Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga

Chương 16: Tin vui theo ngọn gió xuân

Sương sớm mùa đông buông một tấm voan mỏng màu chì lên những mái ngói rêu phong xô lệch của xóm đường tàu Lê Duẩn. Nhưng sáng hôm nay, cái rét ngọt tê buốt cắt da cắt thịt của đợt gió mùa đông bắc dường như bị đẩy lùi bởi làn hơi ấm lạ kỳ phả ra từ khắp các nếp nhà nép mình bên thanh ray. Mùi khói củi đun nước thơm mùi lá hương nhu quyện với mùi dầu hỏa, mùi phở gánh từ đầu ngõ Khâm Thiên thoảng sang, hòa vào tiếng chim sẻ ríu rít chuyền cành trên ngọn bàng trụi lá trước cửa xưởng tiện Đặng gia.

Trong gian nhà cấp bốn thơm mùi vôi ẩm, Hoài An đứng trước chiếc gương soi viền nhôm ố mờ treo cạnh vách nứa. Anh mặc chiếc áo sơ mi màu cỏ úa bằng vải Tô Châu phẳng phiu — chiếc áo lành lặn nhất mà mẹ anh đã cẩn thận cất dưới đáy rương gỗ từ đợt Tết năm ngoái, sớm nay vừa được bàn tay khéo léo của Thục Quyên dùng chiếc bàn là con gà bỏ than hồng ủi lại từng nếp gấp thẳng tắp.

Vết thương trên bắp tay phải của anh đã được bác sĩ trạm y tế ga khâu lại cẩn thận, bọc bằng lớp gạc trắng tinh khôi dưới làn vải áo. Dù mỗi cử động co duỗi còn nhói buốt, nhưng đôi vai rộng của người thợ tiện trẻ tuổi vẫn vươn thẳng, lồng ngực phập phồng những nhịp đập rạo rực khôn tả.

“Đừng cử động mạnh quá anh, kẻo lại bục chỉ vết khâu bây giờ.”

Giọng nói mềm mại như dải lụa non vang lên bên tai. Thục Quyên bước lại gần, hai tay nhẹ nhàng nâng cổ áo sơ mi của anh lên, cẩn thận chỉnh lại từng chiếc cúc nhựa ngay ngắn. Sớm nay, cô diện chiếc áo len đan sợi màu mỡ gà giản dị, mái tóc đen nhánh vấn gọn gàng bằng chiếc kẹp đồi mồi sau gáy, để lộ chiếc gáy thon trắng ngần và gương mặt trái xoan phảng phất nét tươi tắn rạng ngời. Đôi mắt bồ câu của cô, sau bao đêm thức trắng âu lo và đẫm lệ, giờ đây trong veo như mặt hồ Thiền Quang sau cơn mưa rào, lấp lánh ánh nhìn vừa tự hào vừa xót xa hướng về anh.

Hoài An cúi nhìn người con gái trước mặt, cảm nhận được hơi ấm thoang thoảng mùi bồ kết từ mái tóc cô tỏa ra. Bàn tay chai sần đầy những vết sẹo mạt sắt của anh khẽ nâng lên, ngập ngừng rồi đặt nhẹ lên mu bàn tay thon nhỏ của Quyên:

“Em thức trắng từ bốn giờ sáng để là áo cho anh, mắt quầng thâm cả rồi kìa. Lát nữa anh sang Tổng cục, em ở nhà nhớ chợp mắt một lát, mấy hôm nay em vất vả vì anh quá nhiều.”

Quyên khẽ lắc đầu, khóe môi nở một nụ cười dịu dàng, hai má ửng hồng trong gió sớm:

“Hôm nay là ngày trọng đại nhất đời anh, cũng là ngày Đặng gia rửa sạch mọi oan khiên, em chợp mắt sao nổi. Anh nhìn kìa, thầy với bác Cả Thiện đã chỉnh tề từ lúc chuông đồng hồ điểm sáu tiếng rồi.”

Ở góc nhà bên bộ tràng kỷ cũ, ông Đặng Văn Tấn ngồi nghiêm trang. Người thợ già hôm nay khoác lên mình bộ âu phục đại hàn bằng dạ đen đã ngả màu sương gió — bộ lễ phục duy nhất ông từng mặc khi đón nhận danh hiệu thợ bậc cao ngành Hỏa xa mười lăm năm về trước. Chiếc gậy tre gõ nhẹ nhịp nhàng xuống nền gạch đỏ, ánh mắt hoa râm của ông dõi ra khoảng sân ngập nắng sớm, nơi chiếc máy tiện 1A62 sừng sững đứng đó, thân máy lau sạch bóng không một hạt bụi, như một người lính kiên trung vừa cùng gia đình vượt qua cơn binh lửa.

Bà Mùi thì tất tả chạy ra chạy vào, tay bưng chiếc cơi trầu têm cánh phượng, chốc chốc lại dặn dò:

“Anh An này, sang bên Tổng cục, trước mặt các vị lãnh đạo bộ với ban ngành, phải thưa gửi đàng hoàng, khiêm tốn nghe con. Người thợ làm được mười chỉ nên nhận bảy, giữ cái phúc đức cho đời sau. Chớ có vì người ta khen ngợi mà tự mãn.”

“U cứ khéo lo xa,” bác Cả Thiện từ ngoài sân bước vào, tiếng cười khà khà sang sảng át cả tiếng còi tàu sớm. “Thằng An nhà mình nó rèn tính nết trong lò lửa xưởng tiện từ bé, khiêm nhường ăn vào máu rồi! Nào, hai cha con nhà anh Tấn sửa soạn xong chưa? Chiếc xe Vác-xa-va của Văn phòng Tổng cục cử sang đón đã đỗ xịch ngoài đường Nam Bộ kia kìa! Đi thôi, đừng để các cụ bên hội đồng đợi!”

Bước chân của ông Tấn dù tập tễnh vì vết thương năm xưa nhưng hôm nay vững chãi lạ thường. Hoài An bước bên cạnh cha, một tay đỡ khuỷu tay ông, một tay khẽ siết chặt chiếc cặp da bạt cũ đựng bản thuyết minh sơ đồ dung sai bạc lót mà hai cha con đã trút cạn tâm huyết để hoàn thiện. Khi bước qua thềm cửa, anh ngoái lại nhìn. Thục Quyên đứng tựa bên khung cửa gỗ, hai tay nắm chặt dải khăn len xanh quanh cổ, khẽ mỉm cười gật đầu, ánh mắt trao trọn niềm tin sắt son cho anh.

*

Hội trường lớn của Tổng cục Đường sắt Việt Nam tọa lạc trên phố Lê Duẩn sáng nay rực rỡ cờ hoa và biểu ngữ. Tấm khẩu hiệu lớn bằng vải đỏ viền kim tuyến căng ngang sân khấu nổi bật dòng chữ vàng sắc nét: “Phát huy tinh thần tự lực cánh sinh thời kỳ Đổi Mới – Quyết tâm nội địa hóa phụ tùng phục vụ an toàn chạy tàu Bắc – Nam”.

Bên dưới hội trường, hơn hai trăm đại biểu gồm các kỹ sư đầu ngành, lãnh đạo các xí nghiệp đầu máy toa xe từ Hà Nội, Gia Lâm, Yên Bái, cùng đông đảo cán bộ kiểm định chất lượng kỹ thuật ngồi kín các dãy ghế bọc nỉ đỏ. Không khí trang nghiêm xen lẫn tiếng bàn tán xôn xao. Sự cố đầu máy kéo tàu suýt lật tại Phủ Lý đêm bão vừa qua và cuộc giải cứu ngoạn mục bằng cụm bạc lót tự chế của thợ thủ công Đặng gia đã trở thành câu chuyện chấn động toàn ngành suốt hai mươi tư giờ qua.

Khi chiếc chuông đồng hồ quả lắc trên tường điểm đúng tám giờ, đồng chí Cục trưởng Cục Cơ khí Đường sắt bước lên bục phát biểu. Giọng ông trầm ấm, dõng dạc vang qua hệ thống loa truyền thanh:

“Thưa toàn thể các đồng chí! Đường sắt Việt Nam bước vào thời kỳ Đổi Mới sau Đại hội VI với muôn vàn khó khăn, thách thức. Nền kinh tế chuyển dịch, hàng ngoại tràn lan, đi kèm với đó là những tư tưởng làm ăn chộp giật, gian lận thương mại đe dọa trực tiếp đến tính mạng của hàng vạn hành khách trên tuyến huyết mạch Thống Nhất. Vụ án làm giả phụ tùng, tráo ruột gang xốp mạ crôm vừa bị lực lượng công an kinh tế triệt phá tại cơ sở Á Châu của Trần Quốc Bách là một bài học đắt giá, một hồi chuông cảnh tỉnh sâu sắc cho công tác quản lý vật tư kỹ thuật.”

Cả hội trường im phăng phắc, những cái gật đầu đồng tình hiện rõ trên gương mặt từng người thợ già từng gắn bó cả đời với đường ray. Vị Cục trưởng dừng lại một nhịp, ánh mắt hướng về hàng ghế đầu, nơi cha con Hoài An đang ngồi:

“Nhưng giữa cơn thử lửa nghiệt ngã ấy, chúng ta tự hào khẳng định rằng: Đạo đức nghề nghiệp và bàn tay vàng của giai cấp công nhân Việt Nam vẫn vẹn nguyên, sáng ngời như thép đã tôi trong lửa đỏ! Bằng tinh thần trách nhiệm vô điều kiện, bằng sự chuẩn xác đến từng phần trăm milimet và sự am hiểu sâu sắc về luyện kim cơ khí, cơ sở cơ khí Đặng gia đã chế tác thành công cụm bạc lót từ hợp kim C.F.I., giải cứu an toàn đoàn tàu H-02, lập nên một kỳ tích kỹ thuật dã chiến ngay trong đêm mưa bão!”

Tiếng vỗ tay rầm rộ bùng nổ, kéo dài không dứt. Những ánh mắt thán phục, kính trọng đổ dồn về phía hai cha con người thợ tiện xóm ga.

“Thay mặt Hội đồng Khoa học Kỹ thuật và Lãnh đạo Tổng cục Đường sắt,” vị Cục trưởng cất cao giọng, “tôi trân trọng công bố: Cơ sở cơ khí tư nhân Đặng gia chính thức trúng thầu dự án cung ứng toàn bộ cụm chi tiết bạc lót và trục truyền động nội địa hóa cho các đầu máy xe lửa thuộc Tổng cục Đường sắt Việt Nam giai đoạn 1989 – 1990! Xin kính mời nghệ nhân Đặng Văn Tấn và kỹ thuật viên trưởng Đặng Hoài An bước lên lễ đài!”

Hoài An cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại. Anh đỡ cha đứng dậy. Ông Tấn siết chặt lấy bàn tay con trai, những ngón tay gầy guộc run rẩy vì xúc động tột cùng. Bước từng bước lên bục danh dự trải thảm đỏ, Hoài An nhìn thấy trên bàn danh dự là tập hồ sơ hợp đồng kinh tế dày cộp bìa bọc da xanh, bên cạnh là tấm bằng khen của Bộ Giao thông Vận tải mang tên cha con anh.

Trước sự chứng kiến của toàn thể hội trường, Hoài An cầm lấy chiếc bút máy Kim Tinh do đích thân đồng chí Cục trưởng trao tặng. Đặt ngòi bút xuống trang giấy in vội bằng máy chữ cơ, anh nắn nót ký từng nét chữ dứt khoát: “Đặng Hoài An – Đại diện Cơ sở Cơ khí Đặng gia”.

Đó không chỉ là một chữ ký nhận thầu kinh tế đơn thuần. Đó là chữ ký của danh dự, của lời thề người thợ trước vong linh tổ nghề, là lời khẳng định đanh thép rằng những người lao động chân chính thời mở cửa hoàn toàn có thể ngẩng cao đầu làm chủ kỹ thuật bằng mồ hôi và lương tâm trong sạch.

“Đồng chí Hoài An,” Tổng giám đốc Liên hiệp Đường sắt bước tới, trao vào tay anh chiếc phong bì niêm phong ngân hàng chứa séc chuyển tiền tạm ứng cùng văn bản bảo lãnh tài chính, “đây là khoản kinh phí tạm ứng đợt đầu, trị giá ba mươi vạn đồng theo cơ chế khoán sản phẩm mới. Tổng cục giao toàn quyền cho cơ sở Đặng gia nâng cấp nhà xưởng, mua sắm thêm máy công cụ chuẩn xác và tuyển chọn nhân lực. Ngành đường sắt đặt trọn niềm tin vào đôi bàn tay của thế hệ thợ trẻ các đồng chí!”

Ba mươi vạn đồng! Một con số khổng lồ giữa thời điểm lạm phát năm 1988, một nguồn vốn sạch sẽ, quang minh chính đại được đánh đổi bằng chính giọt máu trên cánh tay và những đêm dài thức trắng bên máy tiện. Hoài An ôm chặt tập hồ sơ và bức bằng khen vào lòng, cúi đầu thật sâu trước toàn thể hội trường trong tiếng hoan hô như sấm dậy.

*

Tin vui bay theo ngọn gió đông, vượt qua dải đường ray lấp loáng sương giá, lan nhanh khắp các ngõ ngách phố Khâm Thiên và khu xóm ga Hàng Cỏ.

Đến quá trưa, khi chiếc xe đưa hai cha con về tới đầu ngõ, cả xóm thợ đã tụ tập đông đủ như một ngày hội lớn. Tiếng pháo tép lẹt đẹt nổ giòn giã trước thềm nhà. Lũ trẻ con, dẫn đầu là bé Toàn đang chống chiếc nạng gỗ nhỏ và bé Hiền, vừa chạy lon ton vừa reo hò ầm ĩ:

“Anh An về rồi! Bác Tấn về rồi! Xóm mình thắng lớn rồi bà con ơi!”

Gian nhà cấp bốn chật hẹp của gia đình ông Tấn chiều hôm ấy như muốn nổ tung bởi tiếng cười nói, tiếng chạm cốc rộn ràng. Chiếc bàn tròn gỗ tạp thường ngày được kê thêm hai chiếc bàn dài mượn của tổ dân phố, phủ tấm vải hoa ngay ngắn. Trên bàn, bà Mùi cùng chị em phụ nữ trong xóm đã xúm vào làm một bữa liên hoan thịnh soạn hiếm thấy giữa những ngày giáp Tết: những đĩa giò thủ béo ngậy giòn sần sật, đĩa nem rán vàng ươm thơm nức mũi mùi mộc nhĩ hạt tiêu, bát canh măng miến nấu lòng gà nghi ngút khói, đĩa dưa hành muối trắng nõn chua thanh, và không thể thiếu những chai rượu chanh màu vàng óng ả sóng sánh trong những chiếc ly mắt trâu thủy tinh bọt bèo.

Bác Cả Thiện đứng giữa nhà, hai tay nâng cao chiếc ly rượu chanh, mặt đỏ bừng vì phấn chấn:

“Kìa bà con xóm ga! Rót đầy chén đi! Hôm nay xóm đường tàu ta không say không về! Cái thằng Bách hợm hĩnh cậy tiền cậy xe Simson tưởng đâu một tay che nổi bầu trời, ai ngờ sa lưới pháp luật, rũ tù trong Hỏa Lò! Còn cha con anh Tấn, cháu An nhà ta, bằng cái tâm của người thợ, bằng mồ hôi nước mắt thật thà, đã đem vinh quang về cho cả khu phố! Nào, cạn ly vì xưởng tiện Đặng gia, vì tương lai của đoàn tàu Thống Nhất!”

“Cạn! Cạn hết vì Đặng gia!”

Tiếng reo hò đồng thanh vang lên át cả tiếng gió bấc gầm rít ngoài mái hiên. Tiếng cốc chén va vào nhau lách cách, tiếng cười giòn tan xua tan hoàn toàn cái lạnh lẽo của những ngày đông u ám vừa qua.

Mấy bác thợ hỏa xa về hưu vỗ vai ông Tấn bôm bốp, vừa nhắm hạt lạc rang vừa rưng rưng nhắc lại những năm tháng chống Mỹ cứu nước bên cung đường lửa, tấm tắc khen ngọn lửa nghề của ông nay đã có người tiếp nối xứng đáng. Các cô, các bác tiểu thương chợ Khâm Thiên thì vây quanh bà Mùi chúc tụng, bảo rằng bà Mùi tu nhân tích đức cả đời nên nay mới được hưởng phúc con trai hiếu thảo, giỏi giang.

Ở một góc sân sau, cạnh chiếc giếng khơi rêu phong, Hoài An đứng rửa tay dưới làn nước mát lạnh. Bác Cả Thiện cùng mấy thanh niên trong xóm — những người từng phải đi bốc vác phụ hồ hay lang thang thất nghiệp vì các nhà máy quốc doanh tinh giản biên chế — đang đứng vây quanh anh, ánh mắt ngập tràn hy vọng.

“Anh An này,” một cậu thanh niên trạc tuổi hai mươi, con trai bác thợ nguội xóm dưới, rụt rè lên tiếng, “nghe nói đợt này xưởng mình mở rộng quy mô, cần thêm người phụ máy với cạo rà chi tiết thô… Anh xem, liệu chúng em có cơ hội vào xưởng học nghề, làm phụ cho anh được không? Chúng em nghèo, nhưng sức dài vai rộng, bảo đảm chăm chỉ, không nề hà việc nặng bẩn thỉu đâu anh!”

Hoài An lau khô tay vào chiếc khăn bông, ánh mắt nhìn thẳng vào từng gương mặt trẻ trung nhưng hằn nỗi âu lo sinh kế của những người bạn cùng lớn lên bên đường tàu. Anh mỉm cười, giọng nói chắc nịch đầy tình nghĩa:

“Các cậu nói gì lạ thế. Đặng gia có được ngày hôm nay là nhờ hạt gạo, cọng rau, từng sợi dây đồng tương trợ của bà con lối xóm lúc hoạn nạn. Khoản tiền tạm ứng của Tổng cục, ngoài việc mua thêm một chiếc máy tiện ren vít vạn năng đời mới của Tiệp Khắc và đặt phôi thép chuẩn từ nhà máy cơ khí trung ương, tôi đã bàn với thầy tôi rồi: Xưởng sẽ tuyển ngay sáu anh em thanh niên trong xóm vào làm việc chính thức! Tôi sẽ đích thân kèm cặp, truyền nghề từ khâu tiện thô đến cạo rà. Lương khoán theo sản phẩm, trả bằng tiền mặt sòng phẳng từng tuần, bảo đảm đủ để anh em lo cho gia đình một cái Tết ấm no!”

Mấy cậu thanh niên sững sờ trong giây lát, rồi bùng lên tiếng reo hò cảm phục. Một người xúc động nắm chặt lấy cánh tay lành lặn của anh: “Anh An! Anh đúng là vị cứu tinh của anh em xóm mình! Chúng em thề sẽ làm việc hết mình, không để anh và bác Tấn phải phiền lòng một ly một lai nào!”

Nhìn cảnh tượng ấy, đứng bên bậu cửa bếp, Thục Quyên cảm thấy sống mũi mình cay cay. Người đàn ông cô trao trọn trái tim là thế đấy — khi hàn vi thì kiên cường bất khuất, khi công thành danh toại thì trước sau như một, mở rộng vòng tay bảo bọc những mảnh đời cơ cực xung quanh mình.

*

Hoàng hôn dần buông xuống. Khách khứa, chòm xóm sau một ngày chung vui dần tản về chuẩn bị bữa cơm tối của mỗi gia đình. Sự huyên náo lắng xuống, trả lại cho xóm ga vẻ tĩnh mịch quen thuộc khi ánh đèn đường vàng vọt bắt đầu bật sáng dọc đường ray.

Trong gian nhà trong, cánh cửa gỗ khép hờ. Trên bức tường vôi cũ, bàn thờ tổ nghề thợ rèn và thợ cơ khí được lau dọn phong quang, sạch sẽ. Ba nén hương trầm vừa được thắp lên, làn khói xanh mỏng manh uốn lượn mang theo mùi thơm thanh tịnh, trầm mặc lan tỏa khắp gian phòng.

Ông Đặng Văn Tấn đứng trước bàn thờ, lưng thẳng tắp dù chân đau. Gương mặt khắc khổ của người thợ già dưới ánh lửa đèn dầu lay động ánh lên vẻ trang nghiêm tuyệt đối. Ông chắp tay vái ba vái, lầm rầm khấn tạ ơn trời đất, tạ ơn các bậc tiền hiền truyền nghề đã che chở cho gia đình vượt qua cơn giông bão.

Xong xuôi, ông quay lại nhìn Hoài An đang đứng nghiêm cẩn phía sau:

“An, lại đây với thầy.”Hoài An bước tới, kính cẩn đứng cạnh cha.

Ông Tấn chậm rãi mở chiếc hòm gỗ sồi nhỏ đặt ngay dưới chân bàn thờ — chiếc hòm mà từ thuở ấu thơ Hoài An chỉ thấy cha mở ra vào những đêm giao thừa thiêng liêng. Từ trong hòm, ông nâng niu lấy ra một vật được bọc kỹ trong lớp vải dạ đỏ.

Lớp vải dạ mở ra. Đó là một chiếc búa tiện thép cán gỗ lim đã lên nước đen bóng. Phần đầu búa bằng thép đặc chủng vuông vức, một đầu vát nhọn dùng để gõ xỉ hàn và căn chỉnh dao tiện, bề mặt kim loại phẳng lì nhẵn thín in dấu thời gian, khắc chìm ba chữ Hán cổ đã mờ: “Đặng Gia Bảo”. Chiếc cán gỗ lim mát rượi, bóng loáng mồ hôi của ba thế hệ thợ cơ khí nhà họ Đặng truyền lại từ thời còn làm phu lò hỏa xa thời Pháp thuộc.

Bàn tay gầy guộc đầy vết đồi mồi của ông Tấn run run nâng chiếc búa lên ngang ngực. Giọng ông nghẹn ngào, trầm đục nhưng chứa chan bao nỗi niềm tích tụ cả một đời:

“An này… Cả đời thầy làm thợ, trải qua bom đạn chiến tranh, trải qua những năm tháng bao cấp đói khổ chia nhau từng hạt bo bo, củ sắn. Thầy từng nghĩ, thời thế đổi thay, đồng tiền làm đảo điên lòng người, cái xưởng thủ công cũ kỹ này rồi sẽ tàn lụi, cái nghề tiện chính trực này rồi sẽ bị những thứ giả trá, chộp giật chôn vùi…”

Một giọt nước mắt đục mờ khẽ lăn dài trên gò má nhăn nheo của người cha già:

“Nhưng con đã chứng minh cho thầy thấy thầy đã lầm. Con không chỉ giữ được chữ tín của người thợ, mà con còn đưa tay nghề của Đặng gia vượt lên một tầm cao mới. Đêm qua dưới gầm máy cứu hộ, nghe tiếng kim loại con cạo rà, thầy biết con đã đạt tới cái đích mà cả đời thầy hằng ao ước. Con đã là một người thợ cả thực thụ, đủ sức gánh vác tương lai của xưởng, của gia đình.”

Ông Tấn trân trọng trao chiếc búa thép gia bảo vào hai bàn tay đang mở rộng của con trai:

“Hôm nay, trước bàn thờ tổ tiên, thầy chính thức trao lại chiếc búa tiện này cho con. Từ nay, con là chủ của xưởng Đặng gia. Hãy nhớ lấy lời thề người thợ: Thép có thể gãy, nhưng tâm người thợ tiện không bao giờ được phép cong vênh!”

Hoài An cảm nhận được sức nặng nghìn cân của chiếc búa truyền đời trên đôi bàn tay mình. Sức nặng ấy không chỉ là trọng lượng của khối thép tôi, mà là trọng trách thiêng liêng, là ngọn lửa nghề của cha ông truyền lại, là niềm tự hào của một dòng họ lao động chân chính.

Nước mắt anh ứa ra, nóng hổi rơi xuống mặt thép bóng loáng. Hoài An nâng hai tay giữ chiếc búa gia bảo ngang ngực, kính cẩn cúi đầu tạ ơn người cha già đã cả đời nhọc nhằn vì mình, rồi xoay người hướng về phía bàn thờ tổ nghề, trang trọng sụp lạy ba lạy tạ ơn tiền nhân. Giọng anh run run nhưng đanh thép:

“Thầy… Con xin nhận lấy kỷ vật của tổ tiên và lời răn dạy của thầy! Đặng Hoài An này xin thề trước anh linh tiên tổ, chừng nào tim con còn đập, tay con còn cầm được thước pan-me và tay quay bàn trượt, con sẽ không bao giờ làm nhơ bẩn danh dự của người thợ, không bao giờ để ngọn lửa nghề Đặng gia lụi tàn!”

Bà Mùi đứng tựa cửa nhìn vào, lấy vạt áo lau nước mắt vì xúc động. Phía sau bà, Thục Quyên lặng lẽ mỉm cười, đôi mắt lấp lánh niềm hạnh phúc vô biên.

*

Đêm mùa đông buông xuống sâu thẳm. Sau bữa cơm tối ấm cúng chỉ có người trong nhà, xóm ga chìm dần vào giấc ngủ yên bình. Ngoài trời gió bấc vẫn thổi từng cơn ràn rạt, nhưng không khí rét buốt dường như bị chặn lại bên ngoài bức tường xưởng tiện.

Hoài An và Thục Quyên cùng bước ra gian xưởng nhỏ. Chiếc đèn bão treo trên xà nhà tỏa ra ánh sáng vàng ấm áp, soi rọi lên đống phôi thép trụ tròn vừa được chiếc xe tải của Tổng cục vận chuyển tới giao vào chập tối. Mùi dầu chống rỉ đặc trưng của thép mới thoang thoảng trong không gian, thơm nồng một mùi vị của sự khởi đầu đầy hứa hẹn.

Hai người ngồi xuống chiếc ghế băng dài bằng gỗ thông kê sát đống phôi thép. Quyên khẽ nép đầu vào bờ vai vững chãi của An, bàn tay anh nhẹ nhàng bao bọc lấy những ngón tay thon mềm của cô.

“Anh An,” Quyên khẽ cất tiếng, giọng êm ả như tiếng gió thoảng qua rặng tre ngõ Khâm Thiên, “hôm nay nhìn anh trên lễ đài Tổng cục, rồi nhìn anh nhận chiếc búa từ tay bác Tấn… Em thấy tự hào về anh biết bao. Cứ như thể tất cả những cay đắng, sợ hãi suốt mấy tháng qua chỉ là một cơn ác mộng vừa tan biến khi trời sáng vậy.”

Hoài An khẽ siết chặt tay cô, ánh mắt nhìn ra khoảng tối mênh mông nơi đường ray chạy dài:

“Cơn ác mộng ấy tan biến là nhờ có em ở bên anh, Quyên ạ. Nếu không có những bát nước chanh gừng của em, không có niềm tin em trao cho anh trong những lúc xưởng bế tắc nhất, anh đã không thể vượt qua nổi. Ngày mai, việc đầu tiên anh làm là cầm tờ séc tạm ứng này ra Ngân hàng Nhà nước rút tiền mặt.”

Anh quay sang nhìn thẳng vào mắt cô, ánh mắt chan chứa sự dịu dàng và kiên định:

“Anh sẽ trích ngay một khoản để thanh toán dứt điểm toàn bộ số nợ gốc và lãi còn lại của mẹ em bên ngoài. Anh không muốn em phải canh cánh trong lòng món nợ ấy thêm một ngày nào nữa. Số tiền còn lại, anh sẽ đầu tư máy móc, trả lương cho thợ xóm mình, và… dành riêng một phần để giúp em sửa sang lại căn gác xép ngõ Khâm Thiên, mua thêm hai chiếc máy may con bướm mới toanh để em mở tiệm may đàng hoàng.”

Nghe những lời ruột gan ấy, Thục Quyên xúc động đến nghẹn lời. Nhưng với lòng tự trọng sâu sắc của người con gái Tràng An, cô khẽ lắc đầu, đưa ngón tay trỏ đặt nhẹ lên bờ môi ấm áp của anh:

“Em cảm ơn tấm lòng của anh, nhưng món nợ của mẹ em, em muốn chính đôi tay em trả dứt điểm. Tiền tạm ứng của Tổng cục là mồ hôi nước mắt của anh và sự nghiệp chung của xưởng, anh phải dồn toàn lực để hoàn thành đơn hàng cho ngành đường sắt, khẳng định uy tín với nhà nước. Còn em… em có đôi bàn tay này, có chiếc máy may con bướm kỷ vật của mẹ, và có năm mươi bộ áo dài gửi vào phương Nam.”

Ánh mắt Quyên rực lên niềm kiêu hãnh tươi sáng:

“Chị Bé Hai nhắn tàu về báo rằng mẫu áo dài cách tân của em được bà con trong Nam chuộng lắm. Chỉ cần chuyến hàng Tết này giao trót lọt, em sẽ có đủ tiền trả nợ sòng phẳng, lại có thêm vốn liếng mở tiệm. Đến lúc đó, chúng mình sẽ cùng nhau làm ăn, cùng nhau chăm lo cho thầy u và hai em ăn học… Một cuộc sống tự chủ, thanh bạch do chính chúng mình làm ra, không phải nhờ vả hay luồn cúi bất kỳ ai, có phải không anh?”

Hoài An nhìn gương mặt thanh tú bừng sáng của người yêu dưới ánh đèn bão, trong lòng dâng lên một niềm cảm phục và yêu thương vô bờ bến. Anh kéo cô sát vào lòng mình, bờ môi khẽ chạm lên vầng trán mịn màng của cô:

“Được, nghe theo em hết. Chúng mình sẽ cùng nhau làm lụng, cùng nhau dựng xây một mái ấm tự do, thanh bạch ngay bên cạnh đường ray này…”

Khoảnh khắc bình yên ngọt ngào bao trùm lấy hai người, chỉ còn tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ cơ khí và tiếng gió đông thì thầm ngoài hiên vắng. Đêm nay, lần đầu tiên sau chuỗi ngày dài giông bão, họ có thể thở phào trút bỏ gánh nặng ngàn cân, cùng hướng về một mùa xuân mới đang ngấp nghé gõ cửa từng mái nhà.

Đúng lúc ấy, từ phía con ngõ Khâm Thiên thông ra đường ray, bỗng vang lên tiếng chuông xe đạp dồn dập, gấp gáp xé tan màn đêm tĩnh mịch:

“Kính coong… kính coong… kính coong!”

Tiếng phanh xe đạp miết mạnh trên mặt đường đá dăm phát ra âm thanh ken két chói tai. Một người đàn ông mặc chiếc áo mưa cánh dơi màu xanh bưu điện, đầu đội mũ cối, chiếc túi bạt bưu phẩm nặng trịch đeo bên hông, hớt hải chống chân xe đạp ngay trước cổng xưởng cơ khí.

Anh bưu tá thở không ra hơi, hai hàm răng va vào nhau lập cập vì lạnh, đưa mắt tìm kiếm rồi cất tiếng gọi thất thanh giữa đêm:

“Có ai ở đây không? Cho hỏi đây có phải xưởng cơ khí Đặng gia không ạ?”

Hoài An vội vàng buông Quyên ra, đứng phắt dậy bước nhanh ra mép hiên xưởng:

“Tôi là Đặng Hoài An đây! Có chuyện gì thế anh bưu tá?”

Người bưu tá quệt vội giọt mồ hôi lạnh trên trán, vội vã thò tay vào chiếc túi bạt chống nước, rút ra một phong bì thư mỏng màu vàng nhạt có in dòng chữ son đỏ chói lọi “HỎA TỐC – BƯU ĐIỆN HÀ NỘI”:

“May quá, hai người vẫn chưa ngủ! Có bức điện tín khẩn từ Sài Gòn gửi ra lúc chập tối, bưu cục ga Hàng Cỏ vừa nhận được qua máy telex lúc chín giờ đêm! Người gửi yêu cầu phát hỏa tốc ngay trong đêm cho người nhận là cô Nguyễn Thục Quyên ở xóm ga Khâm Thiên!”

Thục Quyên nghe thấy tên mình thì tim đập thình thịch, vội vàng bước nhanh tới bên cạnh Hoài An, giọng run run:

“Điện tín khẩn… gửi cho tôi ư?”

“Vâng, đúng cô Nguyễn Thục Quyên rồi!” Anh bưu tá trao chiếc phong bì cùng chiếc bút chì nguyên tử, “Cô ký nhận vào sổ phát hỏa tốc giùm tôi với, điện tín từ tận Chợ Bến Thành gửi ra đấy!”

Bàn tay Thục Quyên run rẩy đón lấy bức điện tín màu vàng. Dưới ánh sáng chập chờn của chiếc đèn bão, cô vội vã xé đường mép dán hồ còn chưa khô hẳn. Tờ giấy viễn thông mỏng manh mở ra trước mắt cô với những dòng chữ in hoa không dấu của máy điện báo cơ khí nhảy múa trước ánh nhìn:

“SAIGON NGAY 24 THANG 12 NAM 1988 — GOI EM THUC QUYEN NGO KHAM THIEN HA NOI — TIN DAI THANG ROI EM OI — TOAN BO 50 BO AO DAI LUA CACH TAN DUA VAO CHO BEN THANH DA DUOC BAN SACH TRONG DUNG MOT NGAY — GIOI THUONG NHAN SAI GON ME PHOM DANG AO CUA EM NHU DIEU DO DANG DAT THEM 100 BO CHO NGUOI TA DI CHOI TET — CHI DANG LEN TAU THONG NHAT RA BAC MANG THEO TOAN BO TIEN HANG VA TIEN THUONG HAU HINH CHO EM — CHUAN BI TIEN VA MAT BANG KHAI TRUONG TIEM MAY LON NHAT KHAM THIEN DI EM GAI — CHI BE HAI.”

Những dòng chữ như nhảy múa trước mắt Thục Quyên. Tờ giấy điện tín mỏng manh rung lên bần bật theo từng nhịp đập thổn thức của lồng ngực cô. Cô đọc đi đọc lại từng từ, từng chữ, như không dám tin vào mắt mình.

Toàn bộ năm mươi bộ áo dài đã bán sạch trong một ngày! Thương nhân Sài Gòn mê mẩn đặt thêm một trăm bộ! Chị Bé Hai đang trên tàu mang tiền công và tiền thưởng hậu hĩnh ra Hà Nội!

Món nợ khổng lồ đè nặng lên vai cô suốt bao tháng ngày… căn bệnh của em Toàn… tương lai của ba chị em… danh dự của tiệm may mẹ để lại… tất cả, tất cả đã được giải thoát trong khoảnh khắc này!

“Anh An… Anh An ơi…”

Thục Quyên nghẹn ngào gọi tên anh. Đôi chân cô mềm nhũn, tờ giấy điện tín rơi nhẹ xuống đống phôi thép mát lạnh. Cô vùi mặt vào ngực Hoài An, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu vỡ òa, tuôn rơi như mưa rào mùa hạ, thấm đẫm vạt áo người thợ tiện. Đó không còn là những giọt nước mắt cay đắng tủi hờn của cô gái mồ côi bị dồn vào chân tường, mà là những giọt nước mắt sung sướng tột cùng của một người lao động chân chính vừa bước qua giông bão để chạm tay vào bình minh.

Hoài An ôm chặt lấy người con gái mình yêu thương nhất trần đời. Giữa đêm đông lạnh giá của Hà Nội những ngày cuối năm 1988, tiếng còi tàu Thống Nhất từ phía sân ga Hàng Cỏ bỗng rúc lên một hồi dài, vang vọng, ngân nga xé tan màn sương mù, như một khúc hoan ca rộn rã báo hiệu mùa xuân Đổi Mới đang rạo rực tràn về trên khắp nẻo đường quê hương.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn