Lời báo động của bác Cả Thiện như một quả bộc phá nổ tung giữa căn phòng tiếp dân của Ủy ban nhân dân phường Khâm Thiên. Bức điện báo khẩn màu vàng nhạt run rẩy trên đôi tay cáu vàng vết dầu luyn của người thợ gác ghi già, những dòng chữ in vội bằng mực tím nhòe nhoẹt bởi nước mưa đông, nhưng từng nét chữ hoa đều đanh lại như một bản án tử thần:
“KHẨN CẤP: ĐẦU MÁY D9E-112 KÉO ĐOÀN TÀU THỐNG NHẤT H-14 VỪA BỊ BÓ CHẾT CỤM BẠC TRỤC TRUYỀN ĐỘNG SỐ BA TẠI CÂY SỐ NĂM MƯƠI TÁM KHU ĐOẠN ĐỒNG VĂN - PHỦ LÝ. NHIỆT ĐỘ CỔ TRỤC TĂNG ĐỘT BIẾN, BẠC LÓT VỠ VỤN, NGUY CƠ GÃY TRỤC LẬT TÀU XUỐNG ĐẦM NƯỚC RẤT CAO. MƯA BÃO LỚN, NƯỚC LŨ SÔNG ĐÁY DÂNG NHANH GÂY SỤT LÚN MÓ TÀ-VẸT. YÊU CẦU ĐỘI CỨU HỘ VÀ TỔ KỸ THUẬT GIA LÂM - HÀNG CỎ ĐIỀU PHỤ TÙNG THAY THẾ KHẨN CẤP ĐẾN HIỆN TRƯỜNG NGAY TRONG ĐÊM!”
Sự im lặng chết chóc bao trùm căn phòng trong chớp mắt, chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe cửa kính vỡ và tiếng mưa đông quất ràn rạt lên mái ngói cổ.
“Keng!”
Chiếc bút máy Trường Sơn trên tay Trần Quốc Bách rơi tuột xuống sàn gạch men hoa, vỡ đôi thân nhựa, mực đen bắn tung tóe lên đôi giày da bóng lộn của hắn. Gương mặt bảnh bao, vênh váo của tay trùm buôn chuyến ban nãy còn hung hăng đòi nợ bỗng chốc trắng bệch như xác chết trôi, hai hàm răng va vào nhau cầm cập phát ra những tiếng va đập khô khốc. Mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa trên trán hắn, hòa cùng lớp sáp vuốt tóc bết dính chảy dài xuống khóe mắt hoảng loạn.
“Không… không thể nào… Chi tiết đó… tôi mua của cơ sở quốc doanh… có hóa đơn mà…” Bách lẩm bẩm trong vô thức, lùi dần từng bước về góc tường, đôi chân run rẩy như muốn sụp xuống.
“Im miệng!” Đại úy Minh gầm lên một tiếng đanh thép, bước xốc tới túm chặt lấy cổ áo bay Liên Xô của Quốc Bách. Đôi mắt người sĩ quan an ninh quắc lên những tia nhìn sắc như dao cạo: “Cơ sở quốc doanh nào bán thứ phôi gang xốp mạ crôm lừa đảo ấy cho anh? Bản kết quả giám định sơ bộ của Viện Cơ khí Đường sắt sáng nay đã kết luận mẫu bạc lót của công ty Á Châu là đồ gia công chắp vá, không có khả năng chịu tải trọng xung kích! Anh đã đút lót cho ai để đưa thứ rác rưởi ấy vào đầu máy thử tải kéo hàng nghìn tấn hàng hóa và tính mạng của anh em tổ lái hả?”
Đại úy Minh quay phắt sang hai chiến sĩ công an đang đứng chốt cửa: “Đồng chí Hùng, đồng chí Tuấn! Lập tức còng tay Trần Quốc Bách, áp giải về phòng tạm giữ của Công an quận Đống Đa! Tịch thu toàn bộ chìa khóa xe máy, niêm phong căn nhà ở phố Huế và tài liệu sổ sách của hắn để phục vụ điều tra mở rộng chuyên án phá hoại an toàn hỏa xa quốc gia!”
“Dạ, rõ!”
Tiếng khóa số tám lách cách vang lên khô khốc đè bẹp những lời van xin đứt quãng, thảm hại của gã đàn ông vừa mấy phút trước còn muốn dùng tiền đè bẹp số phận người khác. Khi Bách bị lôi xềnh xệch qua bậu cửa, ánh mắt hắn chạm phải ánh nhìn rực lửa của Hoài An. Trong mắt chàng thợ tiện trẻ xóm ga không có sự hả hê của kẻ thắng thế, mà chỉ có nỗi căm phẫn tột cùng của một người thợ chân chính trước hành vi làm ăn gian dối, coi rẻ sinh mạng đồng bào.
Nhưng lúc này, tâm trí của Hoài An đã không còn chỗ cho sự thù hận cá nhân.
“Đoàn tàu H-14… đó là chuyến tàu chở đầy lương thực, phân bón và hàng trăm tấn tơ lụa, nông sản chi viện cho hai miền,” ông Tấn run giọng, bàn tay nắm chặt lấy chiếc gậy gỗ nghiến, khớp xương trắng bệch. Đôi mắt người thợ già Gia Lâm ánh lên nỗi kinh hoàng của một người từng nếm trải thảm họa đường sắt: “Khu vực cây số năm mươi tám là dải độc đạo chạy men theo đầm chiêm trũng Phủ Lý, một bên là vách đất bùn sụt lở, một bên là hồ nước sâu ngập trắng xóa. Mùa đông năm sáu bảy, một toa xe hàng từng trật bánh ở đó, phải mất ba ngày đêm mới kéo nổi lên. Nay đầu máy D9E lại bị cháy trục… Trời ơi, nếu trục gãy rời, lực quán tính của hàng chục toa xe nặng hàng nghìn tấn sẽ dồn toa, hất tung cả đoàn tàu xuống đầm nước!”
“Bác Tấn ơi, cháu An ơi!” Bác Cả Thiện nắm lấy cánh tay lành lặn của An, giọng nghẹn ngào: “Tổng cục vừa gọi điện trực tiếp sang ga Hàng Cỏ. Hiện tại tất cả các kho phụ tùng dự trữ của ngành đều không còn cụm bạc lót thép cỡ lớn dành riêng cho ngõng trục D9E. Chiếc duy nhất đạt độ chuẩn xác tuyệt đối đến từng zem, được tôi luyện bằng thép hợp kim cao cấp để có thể lắp khít ngay tại hiện trường mà không cần đưa vào xưởng tiện lớn… chính là chiếc bạc lót C.F.I. của cháu vừa nộp sáng nay!”
“Chiếc bạc lót của cháu?” Hoài An giật thót, lồng ngực đập thình thịch.
“Đúng thế!” Bác Cả gật đầu lia lịa. “Hội đồng kiểm định đã niêm phong nó trong hòm kính, nhưng khi nhận tin khẩn cấp từ Phủ Lý, Cục trưởng Cục Đường sắt đã ra lệnh trưng dụng đặc biệt! Một chiếc xe goòng máy cứu hộ chuyên dụng đang đỗ chờ ở đường ray số một ga Hàng Cỏ, áp lực từng phút một. Họ cần hai bố con cháu – những người trực tiếp tiện và hiểu rõ từng đường ren, thớ thép của chi tiết ấy – đi theo tàu cứu hộ xuống Phủ Lý ngay lập tức!”
Bầu không khí trong phòng chùng xuống nghẹt thở.
Ánh mắt mọi người đều dồn về phía Hoài An. Trên bắp tay phải của anh, dải băng gạc trắng muốt vẫn còn lấm tấm những vệt máu rỉ ra từ vết chém đêm qua. Một người thợ tiện bậc cao sống bằng đôi bàn tay, nay bắp thịt bị rách sâu, liệu có thể chui vào gầm đầu máy đang rung bần bật giữa trời mưa bão để thực hiện một ca đại phẫu kỹ thuật nguy hiểm đến tính mạng?
“An… tay anh…” Thục Quyên khẽ thốt lên, đôi mắt bồ câu đong đầy nước mắt. Cô bước tới bên anh, bàn tay mềm mại khẽ chạm vào mép áo bảo hộ của anh, run rẩy không nỡ buông.
Hoài An nhìn sâu vào mắt người con gái anh yêu. Trong khoảnh khắc ấy, anh nhìn thấy tất cả sự dịu dàng, nỗi xót xa và cả sự kiên cường phi thường của cô gái ngõ Khâm Thiên. Anh đưa bàn tay trái ấm áp nắm lấy những ngón tay đang run rẩy của Quyên, giọng trầm xuống nhưng vững như bàn thạch:
“Quyên, anh phải đi. Dưới gầm đoàn tàu ấy là sự an nguy của các đồng chí lái tàu, là mồ hôi nước mắt của bao chuyến hàng Bắc - Nam, trong đó có cả niềm hy vọng của những người thợ như thầy trò anh, có cả chuyến tàu chở tương lai của chúng ta. Nếu chiếc bạc lót ấy bị bỏ mặc, danh dự của người thợ tiện xóm ga cũng sẽ vùi dập theo bùn lầy Phủ Lý.”
Quyên cắn chặt bờ môi đến rớm máu. Cô không khóc lóc, không ngăn cản. Là con gái của một người lính đã nằm lại chiến trường, cô hiểu rõ thế nào là trách nhiệm trước vận mệnh chung. Cô vội tháo chiếc khăn len màu xanh công nhân trên cổ mình – chiếc khăn mà cô đã thức đêm đan từng mũi len ấm áp – cẩn thận quàng lên cổ Hoài An, kéo cao mép khăn che kín khuôn ngực vạm vỡ của anh.
“Em đợi anh. Thầy và anh nhất định phải bình an trở về. Em sẽ cùng bà con xóm ga nấu một nồi cháo hành thật nóng, thắp sáng ngọn đèn trước cửa xưởng đợi hai người!”
Hoài An siết chặt tay cô một lần cuối, rồi quay sang người cha già: “Thầy, chúng ta về xưởng lấy hòm đồ nghề!”
“Đi!” Ông Tấn chỉ buông một tiếng đanh gọn, chiếc gậy gỗ trong tay dộng mạnh xuống nền gạch, ánh mắt quắc thước như người lính già chuẩn bị bước vào trận đánh lớn nhất của cuộc đời.
*
Cơn bão đông muộn quét qua vùng đồng bằng Bắc Bộ mang theo những đợt gió mùa đông bắc rít liên hồi như xé vải. Mưa như trút nước, quất thẳng vào khoang lái hở của chiếc xe goòng máy cứu hộ đang lao xé màn đêm trên đường ray độc đạo hướng về phía nam.
Tiếng động cơ diesel hai kỳ của chiếc xe goòng gầm rú đinh tai nhức óc, bánh sắt rít lên từng hồi ken két trên thanh ray trơn trượt. Đêm đen như mực bao trùm lấy những cánh đồng ngập nước của Hà Nam Ninh. Thi thoảng, một tia chớp rạch ngang bầu trời xám xịt, soi rõ những rặng chuối đổ rạp ven đường và dòng nước sông Đáy đỏ ngầu đang cuồn cuộn dâng mấp mé bờ taluy đá hộc.
Trong khoang xe, Hoài An ngồi thụp bên hòm đồ nghề bằng gỗ nghiến bọc sắt của gia đình. Anh cẩn thận kiểm tra từng món bảo bối: bộ vam cảo ba chấu bằng thép đúc Liên Xô, những chiếc búa đồng chuyên dụng không đánh ra tia lửa, giũa thép Thụy Điển, đục nguội hợp kim, hai bình khí oxy và axetylen cỡ nhỏ dùng cho mỏ hàn cắt, cùng chiếc hộp gỗ lót nhung đỏ chứa cụm bạc lót C.F.I. 1928 do chính tay anh hoàn thiện. Chiếc bạc lót bằng thép hợp kim niken-crom sáng lóa dưới ánh đèn pin, bề mặt nhẵn bóng như gương, không một vết xước dù là nhỏ nhất.
Ông Tấn ngồi bên cạnh, một tay bám chặt vào thành xe để giữ thăng bằng cho bên chân thọt, tay kia run run dùng cồn đỏ sát trùng lại vết thương trên cánh tay cho con trai.
“Đau không con?” Ông lão hỏi, giọng át đi tiếng gió gầm.
“Không đau, thầy ạ. Thuốc tê của trạm xá vẫn còn tác dụng,” Hoài An mỉm cười trấn an cha, dù mỗi lần chiếc xe goòng xóc nảy qua mối nối đường ray, vết khâu ở bắp tay lại giật thắt lên từng cơn buốt nhói.
“Nghe thầy dặn đây,” ông Tấn ghé sát tai An, giọng nghiêm cẩn truyền thụ kinh nghiệm xương máu của bốn mươi năm nghề thợ: “Trục xe lửa bị bó cháy không giống như trục máy tiện trong xưởng. Khi kim loại chịu ma sát c**ng b*c ở nhiệt độ hàng nghìn độ, gang xốp của thằng Bách chắc chắn đã biến tính, chảy dẻo rồi kết tinh lại, hàn chết ngàm trục vào cổ trục chính. Nếu dùng búa tạ nện bừa bãi, trục sẽ cong vênh vĩnh viễn, hoặc tệ hơn là nứt gãy ngang thân. Con phải dùng ngọn lửa đèn khò nung nở lớp ngoài, dùng cảo kích từ từ, và quan trọng nhất… phải dùng đôi tai để nghe tiếng kim loại thở. Khi nào nghe tiếng ‘tách’ thanh tao như tiếng mảnh sành tách khỏi miệng chén, đó mới là lúc kim loại chịu nhả!”
“Con nhớ rồi, thưa thầy!” Hoài An gật đầu, ánh mắt kiên định nhìn thẳng vào màn đêm dông bão phía trước.
Sau gần hai tiếng đồng hồ gầm rú vượt qua mưa gió, chiếc xe goòng bắt đầu giảm tốc.
Từ xa, qua màn mưa mịt mù, hiện trường vụ tai nạn hiện ra như một bãi chiến trường rực lửa trong đêm. Hàng chục ngọn đèn măng-sông và đuốc dầu hỏa cắm dọc theo bờ đường ray lập lòe trước gió bão. Đoàn tàu Thống Nhất H-14 dài dằng dặc như một con trăn khổng lồ bằng thép nằm chết dí giữa dải đất hẹp bao quanh bởi biển nước mênh mông. Đầu máy D9E số hiệu một một hai nặng gần sáu mươi tấn đang hơi nghiêng về phía taluy âm, nơi nền đất đá bắt đầu có hiện tượng sạt trượt. Khói đen khét lẹt nồng nặc mùi cao su cháy và mỡ bò biến tính bốc lên cuồn cuộn từ cụm bánh xe số ba, bị gió mưa tạt tơi bời.
Hàng chục công nhân đường sắt mặc áo tơi lá, đội mũ sắt đang tuyệt vọng dùng xô múc nước tạt vào gầm tàu hòng hạ nhiệt, nhưng từng gáo nước vừa chạm vào cổ trục đã bốc hơi xèo xèo, nổ lách tách như rang ngô.
“Đội cứu hộ Hàng Cỏ đến rồi! Thợ tiện Đặng gia đến rồi!” Tiếng reo hò của ai đó vang lên giữa tiếng mưa gầm.
Trưởng tàu và Đội trưởng cứu nạn kỹ thuật chạy xộc tới, mặt mũi ám đầy bồ hóng, quần áo ướt sũng bùn đất. Người đội trưởng nắm chặt lấy tay ông Tấn, giọng lạc đi vì tuyệt vọng:
“Bác Tấn ơi! Nguy cấp lắm rồi! Cổ trục bánh số ba nóng đỏ rực, nhiệt độ đo được cách đây nửa tiếng đã vượt quá năm trăm độ! Bạc lót của cái công ty Á Châu chết tiệt kia bị vỡ vụn, các mảnh gang vụn chèn cứng vào khe hở làm kẹt cứng bánh xe, trượt dài trên ray hơn năm mươi mét làm mòn vẹt cả mặt lăn! Tàu cứu viện hạng nặng mang cần cẩu từ Nam Định không thể tiếp cận vì cầu đường sắt phía sau đang bị ngập lụt. Nếu trong vòng một tiếng nữa không giải phóng được trục quay để kéo đoàn tàu qua khỏi đoạn sạt lở này về ga Phủ Lý, nền đất sẽ sụp, đoàn tàu sẽ lật nghiêng xuống đầm nước!”
Hoài An không đợi hết câu. Anh lập tức khoác túi đồ nghề chuyên dụng lên vai, tay xách mỏ hàn và chiếc hộp gỗ đựng bạc lót C.F.I., bước phăm phăm về phía đầu máy khổng lồ.
“An! Cẩn thận đấy con!” Ông Tấn gọi với theo, đôi mắt già nua ngân ngấn nước.
*
Gầm đầu máy D9E là một địa ngục thực sự.
Khoảng không gian chật hẹp chỉ vừa một người nằm lọt thỏm giữa những thanh giằng thép khổng lồ và đống lò xo giảm chấn bám đầy bùn đất nhão nhoét. Phía dưới lưng Hoài An là lớp đá ba-la lởm chởm ngập trong nước lạnh buốt đến thấu xương; nhưng ngay trên đỉnh đầu anh, bức xạ nhiệt từ hộp trục truyền động tỏa ra hầm hập như một lò nung vôi. Hơi nóng gay gắt cộng với mùi dầu mỡ cháy khét khiến buồng phổi anh bỏng rát, ngạt thở.
Hoài An nằm ngửa, kẹp chặt chiếc đèn pin chuyên dụng vào giữa hai hàm răng, ánh sáng vàng vọt rọi thẳng vào cụm bạc lót bị nạn.
Cảnh tượng trước mắt khiến chàng thợ tiện bậc cao phải rùng mình.
Cái gọi là “bạc lót hợp kim cao cấp” của Quốc Bách thực chất chỉ là một khối gang xám rẻ tiền được mạ một lớp crôm mỏng manh bên ngoài để đánh lừa mắt thường. Dưới tải trọng hàng chục tấn và vận tốc cao trên hành trình dài, lớp crôm đã bong tróc như vảy cá, để lộ phần lõi gang xốp giòn rụm. Kim loại gang đã nứt toác thành hàng chục mảnh vụn sắc nhọn, găm ngập vào bề mặt cổ trục truyền động bằng thép tôi. Nhiệt độ ma sát kinh hoàng đã làm các mảnh vụn nóng chảy một phần, kết dính thành một khối xỉ kim loại đen ngòm, xù xì, bóp nghẹt lấy ngõng trục như một chiếc gông cùm rực lửa.
“Khốn nạn thật! Chúng nó dám đem sinh mạng của bao nhiêu con người ra làm trò đùa!” Hoài An nghiến răng, căm phẫn thốt lên qua kẽ răng kẹp đèn pin.
“An ơi! Tình hình thế nào?” Tiếng ông Tấn vọng vào từ bên ngoài thành tàu, át tiếng mưa gió.
“Trục bị xỉ gang hàn chết rồi thầy ơi! Ngàm giữ nắp hộp bạc bị biến dạng, không thể tháo ốc lỏng theo cách thông thường!” Hoài An hét trả lời, nước mưa từ trên xà dọc đầu máy nhỏ tong tỏng xuống mặt anh, hòa cùng những giọt mồ hôi mặn chát.
“Dùng mỏ cắt axetylen xẻ rãnh nắp hộp! Nhưng phải tuyệt đối cẩn thận ngọn lửa, chỉ một tia nhiệt chạm vào bề mặt cổ trục chính là hỏng toàn bộ độ cứng tế vi của thép!” Giọng người cha truyền vào đầy căng thẳng.
“Con hiểu rồi!”
Hoài An hít một hơi thật sâu. Anh gạt phắt cảm giác đau nhức nhối đang giần giật nơi bắp tay phải bị thương. Toàn bộ ý chí, nghị lực và lòng tự trọng của một đời cầm búa tiện trỗi dậy mãnh liệt trong huyết quản. Anh vặn van bình khí, bật mồi lửa.
“Phụt!”
Một ngọn lửa xanh lét, sắc lẹm bùng lên từ đầu mỏ hàn, rít lên xé gió. Trong không gian chật hẹp đến mức cùi chỏ chạm vào khung sắt, Hoài An điều khiển ngọn lửa với sự chuẩn xác phi thường. Đôi bàn tay chai sạn của anh – đôi bàn tay từng mài giũa hàng nghìn chi tiết máy chính xác đến từng zem – vững như gắn chặt vào không gian. Ngọn lửa hồ quang xanh biếc lướt đi thoăn thoắt, cắt đứt từng bu-lông biến dạng và xẻ đôi chiếc nắp hộp bạc bị kẹt mà không hề chạm phạm dù chỉ nửa milimet vào thân trục truyền động.Những tia lửa hoa cải bắn tung tóe vào tấm áo bảo hộ của anh, làm cháy xém những mảng vải thô, mùi khét lẹt bốc lên nồng nặc. Nước bùn dưới lưng anh sôi lên sùng sục. Vết thương ở bắp tay An toạc ra dưới áp lực gồng cơ, máu đỏ thấm đẫm dải băng trắng rỉ ra ngoài tay áo, nhưng anh dường như không còn cảm giác đau đớn thể xác. Trong mắt anh lúc này chỉ còn lại khối kim loại đang quằn quại và ranh giới mong manh giữa sự an toàn và thảm họa.
“Cạch!”
Nửa chiếc nắp hộp văng ra, rơi tõm xuống vũng bùn.
“Đưa vam ba chấu vào!” Hoài An gầm lên.
Bên ngoài, hai người thợ cứu hộ lập tức luồn chiếc vam cảo hạng nặng bằng thép Liên Xô vào gầm tàu. Hoài An gài ba chiếc chấu thép ngoạm chặt vào gờ của khối xỉ bạc lót bị bó chết. Anh lắp tay công, bắt đầu siết ốc kích tâm.
“Một… hai… ba… Lên!”
Mỗi vòng xoay của tay công là một cực hình. Toàn bộ trọng lực cơ thể và sức mạnh của đôi vai rộng dồn vào từng nhịp vặn. Răng sắt nghiến vào nhau ken két. Khối kim loại cứng đầu vẫn trơ ra như đá tảng, nhiệt ma sát vẫn bốc khói nghi ngút.
“An! Nghe kim loại! Đừng c**ng b*c!” Tiếng ông Tấn vang lên từ bên ngoài, như một hồi chuông cảnh tỉnh.
Hoài An dừng tay lại nửa giây. Anh áp tai sát vào vỏ hộp truyền động, nhắm nghiền hai mắt lại giữa tiếng mưa gầm và tiếng gió bão rít qua thanh ray. Trong sự hỗn loạn của đất trời, người thợ tiện bậc 7 kích hoạt giác quan nhạy bén nhất của mình. Anh nghe thấy tiếng thở dồn dập của chính mình, và sâu thẳm bên trong khối thép nung, anh nghe thấy những rung động vi mô của các tinh thể kim loại đang giãn nở không đều.
Anh điều chỉnh lại ngọn lửa mỏ hàn, hơ đều xung quanh vòng ngoài của khối xỉ gang để tạo độ chênh lệch nhiệt lượng với trục thép bên trong.
Năm giây… mười giây…
“Tách!”
Một âm thanh cực nhỏ, trong trẻo và sắc gọn vang lên giữa lòng thép nóng.
“Nó nhả rồi!”
Hoài An mở bừng mắt, gân xanh trên trán nổi cuồn cuộn. Bằng một cú gồng mình dũng mãnh dồn toàn bộ sức lực của cơ bắp và ý chí, anh giật mạnh tay công cảo.
“KENG!”
Một tiếng nổ kim loại vang dội làm rung chuyển cả gầm xe. Khối xỉ gang mạ crôm đen đúa, vỡ nát của Quốc Bách cuối cùng đã bị bóc tách hoàn toàn, văng mạnh ra khỏi cổ trục, rơi xèo xèo xuống vũng nước mưa bốc lên làn khói trắng xóa nồng nặc mùi lưu huỳnh.
Hoài An th* d*c, toàn thân ướt đẫm mồ hôi và bùn non, ngực phập phồng dữ dội. Nhưng anh không cho phép mình nghỉ ngơi dù chỉ một giây.
Anh đưa ngón tay trần – những đầu ngón tay thợ tiện mẫn cảm đến mức có thể cảm nhận được hạt bụi nhỏ bằng phần nghìn milimet – vuốt nhẹ lên bề mặt cổ trục vừa lộ ra. Tim anh thắt lại: trên bề mặt thép sáng bóng ngày nào giờ chằng chịt những rãnh cào sâu hoắm do các mảnh gang xốp của Bách nghiến vào khi bị bó phanh.
“Cổ trục bị xước rãnh sâu quá thầy ơi!” Hoài An hét ra ngoài. “Nếu để thế này lắp bạc mới vào, ma sát sẽ lại phá hủy bạc lót ngay lập tức!”
“Không thể đưa máy tiện cơ động vào đây lúc này được!” Tiếng Đội trưởng cứu nạn kỹ thuật vọng vào trong tuyệt vọng: “Nước sông Đáy đang tràn qua mặt đê rồi các đồng chí ơi! Mười lăm phút nữa nền đất sẽ nhão thành bùn loãng, tàu sẽ trôi mất!”
Một sự im lặng ngột ngạt đè nặng. Tất cả các kỹ sư hỏa xa có mặt tại hiện trường đều hiểu: gọt sửa cổ trục xe lửa ngay tại hiện trường dã chiến, dưới trời mưa bão và bùn lầy, là điều không một cuốn sách giáo khoa kỹ thuật nào trên thế giới dám ghi nhận. Đó là việc bất khả thi!
“Để tôi cạo rà nguội!” Hoài An gằn từng tiếng, giọng đanh chắc như thép tôi.
“Con bảo sao? Cạo rà bằng tay á?” Ông Tấn thảng thốt cúi rạp người nhìn vào gầm máy, đôi mắt mở to kinh ngạc.
“Vâng! Bằng tay! Con sẽ dùng dao cạo rà tam giác và đá mài dầu đánh bóng thủ công! Đôi tay con chính là máy tiện!”
Không đợi ai kịp can ngăn hay nghi ngờ, Hoài An rút từ trong túi đồ nghề ra chiếc dao cạo rà ba cạnh bằng thép gió Thụy Điển – kỷ vật mà ông Tấn đã tặng anh ngày anh thi đỗ thợ bậc 3. Anh bôi một lớp dầu mỏng lên lưỡi dao, rồi bằng một tư thế nằm ngửa cực kỳ khó khăn, anh bắt đầu đưa lưỡi dao áp sát vào bề mặt kim loại bị tổn thương.
“Xoẹt… xoẹt… xoẹt…”
Tiếng thép gió gọt vào thép hợp kim phát ra đều đặn, nhịp nhàng như một bản hòa tấu kỳ lạ giữa đêm dông bão. Dưới ánh sáng vàng vọt của chiếc đèn pin, từng dải mạt thép mỏng dính như sợi tơ tằm uốn cong, rơi lả tả xuống ngực áo người thợ trẻ. Hoài An không cần thước cặp đồng hồ hay pan-me điện tử. Anh đo độ tròn của cổ trục bằng chính sự ma sát của lưỡi dao, đo độ nhẵn bằng sự trượt êm của đầu ngón tay cái chai sạn. Mỗi nhát gọt của anh chuẩn xác đến mức kinh ngạc, san phẳng từng gờ xước, khôi phục lại độ đồng tâm hoàn hảo của khối thép tròn xoay.
Bên ngoài, hàng chục con người nín thở theo dõi. Không ai dám cất tiếng động, chỉ còn tiếng mưa rơi lộp bộp trên mũ sắt và tiếng “xoẹt… xoẹt…” kiên trì, bền bỉ của người thợ xóm ga đang chạy đua với tử thần.
Tám phút trôi qua.
Hoài An buông dao cạo rà. Anh cầm thanh đá mài dầu mịn màu xanh ngọc, miết lia lịa quanh cổ trục cho đến khi bề mặt kim loại phản chiếu ánh đèn pin lấp lánh như một tấm gương bạc không tì vết.
“Thầy ơi! Đưa cụm bạc C.F.I. vào cho con!”
Chiếc hộp gỗ lót nhung đỏ lập tức được chuyền vào gầm tàu. Hoài An mở nắp hộp. Cặp bán nguyệt bạc lót bằng thép niken-crom năm 1928 ánh lên sắc xanh thẫm kiêu hãnh của dòng thép hỏa xa huyền thoại. Anh nâng niu chi tiết máy bằng cả hai bàn tay nhuốm đầy máu và dầu luyn, nhẹ nhàng ốp nửa dưới vào ngàm trục, rồi úp nửa trên khớp lại.
“Khục!”
Một tiếng khớp cơ khí đầm chắc, ngọt lịm vang lên. Không một khe hở. Không một độ rơ lắc. Hai nửa bạc lót ôm khít lấy cổ trục truyền động như da thịt liền vào xương tủy, chính xác tuyệt đối đến từng phần trăm milimet!
Hoài An siết chặt bốn chiếc bu-lông định vị bằng cờ-lê cân lực, rồi lắp nắp chắn bụi, bơm đầy mỡ bò chịu nhiệt vào khoang bôi trơn.
“Xong rồi!” Hoài An hét lớn, giọng khản đặc nhưng vang rền như sấm giữa màn đêm: “Khóa mỡ hoàn tất! Rút chèn ray! Cho thử máy đi!”
Người thợ trẻ lết mình ra khỏi gầm tàu. Khi anh vừa trồi lên khỏi đống bùn lầy, hai người thợ cứu hộ vội lao tới đỡ lấy anh. Toàn thân Hoài An bê bết bùn đất, dầu mỡ đen sì từ đầu đến chân, chiếc áo bảo hộ rách tơi tả lộ ra bờ vai cuồn cuộn khói nóng bốc lên ngùn ngụt, nhưng đôi mắt anh sáng rực rỡ như hai vì sao mai.
“Đồng chí lái tàu! Đóng cầu dao khởi động!” Đội trưởng cứu nạn vung cờ lệnh hét lớn.
Trên ca-bin đầu máy D9E, người lái tàu già xúc động gạt nước mắt, kéo mạnh cần số khởi động.
“Xình xịch… xình xịch… ẦM ẦM ẦM!”
Động cơ diesel khổng lồ gầm vang lên những tiếng nổ giòn giã, xé toạc màn mưa đêm mịt mùng. Khói xả màu xám bạc cuộn tròn phun thẳng lên bầu trời dông bão. Cần truyền động bắt đầu chuyển động, kéo theo trục bánh số ba từ từ lăn bánh.
Một vòng… hai vòng… mười vòng…
Bánh xe thép khổng lồ quay tít, êm ru như lướt trên nhung! Cụm bạc lót C.F.I. hoạt động hoàn hảo, không một tiếng rít, không một gợn ma sát, không hề bốc lên dù chỉ một sợi khói nhỏ!
“Được rồi! Trục trơn tru rồi! Đoàn tàu chuyển động rồi!”
Tiếng reo hò vỡ òa xé tan màn đêm mưa bão ở ga Phủ Lý. Hàng chục công nhân đường sắt, lái tàu và đội cứu hộ ôm chầm lấy nhau nhảy múa giữa bùn lầy, nước mắt chan hòa cùng nước mưa đông buốt giá. Chiếc đầu máy D9E hú lên một hồi còi dài vang vọng khắp núi đồi sông nước Hà Nam Ninh, từ từ kéo toàn bộ hàng chục toa xe hàng nặng nghìn tấn thoát khỏi dải đất sạt lở nguy hiểm, chuyển bánh an toàn tiến về phía sân ga Phủ Lý.
Ông Tấn đứng lặng giữa làn mưa phùn, run rẩy vứt bỏ chiếc gậy gỗ, bước tới ôm ghì lấy bờ vai ướt sũng của con trai mình. Người thợ già từng vào sinh ra tử trên những tuyến đường lửa đạn nghẹn ngào không nói nên lời, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài qua những nếp nhăn nheo hằn sâu trên gò má xạm đen phong trần.
“Con làm được rồi, An ơi… Con đã cứu cả đoàn tàu… Con xứng đáng là người thợ cả của xóm ga này!”
Hoài An tựa đầu vào vai cha, khóe mắt anh bỗng nhòa đi. Qua màn mưa giăng mắc mịt mùng, anh nhìn về hướng bắc xa xăm, nơi có ngọn đèn dầu ấm áp trong căn gác xép ngõ Khâm Thiên, nơi Thục Quyên đang thức trắng đêm chờ anh trở về. Chiếc khăn len xanh trên cổ anh vẫn ấm sực mùi hương bồ kết dịu dàng của người con gái Tràng An, xua tan đi tất cả cái giá lạnh thấu xương của mùa đông năm 1988.
Giữa lúc ấy, ánh đèn pha cực mạnh của chiếc xe com-măng-ca của lực lượng An toàn Đường sắt và Thanh tra Bộ Giao thông Vận tải vừa kịp trườn tới hiện trường.
Đồng chí Trưởng ban Thanh tra An toàn Đường sắt cùng hai cán bộ kỹ thuật pháp y hình sự bước nhanh xuống lòng đường ray ngập nước. Họ quỳ xuống bên vũng bùn, cẩn thận dùng kẹp gắp từng mảnh kim loại gang vụn nát, cháy đen, nham nhở của cụm bạc lót do công ty Á Châu cung cấp đặt vào chiếc hộp sắt chuyên dụng có dán niêm phong đỏ.
Một biên bản khám nghiệm hiện trường khẩn cấp được lập ngay trên nắp ca-pô chiếc xe com-măng-ca dưới ánh đèn pin lập lòe.
Nét bút của vị thanh tra trưởng ấn mạnh xuống mặt giấy than, từng dòng chữ sắc lạnh như thép khắc sâu tội ác:
“Biên bản giám định kỹ thuật hiện trường tại cây số 58: Thu giữ toàn bộ tang vật gồm 14 mảnh vỡ của chi tiết bạc lót nhãn hiệu Á Châu do cơ sở Trần Quốc Bách cung ứng. Kết luận ban đầu: Chi tiết sử dụng vật liệu gang tạp chất kém chất lượng, giả mạo mác thép hợp kim, là nguyên nhân trực tiếp gây cháy trục, tê liệt đầu máy D9E-112, đe dọa nghiêm trọng an toàn giao thông đường sắt quốc gia. Toàn bộ tang vật được chuyển giao ngay trong đêm cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra để khởi tố vụ án hình sự về tội phá hoại công trình, phương tiện giao thông vận tải trọng yếu…”
Đêm đông Phủ Lý dần trôi về sáng. Tiếng còi tàu cứu viện lại vang lên giòn giã trên thanh ray vừa được giải phóng, báo hiệu bóng tối của sự gian dối đã bị bẻ gãy, nhường chỗ cho bình minh của công lý và danh dự người thợ chân chính bắt đầu ló rạng phía chân trời.