sẽ mang hương lụa của cô thợ may Khâm Thiên bay đi khắp bốn phương trời!”

Tiếng vỗ tay rào rào vang lên giòn giã. Tiếng pháo tép nhỏ nổ lách tách trước thềm nhà, mùi thuốc pháo thơm nồng quyện vào mùi vải mới và hương chè tươi ấm áp.

Thục Quyên run run cầm chiếc kéo cán đồng, cắt đứt dải lụa đỏ thắm chăng ngang cửa tiệm. Khi dải lụa rơi xuống, tiếng reo vui của hai đứa em Hiền và Toàn vang lên lảnh lót. Quyên quay sang nhìn Hoài An, anh đang đứng lặng sau lưng bố mẹ, khẽ mỉm cười và gật đầu với cô. Giây phút ấy, Quyên hiểu rằng, tiệm may này không chỉ được dựng nên bằng mồ hôi và tài năng của riêng cô, mà còn được chắp cánh bằng tình yêu thủy chung, kiên định của người thợ tiện xóm ga.

Ngay trong buổi chiều ngày khai trương, tin lành đồn xa khắp phố phường Hà Nội. Không chỉ có đơn đặt hàng một trăm bộ áo dài gửi vào Chợ Bến Thành của chị Bé Hai, mà khách hàng từ khắp nơi ở thủ đô cũng bắt đầu nườm nượp kéo đến ngõ Khâm Thiên.

Đó là những nữ giáo viên nền nã của trường Bưởi (Chu Văn An), những cô mậu dịch viên bách hóa Tràng Tiền duyên dáng, những nữ nhân viên bưu điện bờ hồ với mái tóc uốn phi-dê thời thượng, và cả những nghệ sĩ của các đoàn kịch thủ đô. Họ tìm đến “Quyên Thục” vì đã nghe danh những chiếc áo dài cách tân cổ thuyền thắt eo mềm mại, tôn vinh trọn vẹn nét thanh xuân mà vẫn giữ trọn cốt cách đoan trang, kín đáo của phụ nữ kinh kỳ.

“Cô Quyên ơi, may cho tôi một chiếc cổ thuyền bằng lụa tím Huế nhé, để mùng một Tết này tôi đi chúc Tết nhà nội!”

“Tôi muốn may một chiếc vạt đũi chắp tơ tằm màu mỡ gà, cô chiết eo khéo như cái áo mẫu treo đằng kia giúp tôi!”

Quyên thoăn thoắt cầm chiếc thước dây mềm quàng qua cổ, nụ cười luôn nở trên môi, dịu dàng cúi xuống đo từng số đo: vòng cổ, vòng ngực, hạ eo, dài tay, dài vạt... Bàn tay cô chạm vào đâu là chỉnh dáng cho khách ở đấy, con mắt thẩm mỹ tinh tế giúp cô nhận ra ngay khuyết điểm cơ thể của từng người để khéo léo bù trừ bằng những đường cắt cúp tinh xảo.

Thấy lượng khách đổ về quá đông, một mình chiếc máy may con bướm của Quyên không thể nào cáng đáng nổi, Quyên liền bàn với chị Bé Hai và Hoài An đưa ra một quyết định táo bạo nhưng tràn đầy tình nghĩa.

Cô sang xóm thợ ga, tìm gặp năm chị em phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn nhất xóm — những người mẹ đơn thân từng phải đi gánh than thuê, những cô gái trẻ chưa có việc làm ổn định, ngày ngày chỉ biết nhặt nhạnh sắt vụn kiếm vài đồng bạc lẻ. Quyên mua thêm ba chiếc máy may cũ do Liên Xô viện trợ, kê thành một hàng dài ngay ngắn trong gian buồng rộng.

“Các chị, các em đừng sợ,” Quyên ân cần nắm tay từng người, giọng chân thành, “Em sẽ chỉ cho mọi người từng đường kim mũi chỉ. Ai khéo tay thì ngồi máy may đường viền, ai mắt sáng thì phụ em vắt sổ, thêu hoa văn đào mai trước ngực, người thì phụ trách đơm cúc bấm và là ủi hoàn thiện. Tiền công em xin trả sòng phẳng theo từng sản phẩm, bảo đảm một ngày công ở đây sẽ cao gấp ba lần các chị đi gánh than ngoài bãi!”

Những người phụ nữ nghèo xóm ga rưng rưng nước mắt vì cảm kích. Căn gác xép và gian nhà nhỏ ngõ Khâm Thiên từ đó không lúc nào ngớt tiếng lách cách rộn ràng của bàn đạp máy may, tiếng thoi đưa ro ro như tiếng ong vò vẽ, và trên hết là những tiếng cười nói rôm rả, ấm áp tình người. Những người phụ nữ lam lũ, bàn tay thô ráp vì sương gió bỗng trở nên khéo léo lạ kỳ khi được thổi vào niềm tin và sự trân trọng.

Hương lụa tơ tằm Nam Bộ, mùi hương trầm thơm dịu trên bàn thờ và mùi vải mới quyện chặt vào nhau, tạo nên một phong vị rất riêng — phong vị của một xưởng may gia đình đang trỗi dậy mạnh mẽ giữa lòng Hà Nội những ngày đầu Đổi Mới.

*

Sáng hăm bảy tháng Chạp, trời hửng nắng nhẹ sau chuỗi ngày rét đậm kéo dài. Những vạt nắng đông hanh vàng như mật ong rải đều trên những mái ngói rêu phong của phố Khâm Thiên.

Thục Quyên mặc một chiếc áo sơ mi trắng cổ sen giản dị, bên ngoài khoác chiếc áo gi-lê len màu xanh tím than. Trong chiếc xắc tay bằng da cũ của mẹ, cô cẩn thận cất một bọc tiền dày cộm được đếm đi đếm lại tới ba lần, cùng với cuốn sổ tay ghi chép những dòng chữ run rẩy của người mẹ quá cố trước lúc lâm chung.

Hoài An dắt chiếc xe đạp Phượng Hoàng màu đen bóng loáng — chiếc xe anh vừa mua lại bằng tiền thưởng của Tổng cục Đường sắt — đứng chờ sẵn trước ngõ.

“Lên xe đi em, anh đưa em lên Ủy ban,” Hoài An khẽ nói, ánh mắt ấm áp nhìn cô.

Quyên khẽ gật đầu, ngồi nghiêng trên chiếc gióng sau bọc đệm êm ái. Chiếc xe đạp lăn bánh chầm chậm qua những con ngõ lát gạch nghiêng, tiếng chuông kính coong reo vang vui tai giữa phố phường tấp nập người qua lại sắm Tết.

Tại trụ sở Ủy ban nhân dân tiểu khu Khâm Thiên, không khí làm việc cuối năm diễn ra nghiêm túc nhưng cởi mở. Sau khi đường dây tín dụng đen và buôn lậu phụ tùng của Trần Quốc Bách bị Công an kinh tế triệt phá hoàn toàn, toàn bộ những khoản lãi suất cắt cổ, những bản giao kèo siết nợ phi pháp mà hắn ép buộc người dân ký kết đều đã bị pháp luật tuyên bố vô hiệu. Cơ quan chức năng chỉ yêu cầu những người vay thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đúng số tiền nợ gốc ban đầu cho quỹ quản lý tài sản tạm giữ để xử lý theo quy định nhà nước.

Trước sự chứng kiến của đồng chí đại diện Viện Kiểm sát nhân dân và cán bộ phụ trách tư pháp phường, Thục Quyên ngồi xuống chiếc bàn gỗ lim mộc mạc.

Bằng những động tác dứt khoát, điềm tĩnh và đầy tự trọng, cô mở xắc tay, đặt từng cọc tiền mới cứng xuống mặt bàn. Tiếng đếm tiền soàn soạt vang lên giữa căn phòng tĩnh lặng.

“Báo cáo các đồng chí,” giọng Quyên trong trẻo, đĩnh đạc, không hề gợn một chút run sợ hay tự ti, “Đây là đúng ba trăm ngàn đồng tiền gốc mà mẹ tôi trước khi mất đã vay để lo chi phí phẫu thuật chân cho em trai tôi. Hôm nay, bằng chính mồ hôi, nước mắt và sức lao động chân chính của tiệm may chúng tôi, tôi xin thanh toán sòng phẳng, dứt điểm từng đồng, từng cắc, không thiếu một xu!”

Đồng chí cán bộ tư pháp ngẩng đầu nhìn cô gái trẻ mảnh mai trước mặt, ánh mắt không giấu nổi sự khâm phục sâu sắc. Anh nhanh chóng hoàn tất các thủ tục kiểm đếm, ghi vào sổ lưu trữ rồi ký tên, đóng dấu đỏ chót vào tờ biên nhận tất toán nghĩa vụ tài chính.

“Thay mặt chính quyền địa phương, tôi xác nhận: Gia đình cô Nguyễn Thục Quyên đã hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ nợ nần một cách minh bạch, sòng phẳng! Chúc mừng cô và gia đình đã vượt qua hoạn nạn!”

Khi chiếc dấu đồng đỏ tươi in hằn lên trang giấy, Thục Quyên nhận lại tờ biên nhận cùng với bản gốc tờ giấy nợ cũ kỹ mang chữ ký nguệch ngoạc của mẹ cô năm xưa mà cơ quan công an thu hồi từ két sắt của Bách.

Cầm hai tờ giấy trên tay, bước chân ra khỏi cổng trụ sở Ủy ban, Quyên ngước nhìn lên bầu trời mùa đông. Bầu trời Hà Nội hôm nay cao và xanh vời vợi. Gió bấc vẫn thổi qua hàng xà cừ cổ thụ ven đường, nhưng trong lồng ngực cô, một tảng đá ngàn cân đè nặng suốt bao năm tháng tuổi xuân dường như đã hoàn toàn tan biến, nhường chỗ cho một cảm giác thanh thản, nhẹ nhõm đến nghẹn ngào.Trở về căn gác nhỏ ngõ Khâm Thiên, việc đầu tiên Thục Quyên làm là rửa tay thật sạch bằng nước thơm lá bưởi.

Cô bước lên căn gác xép, thắp ba nén hương trầm thơm ngát c*m v** bát hương bằng sứ trên bàn thờ mẹ. Khói hương nghi ngút uốn lượn trước di ảnh người phụ nữ có gương mặt hiền hậu nhưng đượm nét u hoài vì một đời lam lũ.

Quyên quỳ xuống trước bàn thờ, hai tay nâng cao tờ giấy nợ oan nghiệt năm nào, giọng cô run run thì thầm qua làn nước mắt:

“Mẹ ơi… con gái của mẹ đã làm được rồi. Con đã trả sạch nợ nần cho gia đình mình rồi mẹ ơi! Không ai có thể đến đây dọa dẫm, không ai có thể khinh khi ba chị em con được nữa. Chiếc máy may của mẹ vẫn còn nguyên vẹn, tiệm may mang tên mẹ và con đã mở cửa rực rỡ... Mẹ ở dưới suối vàng hãy thanh thản ngậm cười, phù hộ cho hai em của con ăn học nên người...”

Quyên đưa mép tờ giấy nợ vào ngọn lửa cây đèn dầu hỏa trên bàn thờ.

Ngọn lửa đỏ rực bùng lên, l**m láp từng dòng chữ nợ nần cay đắng. Những con số lạnh lùng, những vết mực lem luốc của chuỗi ngày tăm tối cuộn tròn lại, hóa thành tàn tro đen nhánh rụng xuống chiếc đĩa sứ. Khi mẩu giấy cuối cùng biến thành tro bụi, Thục Quyên thở ra một hơi dài. Quá khứ tủi nhục đã chính thức khép lại sau lưng cô, vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

*

Buổi chiều cùng ngày, một tin vui rực rỡ khác lại gõ cửa gia đình.

Hoài An cùng Quyên đưa bé Toàn đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức để tái khám theo lịch hẹn.

Ngồi trên băng ghế gỗ dài của khu nhà khám bệnh mang kiến trúc Pháp cổ kính, bé Toàn nắm chặt tay chị gái, đôi mắt tròn xoe lộ rõ vẻ hồi hộp. Đôi nạng gỗ mòn vẹt — vật bất ly thân suốt hơn một năm qua của cậu bé chín tuổi — được Hoài An cẩn thận dựng bên cạnh tường vôi vàng ố.

Vị bác sĩ trưởng khoa ngoại chấn thương — một người thầy thuốc lớn tuổi với mái tóc bạc phơ và cặp kính lão trễ xuống mũi — cẩn thận tháo bỏ lớp nẹp cố định cuối cùng trên cẳng chân phải của Toàn. Bàn tay ấm áp của bác sĩ n*n b*p từng thớ cơ, gõ nhẹ vào khớp gối rồi kiểm tra phim chụp X-quang dưới ánh đèn rọi.

“Nào, cháu bé dũng cảm của bác,” bác sĩ mỉm cười đôn hậu, vỗ vai Toàn, “Bây giờ cháu thử đứng dậy bằng cả hai chân xem nào. Đừng sợ, cứ bước lại phía chị gái cháu đi!”

Bé Toàn ngập ngừng nhìn Quyên, rồi lại nhìn sang Hoài An.

“Đi đi em! Anh An tin em làm được!” Hoài An khích lệ, ánh mắt chan chứa sự tin tưởng.

Bé Toàn hít một hơi thật sâu, từ từ buông tay khỏi mép giường bệnh. Cậu bé đặt cả hai bàn chân xuống sàn gạch hoa mát lạnh. Chân phải hơi run rẩy trong tích tắc, nhưng rồi cơ bắp đã bắt đầu làm quen với trọng lực cơ thể. Toàn bước một bước... hai bước... rồi bước thứ ba vững vàng, thẳng thớm tiến thẳng về phía vòng tay đang dang rộng của Thục Quyên!

“Chị Quyên ơi! Em đi được rồi! Chân em không đau nữa rồi!” Cậu bé reo lên sung sướng, ôm chầm lấy hông chị gái.

Vị bác sĩ già tháo cặp kính lão, gật đầu mỉm cười đầy hài lòng:

“Chúc mừng gia đình nhé! Vết mổ liền sẹo rất đẹp, can xương đã phát triển hoàn hảo và các dây thần kinh vận động hồi phục hoàn toàn. Thằng bé này có sức sống mãnh liệt lắm. Từ nay về sau, cháu nó có thể chạy nhảy, đá bóng và đi bộ đến trường như tất cả những đứa trẻ bình thường khác, không cần dùng đến đôi nạng gỗ này nữa!”

Nghe những lời như cởi tấm lòng ấy, Thục Quyên siết chặt em trai vào lòng, những giọt nước mắt hạnh phúc lại một lần nữa trào dâng. Mọi sự hy sinh, mọi đêm thức trắng bên bàn máy may, mọi cay đắng tủi nhục mà cô phải nếm trải... đổi lấy những bước chân lành lặn này của đứa em trai bé bỏng, tất cả đều xứng đáng đến từng giọt mồ hôi!

Rời bệnh viện, Hoài An chở ba chị em Quyên về phố Hàng Ngang, Hàng Đào để sắm Tết.

Trước đó, Quyên đã bí mật tự tay cắt may cho hai đứa em hai bộ quần áo mới tinh tươm. Em gái Thục Hiền mười bốn tuổi rạng rỡ trong chiếc áo khoác dạ lửng màu hạt dẻ ấm áp kết hợp với chân váy xếp ly duyên dáng; còn bé Toàn thì diện bộ âu phục thiếu nhi bằng vải ka-ki màu cỏ úa cài khuy đồng sáng loáng, chân đi đôi giày ba-ta trắng tinh vừa vặn.

Nhìn hai đứa em tung tăng chạy nhảy trên vỉa hè lát đá xanh rợp bóng cờ hoa chuẩn bị đón xuân, nụ cười rạng rỡ nở trên gương mặt ngây thơ của chúng, Quyên cảm thấy cuộc đời chưa bao giờ tươi đẹp và đáng sống đến thế.

“Chị Quyên ơi, sang năm học mới này em được đến trường Tiểu học Khâm Thiên rồi đúng không chị?” Toàn vừa chạy lon ton vừa ngoái lại hỏi, đôi má ửng hồng vì gió lạnh.

“Ừ, đúng rồi em,” Quyên mỉm cười đáp, giọng nghẹn ngào vì xúc động, “Chị đã nộp hồ sơ xin nhập học cho em rồi. Qua Tết này, em sẽ cùng các bạn cắp sách đến trường, không phải ngồi nhà nhìn qua song cửa sổ nữa!”

“Hoan hô! Em sắp được đi học rồi!” Cậu bé nhảy cẫng lên, nắm tay chị Hiền cùng reo vang rộn rã khắp góc phố.

*

Đêm hăm tám tháng Chạp.

Đợt khách may đo cuối cùng của tiệm “Quyên Thục” đã vãn. Chuyến xe áp tải một trăm bộ áo dài cách tân đóng thùng cẩn thận của chị Bé Hai đã được bàn giao lên chuyến tàu Thống Nhất đặc biệt xuất phát lúc bảy giờ tối để kịp vào phục vụ chợ Tết Sài Gòn. Chị Bé Hai bịn rịn chia tay Quyên tại sân ga, hẹn ngày rằm tháng Giêng sẽ lại mang thêm những đơn hàng tơ lụa mới ra Bắc.

Mấy cô thợ phụ trong xóm ga sau khi nhận tiền lương và tiền thưởng Tết hậu hĩnh từ tay Quyên cũng đã hân hoan ra về, ai nấy đều tay xách nách mang nào giò nạc, bánh chưng, gạo nếp để chuẩn bị đón một cái Tết ấm no nhất từ trước tới nay.

Căn gác nhỏ ngõ Khâm Thiên lắng xuống trong sự tĩnh mịch êm đềm của đêm đông.

Hai em Hiền và Toàn vì ban ngày chạy nhảy mệt nhoài nên đã ngủ say sưa trên chiếc giường gấp ấm sực chăn bông con công. Tiếng thở đều đều, bình yên của hai đứa trẻ như một điệu ru êm ái.

Quyên ngồi lại một mình bên chiếc bàn may. Dưới ánh đèn bàn tỏa ra thứ ánh sáng vàng dịu, cô cẩn thận gấp lại những thước lụa vụn còn sót lại, cắm từng chiếc kim ghim vào chiếc gối bông nhỏ. Bất giác, cô đưa mắt nhìn quanh căn phòng. Nơi này, chỉ mới cách đây chưa đầy hai tháng, còn là một ngõ cụt tăm tối của cuộc đời cô. Vậy mà giờ đây, hương thơm của lụa tơ tằm, mùi thơm của gỗ mới và hơi ấm của sự bình yên đã lấp đầy từng ngóc ngách.

Bỗng nhiên, từ ngoài cửa ngõ, vang lên tiếng bước chân quen thuộc nện nhẹ trên mặt đất đá dăm.

“Cốc… cốc… cốc…”

Tiếng gõ cửa khẽ khàng, nhịp nhàng theo một quy ước riêng chỉ có hai người hiểu.

Trái tim Thục Quyên bỗng đập rộn ràng một nhịp bồi hồi. Cô vội vã đứng dậy, chỉnh lại tà áo len rồi bước nhanh ra mở then cài cửa gỗ.

Gió đông ùa vào mang theo hơi lạnh buốt giá của sương đêm, nhưng bóng dáng người đàn ông đứng ngoài hiên cửa lại tỏa ra một hơi ấm nồng nàn.

Hoài An đứng đó trong chiếc áo bông chần màu xanh công nhân đường sắt. Mái tóc anh hơi ướt vì sương mù, hai bên gò má đỏ ửng vì lạnh, và trên vạt áo vẫn còn vương vấn mùi ngai ngái nồng nồng quen thuộc của dầu máy tiện. Đôi mắt sáng cương trực của người thợ tiện nhìn cô đắm đuối, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười hiền hậu.

“Muộn thế này rồi mà anh chưa nghỉ sao?” Quyên khẽ nép mình sang một bên, nhỏ giọng hỏi, đôi má bất giác ửng hồng.

“Xưởng tiện vừa bàn giao xong lô chi tiết máy cuối cùng cho ga Hàng Cỏ để phục vụ các chuyến tàu vét trước Tết,” Hoài An bước vào trong nhà, khép hờ cánh cửa liếp để tránh gió lạnh lùa vào chỗ hai đứa nhỏ đang ngủ, “Thấy đèn tiệm may của em vẫn sáng, anh biết là em chưa ngủ.”

Anh đứng lặng ngắm nhìn cô gái mình yêu. Dưới ánh đèn vàng dịu dàng, Thục Quyên đẹp một vẻ đẹp đằm thắm, thanh khiết như một bông hoa quỳnh nở muộn sau giông bão. Không còn nét hoang mang, u uất của chuỗi ngày bị dồn vào chân tường, đôi mắt bồ câu của cô giờ đây trong veo, tràn đầy niềm kiêu hãnh và sự thanh thản của một người thợ đã tự tay làm chủ số phận mình.

“Hôm nay… em đã trả hết nợ rồi đúng không?” Hoài An dịu dàng hỏi.

Quyên khẽ gật đầu, ánh mắt ngời sáng:

“Vâng. Trả hết sạch rồi anh ạ. Em cũng đã đốt tờ giấy nợ trước bàn thờ mẹ rồi. Bác sĩ ở Viện Việt Đức cũng bảo chân bé Toàn đã khỏi hẳn, qua Tết là em đưa nó đi học lớp một. Anh An… nhiều lúc em cứ ngỡ tất cả những điều này chỉ là một giấc mơ...”

“Không phải mơ đâu, Quyên à,” Hoài An bước lại gần cô thêm một bước, giọng anh trầm ấm, chân thành như tiếng chuông đồng ngân nga, “Đó là thành quả từ đôi bàn tay cần lao, từ lòng tự trọng và sự kiên cường của chính em. Em xứng đáng có được tất cả những hạnh phúc này.”

Nói rồi, Hoài An đưa tay vào túi trong của chiếc áo bông chần ấm áp.

Anh cẩn thận rút ra một chiếc hộp nhỏ bằng nhung màu đỏ thẫm, vuông vắn và tinh xảo. Chiếc hộp nhung đỏ nằm gọn gàng trong lòng bàn tay chai sần đầy những vết sẹo nghề nghiệp của người thợ tiện.

Quyên ngỡ ngàng nhìn chiếc hộp, rồi ngước nhìn ánh mắt sâu thẳm của anh, lồng ngực cô khẽ phập phồng hồi hộp:

“Anh An… cái này là...”

Hoài An không mở chiếc hộp ra ngay. Anh chỉ khẽ cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn, mềm mại của Quyên, đặt chiếc hộp nhung đỏ thẫm vào trọn vẹn lòng bàn tay cô, rồi bao bọc lấy nó bằng cả hai bàn tay ấm áp của mình.

Ánh mắt anh nhìn cô vừa tha thiết, vừa trang nghiêm như một lời thề nguyện non sông:

“Cái này… anh đã chuẩn bị suốt những đêm thức trắng bên bàn máy tiện. Nhưng bây giờ chưa phải lúc mở ra đâu cô thợ may của anh à.”

“Sao lại thế anh?” Quyên ngước đôi mắt bồ câu tròn xoe nhìn anh, vừa tò mò vừa e ấp.

Hoài An khẽ mỉm cười, nụ cười rạng rỡ làm bừng sáng cả gương mặt phong trần sương gió. Anh cúi xuống, thì thầm bên tai cô một lời hẹn ước ngọt ngào:

“Chiều Ba mươi Tết này, sau khi tiệm may của em đóng cửa đón năm mới, anh sẽ sang đón em. Lúc ấy, trước sự chứng kiến của cả hai gia đình và bà con xóm ga, anh sẽ đích thân mở chiếc hộp này ra để trao cho em một điều thiêng liêng nhất của cuộc đời anh. Em có đồng ý chờ anh không?”

Gió đông ngoài hiên vẫn thổi xào xạc qua những rặng tre bên đường tàu, nhưng trong lòng Thục Quyên, một mùa xuân ấm áp và rực rỡ đã bắt đầu nảy lộc đâm chồi. Cô siết nhẹ chiếc hộp nhung đỏ trong lòng bàn tay, khẽ tựa đầu vào bờ vai vững chãi của người thợ tiện, khẽ gật đầu bằng tất cả niềm tin yêu son sắt:

“Vâng… Em sẽ đợi anh.”

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn