Tiếng kim loại nghiến trên thanh ray rền vang theo từng nhịp chuyển bánh đều đặn của đoàn tàu cứu hộ đang ngược về Hà Nội. Ngồi bên khung cửa sổ mờ đặc hơi nước của buồng lái đầu máy D9E, Đặng Hoài An khẽ tựa vầng trán nóng hổi vào mặt kính lạnh buốt. Cơn gió đông sớm mai lùa qua khe thông gió mang theo hơi sương ẩm ướt của vùng đồng bằng châu thổ, phả vào gương mặt hốc hác, xám xịt vì muội than của người thợ trẻ.
Toàn thân Hoài An rã rời, từng khớp xương như muốn rời ra sau hơn ba tiếng đồng hồ nằm ngửa dưới gầm máy ngập ngụa bùn lầy buốt giá ở cây số 58 Phủ Lý. Chiếc áo bảo hộ lao động bằng vải bạt công nhân rách bươm hai bên mạng sườn, nhuộm đen kịt thứ dầu thải đặc quánh, bết dính vào da thịt lạnh ngắt. Vết chém ở bắp tay anh do đám tay chân của Quốc Bách gây ra mấy hôm trước, sau một đêm dầm nước mưa và mạt sắt, giờ đây sưng tấy lên, nhức nhối giật từng hồi theo nhịp đập của mạch máu.
Thế nhưng, sâu trong lồng ngực Hoài An, một cảm giác nhẹ nhõm vô bờ đang nhen nhóm, ấm áp lạ kỳ.
Dưới sàn thép của buồng lái, khối động cơ diesel khổng lồ đang vận hành giòn giã. Không còn tiếng rít chói tai của kim loại bị cào xé, không còn mùi nồng nặc của dầu cháy khi ổ trục bị bó chết. Cụm bạc lót chế tác từ thép hợp kim C.F.I. 1928 mà chính tay anh vừa cạo rà dã chiến, vừa khom lưng căn chỉnh từng phần trăm milimét giữa đêm mưa bão, đang ôm khít lấy cổ trục số ba, quay êm ru như lướt trên nhung. Mỗi vòng quay trơn tru của bánh thép dưới thân tàu lúc này chính là câu trả lời đanh thép nhất cho phẩm giá của những người thợ cơ khí chân chính.
Hoài An đưa bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì dầu mỡ sờ nhẹ lên cổ mình. Chiếc khăn len màu xanh công nhân vẫn quấn chặt nơi đó. Dù mép khăn đã vương vài vệt nhọ nồi đen sì trong lúc anh lách mình vào gầm máy, nhưng từng sợi len áp sát vào gáy anh vẫn ấm sực, vẫn phảng phất hương bồ kết thanh sạch và mùi nắng hanh ngõ Khâm Thiên. Anh nhắm mắt lại, trong tâm trí hiện lên rõ mồn một ánh mắt kiên nghị nhưng rưng rưng ngấn lệ của Thục Quyên khi cô kiễng chân quàng khăn cho anh trước giờ tàu cứu hộ xuất phát.
Chính hơi ấm ấy đã giữ cho ngọn lửa trong tim anh không bị dập tắt giữa cơn mưa rào buốt giá nơi đồng không mông quạnh.
“An này, uống ngụm nước chè ấm cho lại sức đi con.”
Giọng nói trầm đục của ông Đặng Văn Tấn vang lên bên cạnh. Người thợ già ngồi trên chiếc ghế phụ, chiếc chân thọt duỗi thẳng ra sàn ca-bin để giảm bớt cơn đau nhức buốt xương do thời tiết trở lạnh. Đôi bàn tay gầy guộc đầy vết sẹo hoa râm của ông run run mở nắp chiếc bi-đông sắt, đưa cho con trai. Khóe mắt ông Tấn chằng chịt những nếp nhăn in hằn dấu vết của năm tháng bom đạn đường lầy, nhưng ánh mắt nhìn Hoài An thì lấp lánh niềm tự hào khôn xiết.
Đêm qua, khi chứng kiến con trai một mình dùng mỏ hàn bóc tách khối xỉ gang nóng chảy rồi tỉ mẩn cạo rà dã chiến phục hồi cổ trục xước trong điều kiện ngặt nghèo, ông Tấn hiểu rằng ngọn lửa nghề của gia đình đã tìm được người kế tục xứng đáng nhất.
Hoài An đón lấy chiếc bi-đông, hớp một ngụm nước chè ấm đượm vị chát ngọt, khẽ mỉm cười với cha: “Thầy thấy tiếng máy êm không? Vòng tua máy đã lên đến tám trăm mà kim đồng hồ nhiệt độ ổ trục vẫn chỉ mức sáu mươi độ. Thép C.F.I. của cụm bạc chịu nhiệt tốt quá thầy ạ.”
“Ừ, thép tốt là một phần, nhưng cốt lõi là ở cái tâm và đường cạo rà của người thợ,” ông Tấn vỗ nhẹ lên bờ vai áo ướt sũng của con, giọng nghẹn lại: “Con đã cứu cả đoàn tàu, cứu cả danh dự của cánh thợ đường sắt xóm mình.”
Đúng lúc ấy, chiếc máy vô tuyến điện đàm 2T đặt ở góc buồng lái bỗng vang lên những tiếng rè rè của sóng ngắn, rồi giọng nói đanh gọn, dứt khoát của đồng chí trực ban điều độ Tổng cục Đường sắt vang lên:
“A-lô! Báo cáo đoàn tàu cứu hộ H-02! Có đồng chí Trưởng ban Thanh tra An toàn và đại diện cơ sở Đặng gia trên ca-bin không? Nghe rõ trả lời!”
Vị Trưởng ban Thanh tra đang đứng cạnh người lái tàu lập tức cầm lấy ống nghe, ấn nút phát: “Tôi nghe đây! Tàu H-02 đang qua địa phận Thường Tín, tốc độ bốn mươi lăm cây số một giờ, đầu máy D9E kéo tải trơn tru, tình trạng kỹ thuật hoàn toàn ổn định! Xin nghe thông báo!”
Hoài An nín thở, hướng mắt về phía chiếc loa sắt con cóc. Từng âm thanh phát ra từ ống nghe đều dội thẳng vào tâm can anh:
“Báo cáo đồng chí Trưởng ban! Ban Chỉ đạo chuyên án liên ngành thông báo: Rạng sáng nay, lực lượng Cảnh sát Kinh tế Công an Hà Nội phối hợp Viện Kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã đồng loạt ập vào khám xét trụ sở công ty Á Châu và nhà riêng của Trần Quốc Bách tại phố Huế!”
Cả buồng lái im phăng phắc, chỉ còn tiếng máy nổ trầm rền. Đồng chí trực ban tiếp tục báo cáo theo tác phong quân sự ngắn gọn, rành mạch:
“Mũi trinh sát tại Phúc Xá đã bắt quả tang kho cất giấu hơn một trăm tấn phụ tùng xe lửa dỏm, toàn bộ là phôi gang xốp phế phẩm được mạ crôm giả mạo, cùng hàng ngàn tem kiểm định giả của ngành Đường sắt. Đặc biệt, lực lượng điều tra đã thu hồi các kiện lụa tơ tằm Nam Bộ từng bị tay chân của Bách rạch phá bao bì nhằm triệt hạ uy tín các tiểu thương ngõ Khâm Thiên. Toàn bộ kho hàng và tài liệu sổ sách đã bị niêm phong tại chỗ!”
“Còn đối tượng Bách thì sao?” Vị Trưởng ban Thanh tra sốt sắng hỏi dồn vào ống nghe.
“Báo cáo! Sau khi sự cố tại Phủ Lý vỡ lở, Bách tìm cách bỏ trốn về nội thành gom tiền vàng và giấy tờ giả. Tuy nhiên, mọi ngả đường đã bị phong tỏa. Vào lúc năm giờ ba mươi phút sáng nay, tại bến xe khách phía Nam, các chiến sĩ trinh sát đã tóm gọn Trần Quốc Bách khi hắn đang chuẩn bị bước chân lên chuyến xe khách liên tỉnh để trốn ra vùng biên! Tang vật thu giữ gồm toàn bộ vàng lá, đô la và hộ chiếu giả. Đối tượng đã bị tra còng số tám, áp giải về Trại tạm giam Hỏa Lò để phục vụ điều tra mở rộng!”
Người lái tàu già buông một tay khỏi cần gạt, khẽ reo lên một tiếng hả dạ: “Lưới trời lồng lộng! Đáng đời quân làm ăn gian dối, coi thường tính mạng hành khách!”
Ông Tấn thở phào một hơi dài, ngửa mặt nhìn lên trần ca-bin, đôi bờ mi rung rưng như trút bỏ được tảng đá nặng ngàn cân đè nặng bấy lâu.
Hoài An siết chặt hai bàn tay thô ráp. Từng lời, từng chữ phát ra từ chiếc máy vô tuyến như những nhát búa đập tan bóng đen u ám từng bao phủ lên cuộc sống của gia đình anh và ba chị em Thục Quyên suốt những tháng ngày qua. Công lý đã được thực thi. Những xấp tiền phi pháp, chiếc xe Simson đỏ bóng lộn hay thói hống hách của kẻ ỷ thế cậy tiền cuối cùng đã phải khuất phục trước sự nghiêm minh của pháp luật thời kỳ Đổi Mới.
Anh nghĩ đến đôi bàn tay thoăn thoắt của Quyên bên bàn máy may con bướm, nghĩ đến những giọt nước mắt tủi hờn khi cô bị bọn chủ nợ của Bách đến quấy phá, siết đồ… Giờ đây, nỗi sợ hãi ấy đã vĩnh viễn lùi vào dĩ vãng.
Chưa kịp để mọi người trên ca-bin lắng lại cảm xúc, chiếc máy vô tuyến lại rung lên những hồi tút dài báo hiệu cuộc gọi chuyển tiếp kỹ thuật:
“Kết nối thông báo khẩn từ Hội đồng Kỹ thuật Tổng cục Đường sắt tới ca-bin tàu H-02!”
Giọng nói trang nghiêm của đồng chí Chủ tịch Hội đồng Kỹ thuật vang lên đanh thép:
“Đồng chí Tấn! Đồng chí Hoài An! Hội đồng Kỹ thuật vừa họp khẩn cùng các chuyên gia luyện kim để phân tích độc lập mẫu vật. Kết luận chính thức: Chi tiết bạc lót của Á Châu thu giữ tại Km58 là gang xốp mạ crôm giả mạo, vi phạm nghiêm trọng quy chuẩn an toàn đường sắt. Ngược lại, cụm bạc lót do cơ sở Đặng gia chế tác từ thép C.F.I. 1928 đạt độ chính xác dung sai tuyệt đối, bề mặt cạo rà tiếp xúc hoàn hảo, đạt chuẩn mài mòn tuyệt đối trong điều kiện quá nhiệt, cứu nguy xuất sắc cho hệ thống đầu máy quốc gia! Hội đồng nhất trí biểu dương tinh thần quả cảm và tay nghề bậc thầy của hai cha con!”
“Hoan hô! Tuyệt vời lắm Hoài An ơi!”
Vị Trưởng ban Thanh tra siết chặt lấy bàn tay thô nhám của anh, lắc mạnh: “Cậu thợ trẻ, cậu xứng đáng lắm! Cả ngành Đường sắt phải cảm ơn cha con cậu!”
Hoài An đứng lặng giữa buồng lái, ngực phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập. Một cảm giác kiêu hãnh, tự hào dâng trào làm sống mũi anh cay xè. Những đêm thức trắng bên bàn máy tiện 1A62 rung bần bật, những giọt mồ hôi rơi trên phôi thép nóng rực, những nhát tiện tỉ mẩn từng phần trăm milimét dưới ánh đèn dầu leo lét… tất cả sự nhẫn nại, kiên định và lòng tự trọng của anh đã được đền đáp xứng đáng. Người thợ xóm ga nghèo đã chứng minh được rằng: giá trị chân chính của lao động lương thiện sẽ không bao giờ bị dập tắt trước bất kỳ cạm bẫy kim tiền nào.
Đoàn tàu vượt qua cây cầu thép bắc qua sông Đáy, lướt qua những cánh đồng ngoại thành bảng lảng khói rơm rạ, rồi từ từ tiến vào địa phận nội đô Hà Nội.
Tám giờ ba mươi phút sáng.
Tiếng còi hơi của chiếc đầu máy D9E rúc lên từng hồi dài trầm hùng, vang vọng khắp các ngả đường phố Khâm Thiên và dải xóm đường tàu Lê Duẩn. Âm thanh đanh thép, ngân vang xé toạc màn sương giá buốt của buổi sớm mùa đông năm 1988, như một lời reo ca khải hoàn của công lý và lòng quả cảm.
Bánh xe thép nghiến rầm rập trên những thanh ray quen thuộc, từ từ đưa đoàn tàu trườn chầm chậm vào sân ga Hàng Cỏ.
Qua khung kính buồng lái, Hoài An nhìn ra ngoài và tim anh bỗng thắt lại vì một cảnh tượng xúc động khôn xiết.
Trên thềm ga số một lát gạch xám, không chỉ có những người thợ áo xanh của ngành hỏa xa đứng chờ, mà đông nghịt bà con lối xóm của khu ngõ Khâm Thiên và xóm đường tàu. Dường như cả xóm nghèo đã bỏ dở công việc buổi sớm để ùa ra sân ga. Những chiếc áo bông trần cũ kỹ, những mảnh khăn len bạc màu nhấp nhô giữa làn khói trắng bảng lảng bốc lên từ các nồi xúp-le.
“Kìa! Đoàn tàu cứu viện về rồi!”
“Anh An! Cha con ông Tấn đã về rồi bà con ơi!”
Tiếng reo hò vỡ òa xé tan không khí tĩnh mịch của sân ga. Chú Ba thợ nguội của phân xưởng đầu máy – người bạn già từng cùng ông Tấn vào sinh ra tử thời bom đạn – vừa chạy dọc theo thềm ga vừa vung vẩy chiếc giẻ lau máy trên tay, nước mắt rơm rớm trên gò má nhăn nheo. Bà Mùi chen lấn giữa dòng người, tà áo cánh nâu bạc màu bay phần phật trong gió bấc, hai mắt đỏ hoe vì cả một đêm thức trắng thắp hương khấn vái trước bàn thờ tổ tiên mong cho chồng con tai qua nạn khỏi.
Và ngay phía trước dòng người ấy, Thục Quyên đang đứng đó.Cô mặc chiếc áo bông chần màu mận chín giản dị, mái tóc đen dài mượt mà được cặp gọn gàng sau gáy bằng chiếc kẹp ba lá bằng nhôm sáng loáng. Gương mặt trái xoan thanh tú của cô phảng phất nét hốc hác sau những đêm dài thức trắng bên bàn may để cứu từng dải lụa hẹp, nhưng đôi mắt bồ câu đượm buồn thường ngày giờ đây long lanh ngấn nước, đong đầy niềm hạnh phúc và nỗi nhớ thương dồn nén.
Trên đôi tay mảnh dẻ của Quyên là một chiếc âu men Hải Phòng đựng nước chanh nóng ngâm gừng tươi bốc khói nghi ngút, và bên cánh tay vắt chiếc khăn bông trắng tinh tươm, thơm nức mùi nắng mới. Hai đứa em nhỏ – bé Hiền và bé Toàn – túm chặt lấy vạt áo chị, đôi mắt tròn xoe ngước nhìn về phía ca-bin đầu máy như ngóng đợi một người anh hùng vừa bước ra từ giông bão.
“Kétttt… xình… xịch…”
Đoàn tàu phanh hãm, dừng hẳn lại sát mép thềm ga. Hơi nước xả ra trắng xóa hai bên sườn máy, tạo nên một màn sương khói mờ ảo huyền diệu trong ánh nắng sớm vừa hé rạng.
Hoài An vịn tay vào thanh vịn sắt, bước chầm chậm xuống bậc thang. Cơn gió bấc thổi thốc qua sân ga khiến anh khẽ rùng mình vì ớn lạnh, nhưng hơi ấm từ ánh mắt của những con người đang đứng đợi lập tức xua tan đi tất cả.
Anh đứng sững lại bên mép đường ray. Nhìn người con gái mình yêu thương tha thiết đang đứng giữa làn khói tàu bảng lảng, cổ họng Hoài An bỗng nghẹn ứ lại, bước chân trở nên ngập ngừng, lúng túng. Anh cúi nhìn bộ quần áo bảo hộ rách tơi tả đầy dầu mỡ đen sì của mình, nhìn đôi bàn tay thô ráp cáu bẩn bùn than và vệt máu khô thẫm trên lớp băng gạc ở bắp tay, bỗng thấy ngượng ngùng không dám bước tới gần tà áo sạch sẽ, thanh lịch của cô.
Thế nhưng, Thục Quyên không để anh phải ngập ngừng thêm một khoảnh khắc nào nữa.
Cô đặt vội chiếc âu men lên một kiện hàng gỗ bên thềm ga, cầm lấy chiếc khăn bông rồi bước thoăn thoắt về phía anh. Đôi guốc mộc gõ lách cách giòn giã trên nền gạch sân ga như nhịp thoi đưa quen thuộc của căn gác xép ngõ Khâm Thiên.
“Anh An!”
Tiếng gọi run rẩy bật ra từ lồng ngực người con gái Tràng An. Khi đứng đối diện với Hoài An, nhìn thấy gương mặt hốc hác, đôi môi nứt nẻ vì rét và ánh mắt sáng ngời nhưng trĩu nặng phong trần của anh, những giọt nước mắt kìm nén bấy lâu trên khóe mi Quyên bỗng lăn dài trên đôi gò má ửng hồng.
“Quyên… tôi… người tôi bẩn lắm, toàn bùn đất với dầu mỡ…” Hoài An ngượng nghịu lùi lại nửa bước, giọng khàn đặc như nghẹn lại nơi cổ họng.
“Bẩn cái gì mà bẩn! Mùi mồ hôi của người thợ đàng hoàng, có gì mà bẩn!”
Quyên nghẹn ngào thốt lên, giọng trách móc mà chan chứa yêu thương khôn xiết. Bàn tay mềm mại của cô không hề do dự, giơ chiếc khăn bông trắng tinh áp nhẹ lên gò má gầy guộc của anh, cẩn thận chấm đi những vệt nhọ than và bùn đất bết dính. Đôi bàn tay cô run rẩy lướt qua sống mũi cao cương trực, lau khô giọt mồ hôi lạnh còn vương trên trán anh. Hương thơm thanh khiết của xà phòng cô Ba và hơi ấm dịu dàng từ đôi bàn tay người thương truyền sang khiến tim Hoài An đập rộn ràng, xua tan đi tất cả những mỏi mệt, ê chề của chuỗi ngày gian truân.
“Tàu… thông tuyến rồi, Quyên ạ,” Hoài An nhìn sâu vào đôi mắt ướt đẫm của cô, giọng anh trầm xuống, đong đầy xúc cảm: “Cụm bạc của xưởng mình chạy êm ru. Đầu máy D9E kéo tải trơn tru, không lật tàu, không ai bị thương cả. Đoàn tàu về ga an toàn rồi…”
“Em biết… Em nghe tin báo từ ban điều độ từ lúc trời chưa sáng rồi,” Quyên mỉm cười qua làn nước mắt, nụ cười rạng rỡ như đóa cúc họa mi bừng nở trong sương giá: “Anh làm được rồi, anh An ơi. Cả xóm ga mình, cả phố Khâm Thiên đều tự hào về anh!”
Nhìn giọt nước mắt lăn trên má Thục Quyên, bao nhiêu e dè, mặc cảm nghèo khó tích tụ bao năm qua trong lòng Hoài An bỗng chốc tan biến thành tro bụi. Bỏ mặc vết dầu mỡ đen ngòm trên áo bảo hộ, bỏ mặc ánh nhìn của hàng chục người đang vây quanh, anh bước tới một bước, vòng đôi cánh tay rắn rỏi ôm chặt lấy bờ vai mảnh mai của Thục Quyên vào lòng.
Chiếc áo bông chần màu mận chín của Quyên áp chặt vào lồng ngực vạm vỡ đượm mùi khói dầu của anh. Vết dầu đen sì lập tức thấm qua mép áo lụa, nhưng cô không hề bận tâm, chỉ vùi đầu vào bờ vai vững chãi của Hoài An, hai tay ôm ghì lấy lưng anh.
Trong khoảnh khắc ấy, cả không gian sân ga Hàng Cỏ dường như ngưng đọng lại. Tiếng còi tàu gầm rú, tiếng bánh xe nghiến trên đường ray, tiếng ồn ào của phố xá thời Đổi Mới… tất cả đều lùi xa, nhường chỗ cho nhịp đập thổn thức, giao hòa của hai trái tim đã cùng nhau đi qua giông bão cuộc đời.
Bao nhiêu tủi nhục khi bị chủ nợ siết đồ, bao nhiêu uất ức khi bị kẻ gian vu khống là phường trộm cắp, bao nhiêu đêm dài lo âu thắt ruột trước nguy cơ xưởng tiện phá sản và lao lý… tất cả những gánh nặng tăm tối ấy như được trút bỏ hoàn toàn trong cái ôm siết chặt giữa sân ga rực nắng.
“Hoan hô! Hoan hô thợ cả Hoài An!”
“Tuyệt vời lắm hai đứa ơi!”
Tiếng vỗ tay và tiếng reo hò hân hoan bùng nổ, vang dội thấu tận những vòm thép hoa xám cổ kính của sân ga Hàng Cỏ. Chị Bé Hai từ trong đám đông bước ra, vừa quệt nước mắt xúc động vừa cười lớn, giọng miền Tây hào sảng:
“Trời đất ơi! Coi tụi nó ôm nhau kìa! Đẹp đôi dữ hôn! Chuyến này lụa của tui sống lại, mà xưởng tiện của chú An cũng thành danh rồi nghen! Phen này phải ăn mừng ba ngày ba đêm mới đã!”
Bà Mùi chen vào gần, vừa lau nước mắt vừa đưa bàn tay run rẩy xoa nhẹ lên cánh tay bị thương của con trai: “Khổ thân con tôi… Đêm qua u ở nhà ruột gan như có lửa đốt. Thôi, về nhà u nấu nước lá xông cho, rồi u hầm cho bát cháo gà tía tô ăn cho lại sức con ơi.”
Ông Tấn đứng bên cạnh chiếc gậy tre, nhìn con trai và Thục Quyên, ánh mắt già nua lấp lánh niềm kiêu hãnh sâu kín. Ông quay sang gật đầu với mấy người bạn già xưởng Gia Lâm đang vây quanh chúc mừng, miệng lẩm bẩm: “Thế là yên tâm rồi… Ngọn lửa nghề của Đặng gia… không bao giờ tắt được nữa rồi!”
Thục Quyên ngượng ngùng khẽ buông Hoài An ra, hai má đỏ bừng như gấc chín. Cô vội bưng chiếc âu men nước chanh nóng đưa tới trước mặt anh:
“Anh uống đi, nước chanh mật ong em ngâm gừng ấm đấy, uống cho ấm họng kẻo lạnh.”
Hoài An đón lấy chiếc âu men. Vị nước chanh ngọt thanh của mật ong rừng hòa cùng vị cay nồng của gừng tươi chảy qua cổ họng, xua tan hoàn toàn cảm giác đắng ngắt của khói than và dầu nhớt. Anh nhìn Quyên, nhìn hai đứa nhỏ Hiền và Toàn đang níu lấy vạt áo mình cười toe toét, trong lòng dâng lên một cảm giác bình yên đến nghẹn ngào.
Anh hiểu rằng, sau bao nhiêu thử thách nghiệt ngã của thời cuộc, công lý đã trở về nơi sân ga này. Hạnh phúc đích thực không phải là thứ có thể mua được bằng những xấp tiền phi pháp hay chiếc xe Simson bóng bẩy, mà nó được tôi luyện từ chính mồ hôi, nước mắt và lòng son sắt của những con người lao động chân chính.
Đúng lúc niềm vui đang vỡ òa giữa vòng vây của bà con xóm thợ, từ phía cổng ga thông ra đường Lê Duẩn bỗng vang lên tiếng chuông xe đạp reo vang dồn dập:
“Kính coong… kính coong… Dẹp đường, dẹp đường cho công văn hỏa tốc nào bà con ơi!”
Mọi người đồng loạt quay đầu lại. Bác Cả Thiện đang hối hả đạp chiếc xe đạp Phượng Hoàng cọt kẹt lao như bay vào sân ga. Tà áo đại hàn phanh ra trong gió bấc, gương mặt phúc hậu của người thợ gác ghi già đỏ gay vì đạp xe hết tốc lực, nhưng nụ cười thì rạng rỡ như thể đón Tết sớm.
Chiếc xe phanh “két” một tiếng ngay trước mặt cha con ông Tấn và Hoài An. Bác Cả Thiện nhảy tót xuống đất, không buồn gạt chân chống xe mà để mặc nó dựa vào đống tà-vẹt gỗ bên thềm. Trên tay bác giơ cao một chiếc phong bì thư khổ lớn bằng giấy xi măng dày dặn, góc trên có in dòng chữ đậm nét của Tổng cục Đường sắt Việt Nam, và chính giữa là một con dấu sáp niêm phong màu đỏ chót nổi bật.
“Bác Cả! Có chuyện gì mà bác đạp xe như bay thế?” Hoài An ngạc nhiên hỏi, chiếc âu nước chanh vẫn còn cầm trên tay.
Bác Cả Thiện thở hổn hển, lồng ngực phập phồng, nhưng ánh mắt sáng quắc lên niềm phấn khởi tột cùng. Bác đưa tay vuốt ngực một cái cho thông khí, rồi dõng dạc nói to trước toàn thể bà con xóm ga đang nín thở lắng nghe:
“Tin vui! Tin vui bằng trời cho cả xóm ta đây bà con ơi! Tôi vừa từ văn phòng Ban Chấp hành Công đoàn và Tổng cục Đường sắt chạy sang!”
Bác Cả giơ cao chiếc phong bì có dấu niêm phong đỏ chót lên ngang trán, hướng thẳng về phía cha con Hoài An và Thục Quyên, giọng vang rền, dõng dạc như tiếng loa phóng thanh ga Hàng Cỏ mỗi sớm mai:
“Công văn triệu tập khẩn cấp của Hội đồng Xét duyệt Quốc gia! Toàn bộ hồ sơ kỹ thuật và kết quả thử nghiệm thực tế của xưởng Đặng gia đã được Hội đồng bỏ phiếu tuyệt đối thông qua! Đúng tám giờ sáng ngày mai, tại Hội trường lớn Tổng cục Đường sắt, ngành Đường sắt sẽ tổ chức lễ trọng thể công bố kết quả gói thầu chế tạo phụ tùng nội địa hóa cho toàn bộ đoàn tàu Thống Nhất Bắc – Nam! Mời đại diện cơ sở Đặng Hoài An và nghệ nhân Đặng Văn Tấn có mặt để chính thức nhận quyết định trúng thầu!”
Sân ga Hàng Cỏ lặng đi trong một giây ngắn ngủi trước khi một tràng pháo tay cùng tiếng reo hò vang dội bùng nổ, lan tỏa khắp các ngả đường ray.
Nắng đông lúc này đã hoàn toàn xuyên qua màn sương mù, dát một màu vàng rực rỡ, lấp lánh như bạc lên những thanh ray chạy dài tít tắp về phương Nam. Hoài An nắm chặt lấy bàn tay thon nhỏ của Thục Quyên. Giữa tiếng còi tàu ngân dài giòn giã đón chào một ngày mới, anh nhìn thấy trong mắt cô cả một mùa xuân Đổi Mới đang rạo rực tràn về.