Tiếng Còi Tàu Năm Ấy Về Ga
Chương 20: Tiếng còi tàu năm ấy về ga
Nắng sớm mùa xuân năm 1989 không còn mang cái vẻ hanh hao, buốt giá của những ngày đông tàn ngập tràn âu lo. Nắng rọi qua vòm kính cao rộng của nhà ga Hàng Cỏ, xuyên qua những làn khói mỏng manh còn sót lại từ những ấm nước sôi pha trà, dát lên những thanh ray rỉ sét một màu vàng óng ả như mật ong mới rót. Gió sông Hồng thổi thốc qua phố Khâm Thiên, luồn vào từng ngõ sâu, mang theo hơi thở tươi tắn của chồi non lộc biếc và hương thơm ngai ngái, nồng đượm của đất trời vừa bước qua thời khắc giao mùa.
Sân ga số một sáng hôm nay rực rỡ đến mức khiến những hành khách đợi tàu liên tỉnh ngỡ ngàng ngỡ như mình vừa bước lạc vào một ngày hội lớn.
Không có cảnh chen lấn, xô đẩy của những gánh hàng chuyến trốn thuế, không còn bóng dáng những gã phe vé lấm lét bên chân cột đèn, cũng chẳng còn nỗi phấp phỏng của những phận người oằn mình dưới sức ép cơm áo gạo tiền thời mở cửa. Thay vào đó, cả dải thềm ga dài hàng trăm mét được quét dọn sạch bóng. Những lá cờ đỏ sao vàng cùng cờ dây tam giác ngũ sắc chăng ngang dọc dưới mái hiên sắt. Giữa thềm ga, một chiếc cổng chào kết bằng lá dừa nước xanh mướt chuyển từ miền Tây ra, điểm xuyết những chùm hoa huệ trắng tinh khôi và những nhành đào phai Nhật Tân thắm sắc, đung đưa kiêu hãnh trong gió sớm.
Đứng giữa vòng vây của hàng trăm nụ cười rạng rỡ, Đặng Hoài An cảm thấy lồng ngực mình căng tràn một luồng khí ấm áp đến nghẹn ngào.
Anh mặc bộ âu phục màu ghi sáng được chính tay Thục Quyên đo ni đóng giày, cắt may từ mảnh vải dạ ngoại nhập quý giá do chị Bé Hai gửi tặng. Cổ áo sơ mi trắng tinh khôi ôm vừa vặn lấy bờ vai rộng vững chãi của người thợ tiện. Đôi bàn tay vốn quen cầm dũa, nẹp thước cặp và đen nhẻm dầu mỡ máy, hôm nay đã được kỳ cọ sạch sẽ, dẫu những vết chai sần nơi lòng bàn tay và đầu ngón trỏ vẫn hằn sâu như dấu ấn của một đời gắn bó với mạt sắt. Trên ngón áp út của anh, chiếc nhẫn cưới bằng bạc bóng loáng – chiếc nhẫn do chính tay anh nấu chảy từ đôi hoa tai của mẹ, miệt mài tiện ren siêu vi và cạo rà từng đường vân bánh răng lồng khít dải lụa mềm – đang bắt lấy ánh ban mai, lấp lánh thứ ánh sáng kiên định và thanh sạch.
“Kìa! Chú rể ngẩn ngơ nhìn ai mà mắt không chớp thế kia!”
Tiếng trêu chọc giòn tan của bác Cả Thiện vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ của Hoài An. Người thợ gác ghi già của xóm ga hôm nay diện bộ đồng phục đại lễ ngành hỏa xa phẳng phiu, chiếc mũ kepi đội ngay ngắn trên mái tóc bạc phơ, ngực áo lấp lánh tấm Huân chương Lao động hạng Ba. Bác vỗ mạnh vào bắp tay Hoài An, nụ cười làm rạng rỡ cả những nếp nhăn chân chim nơi khóe mắt:
“Được lắm con ạ! Cả đời bác đứng ở cái ga Hàng Cỏ này bốn mươi năm có lẻ, chứng kiến hàng vạn chuyến tàu vào Nam ra Bắc, đón bao cảnh biệt ly trùng phùng, nhưng chưa bao giờ thấy một ngày nào đẹp đẽ, hởi lòng hởi dạ như ngày hôm nay!”
Tiếng reo hò bỗng nhiên vỡ òa từ phía cổng soát vé. Đám đông tự động dạt sang hai bên, nhường lối cho đoàn người đang thong dong tiến vào thềm ga.
Trái tim Hoài An như lỡ đi một nhịp.
Giữa khoảng trời ngập nắng, Thục Quyên thướt tha bước đi bên cạnh hai em. Nàng mặc chiếc áo dài cưới bằng lụa tơ tằm Nam Bộ màu đỏ gạch – màu đỏ trầm ấm của đất phù sa, của những viên ngói cổ Khâm Thiên sau bom đạn, và cũng là màu lửa hàn cháy sáng trong xưởng tiện những đêm đông gian khó. Tà áo dài chiết eo khéo léo theo phom dáng cách tân mới mẻ, ôm lấy thân hình mảnh mai nhưng dẻo dai của cô thợ may phố nghèo. Dọc theo vạt áo trước, nhành hoa đào phai thêu tay bằng chỉ tơ ngũ sắc như đang rung rinh nở rộ theo từng nhịp bước chân uyển chuyển. Mái tóc đen nhánh của nàng được búi gọn gàng sau gáy theo nền nếp phụ nữ Tràng An, để lộ chiếc cổ cao thanh tú và đôi hoa tai ngọc trai mẹ Mùi trao tặng lấp lánh ánh xà cừ.
Dưới làn gió xuân lộng lẫy, gương mặt trái xoan của Quyên ửng hồng. Ánh mắt bồ câu của nàng vốn đượm buồn bởi những tháng ngày oằn lưng gánh nợ, sáng nay bỗng trong veo, rạng ngời niềm tin yêu và kiêu hãnh. Đôi bàn tay thon thả của người thợ may đang khẽ nắm lấy vạt áo cưới, chiếc nhẫn bạc chạm khắc hình bánh răng nơi ngón tay nàng như đang hòa cùng nhịp đập với chiếc nhẫn trên tay anh.
Đi bên cạnh nàng là bé Toàn và bé Hiền. Toàn mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh hòa bình, quần soóc kaki chững chạc. Đôi chân từng bị gãy dập, từng khiến gia đình rơi vào cảnh nợ nần cùng cực, giờ đây bước đi thoăn thoắt, vững chãi trên thềm đá hoa cương mà không cần đến nạng gỗ. Đôi mắt cậu bé chín tuổi sáng long lanh, miệng không ngớt cười, hai tay ôm chặt bó hoa lay-ơn đỏ thắm. Còn bé Hiền, thiếu nữ mười bốn tuổi bẽn lẽn trong tà áo dài lụa trắng đầu đời, đôi má lúm đồng tiền duyên dáng giống hệt chị gái, tay cầm chiếc giỏ mây đựng đầy bánh cốm Hàng Than bọc giấy đỏ.
“Anh An!” – Bé Toàn buột miệng gọi to rồi chạy vội lên mấy bậc tam cấp, ôm chầm lấy chân Hoài An.
Hoài An cúi xuống, bế bổng cậu bé lên trong tiếng vỗ tay tán thưởng râm ran của mọi người. Anh nhìn sâu vào mắt Toàn, cảm nhận được nhịp sống khỏe khoắn đang dâng tràn trong từng thớ cơ của đứa em nhỏ. Bao nhiêu đêm thức trắng bên bàn tiện, bao nhiêu mạt sắt nóng rẫy bắn vào da thịt, bao nhiêu lần cắn răng chịu đựng những lời hăm dọa của bọn đòi nợ mướn… tất cả dường như tan biến không dấu vết trước nụ cười hồn nhiên của Toàn lúc này.
Anh đặt Toàn xuống, bước chậm rãi về phía Thục Quyên. Khoảng cách vài bước chân giữa hai người bỗng chốc như thu hẹp lại cả một chặng đường đời đầy bão giông mà họ đã cùng nhau đi qua.
“Quyên…” – Giọng Hoài An trầm ấm, hơi run rẩy.
“Anh An…” – Quyên ngước nhìn anh, khóe mi hơi ươn ướt nhưng nụ cười nở rộ trên môi. “Em đến rồi đây.”
Không cần những lời hoa mỹ, Hoài An đưa bàn tay rắn rỏi của mình ra. Thục Quyên khẽ đặt bàn tay mềm mại, nhỏ nhắn vào lòng tay anh. Hai bàn tay đan chặt vào nhau – bàn tay của người thợ cơ khí tôi luyện thép gang và bàn tay của cô thợ may chắt chiu từng đường kim mũi chỉ. Đó là sự gắn kết không chỉ của tình yêu đôi lứa thời son trẻ, mà là sự thấu hiểu, san sẻ và chở che của hai tâm hồn lao động chân chính trước mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc đời.
“Nào! Đôi trẻ lại đây!”
Tiếng ông Đặng Văn Tấn trầm đục cất lên đầy uy nghiêm nhưng ngập tràn xúc động. Người thợ già của xưởng đầu máy năm xưa hôm nay đứng thẳng lưng nhất có thể, dẫu chiếc chân thương tật thỉnh thoảng vẫn nhói buốt khi trở trời. Ông mặc chiếc áo đại hàn bộ đội cũ kỹ nhưng được là phẳng phiu, bên cạnh là bà Mùi trong chiếc áo dài nhung the màu mận chín – chiếc áo mà bà cất kỹ dưới đáy hòm suốt mấy chục năm qua, chỉ đợi ngày đón dâu mới mang ra mặc.
Đứng cạnh cha mẹ Hoài An là chị Bé Hai. Người phụ nữ phương Nam đẫy đà, xởi lởi khoác trên mình chiếc áo bà ba bằng lụa Lãnh Mỹ A đen nhánh, cổ đeo dây chuyền vàng tây sáng choang. Chị vừa quạt phành phạch chiếc quạt nan vừa cười lớn, giọng Nam Bộ giòn tan xua tan cả cái lạnh se sắt còn sót lại của buổi sớm:
“Trời đất ơi! Coi kìa, đẹp đôi dữ hôn! Chú thợ tiện Đặng gia với cô thợ may Khâm Thiên đứng cạnh nhau coi như trời sinh một cặp, đất lồng một đôi! Tôi nói thiệt nghen, chuyến này lụa Nam ra Bắc, áo Bắc vào Nam, lại thêm máy móc của chú An chạy êm ru thì dân buôn tụi tôi chỉ có nước làm ăn phát tài phát lộc thôi!”
Lời nói hào sảng của chị Bé Hai khiến cả sân ga bùng lên tiếng cười rộn rã.
Đúng lúc ấy, đồng chí Trưởng đoàn tàu Thống Nhất cùng vị đại diện Tổng cục Đường sắt bước lên trước máy phóng thanh đặt giữa thềm ga. Không gian bỗng chốc lắng lại. Mọi ánh mắt đều dồn về phía hai người thợ trẻ đang đứng cạnh nhau dưới cổng hoa.
“Kính thưa toàn thể cán bộ, công nhân viên ngành đường sắt và bà con khu phố Khâm Thiên!” – Vị đại diện cất giọng dõng dạc, từng lời vang rền qua loa nén. “Mùa xuân năm 1989 đánh dấu một bước chuyển mình lịch sử của ngành Đường sắt Việt Nam. Trước muôn vàn khó khăn của thời kỳ Đổi Mới, khi phụ tùng ngoại nhập khan hiếm, hàng giả hàng nhái trôi nổi phá hoại an toàn giao thông, xưởng cơ khí tư nhân Đặng gia – đứng đầu là thợ cả Đặng Hoài An – đã nêu cao lòng tự trọng nghề nghiệp, dám nghĩ dám làm, chế tạo thành công cụm bạc lót và trục truyền động nội địa hóa đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tuyệt đối!”
Một tràng pháo tay giòn giã nổi lên cắt ngang lời vị cán bộ. Hoài An cảm nhận được bàn tay Quyên đang siết chặt lấy tay mình, truyền sang anh niềm tự hào vô bờ bến.
“Để ghi nhận đóng góp xuất sắc ấy, đồng thời tôn vinh tình nghĩa thủy chung, son sắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động xóm ga, Tổng cục Đường sắt quyết định: Đặc cách dành riêng Toa xe Danh dự số một của đoàn tàu Thống Nhất mang đầu máy D9E số hiệu 234 làm xe hoa rước dâu, đưa đoàn đại biểu gia đình và xóm ga thực hiện chuyến hành trình danh dự đầu tiên trong ngày vui của đồng chí Đặng Hoài An và cô Nguyễn Thục Quyên!”
“Hoan hô!”
“Tuyệt vời quá!”
Tiếng pháo tép đì đẹt nổ vang bên thềm ga, khói pháo màu hồng quyện vào mùi hoa tươi và hương thơm của đất trời mùa xuân. Những dải băng giấy màu bay lả tả trong không trung, vương lên mái tóc của cô dâu và vai áo của chú rể.
Bác Cả Thiện giơ chiếc còi đồng lên miệng, thổi một hồi dài lanh lảnh rồi phất mạnh chiếc cờ màu xanh lá cây:
“Mời quan viên hai họ, mời cô dâu chú rể… lên tàu!”
Tiếng bước chân rộn rã bước lên bậc thang kim loại của toa xe số một. Hoài An ân cần đỡ Thục Quyên bước lên trước, sau đó là ông Tấn, bà Mùi, chị Bé Hai và hai đứa em. Toa xe khách danh dự được trang hoàng lộng lẫy khác hẳn ngày thường. Dọc lối đi trải thảm đỏ thắm, trên từng bàn trà nhỏ gắn liền với khung cửa sổ đều đặt những lọ hoa cúc bướm nhỏ xinh và những đĩa kẹo lạc, bánh đậu xanh thơm phức.
Bé Toàn và bé Hiền vừa bước vào toa đã reo lên thích thú, chạy ùa về phía dãy ghế bọc đệm êm ái sát cửa sổ. Toàn áp sát mặt vào tấm kính trong suốt, hai mắt mở to nhìn ra sân ga rực rỡ cờ hoa, nơi hàng trăm công nhân đường sắt trong bộ áo xanh công nhân đang vẫy tay chúc mừng.
“Chị Quyên ơi! Tàu đẹp quá! Em chưa bao giờ được ngồi toa tàu đẹp thế này!” – Toàn reo lên, bàn tay nhỏ xíu đập nhẹ lên bậu cửa.
Quyên bước lại gần, cúi xuống xoa đầu em trai, ánh mắt đong đầy yêu thương: “Ừ, từ nay em có đôi chân lành lặn rồi, sau này anh An và chị sẽ đưa hai chị em đi khắp đất nước trên những chuyến tàu như thế này.”
Hoài An đứng bên cạnh, một tay vòng qua vai Quyên, hướng ánh nhìn về phía đầu máy D9E đang nằm ở phía trước đoàn tàu.Từ vị trí toa số một này, anh có thể nghe rất rõ tiếng động cơ diesel đang nổ cầm chừng. Một âm thanh trầm ấm, nhịp nhàng và đanh chắc như nhịp đập của một trái tim khổng lồ. Anh nhắm mắt lại, đôi tai người thợ tiện bậc cao căng ra lắng nghe. Không có một tạp âm nào của sự ma sát khô khốc. Cụm bạc lót bằng thép C.F.I. 1928 mà anh đã thức trắng bao đêm để tiện, để dùng bột mài mịn cạo rà từng điểm tiếp xúc nhỏ bằng đầu que tăm, giờ đây đang ngập chìm trong màng dầu bôi trơn thủy động học, ôm khít lấy trục truyền động với dung sai tuyệt đối không phần trăm milimet.
Đó không chỉ là sắt thép vô tri. Đó là danh dự của người thợ già Đặng Văn Tấn, là mồ hôi của những ngày thiếu đói gặm bánh mì khô, là sự kiên trinh không chịu bán rẻ lương tâm cho phường buôn lậu lừa thầy phản bạn của Trần Quốc Bách. Thép đã được thử lửa, và con người đã vượt qua đêm đen nghiệt ngã của số phận.
“An này.”
Một bàn tay thô ráp, ấm áp đặt lên vai anh. Hoài An mở mắt ra, nhìn thấy cha mình đang đứng bên cạnh. Ông Tấn đưa mắt nhìn con trai, ánh mắt vốn luôn nghiêm khắc, lạnh lùng của người thợ cả Gia Lâm xưa kia, giờ đây ngập tràn sự dịu dàng và tự hào khôn xiết.
“Con làm tốt lắm, Hoài An,” – Ông Tấn nói chậm rãi, giọng nghẹn lại. “Cả đời cha gắn bó với đường ray, sửa hàng trăm cái đầu máy hơi nước của Pháp, của Tiệp… nhưng chưa bao giờ cha thấy thanh thản và kiêu hãnh như hôm nay. Con không chỉ giữ được nghề của nhà họ Đặng, mà con đã đưa cái nghề ấy đứng vững giữa thời buổi mới. Mẹ con và cha… mãn nguyện lắm.”
“Thầy…” – Hoài An xúc động, bàn tay anh siết chặt lấy bàn tay gầy guộc đầy vết sẹo của cha.
Bà Mùi bước lại gần, tay bưng khay trà men sứ Hải Dương bốc khói nghi ngút. Bà mỉm cười đôn hậu, đưa chén trà cho ông Tấn rồi quay sang nhìn Thục Quyên, ánh mắt tràn ngập tình mẫu tử:
“Con dâu của u, hôm nay đẹp nhất vùng Khâm Thiên đấy con ạ. Thầy u nghèo, chẳng có vàng mười bạc nén trao cho con, chỉ có cái xưởng tiện với tấm lòng thơm thảo của cả nhà. Từ nay về sau, con là dâu con trong nhà, có khó khăn gì thì cả nhà cùng gánh, không bao giờ phải chịu một mình nữa nghe con.”
Thục Quyên nghẹn ngào, nàng nghiêng đầu tựa nhẹ vào vai bà Mùi, hai giọt nước mắt hạnh phúc lăn dài trên gò má ửng hồng: “Dạ… con đội ơn thầy u. Có thầy u và anh An bên cạnh, con không còn sợ hãi điều gì nữa.”
Chị Bé Hai bên cạnh cũng đưa tay quệt khóe mắt, rồi lại cười toét miệng: “Đó, thấy chưa! Tôi đã bảo mà, gái ngoan thì gặp trai lành, người ăn ở có đức thì trời phật nào nỡ phụ! Bác Tấn, bác gái, hôm nay chuyến tàu này lăn bánh, rằm tháng Giêng tới tui lại ra, dắt mối cho cái Quyên mở thêm một xưởng may lụa lớn nữa ngay đầu phố Khâm Thiên! Con gái Tràng An thêu thùa may vá đẹp nức tiếng, phụ nữ Nam Bộ mê tít thò lò!”
Tiếng chuông báo hiệu trong phòng điều hành nhà ga bỗng vang lên ba tiếng “Coong… coong… coong…” trong trẻo.
Tiếng loa phát thanh vang lên lần cuối, dõng dạc và trang trọng:
“Đoàn tàu Thống Nhất mang ký hiệu Hạnh Phúc xuất phát từ ga Hàng Cỏ, đưa đoàn đại biểu và nhân dân chạy tuyến danh dự qua cầu Long Biên… chuẩn bị khởi hành!”
Cánh cửa toa xe khép lại. Không gian bên trong bỗng chốc trở nên tĩnh lặng, chỉ còn lại ánh mắt đong đầy yêu thương của mọi người hướng về đôi vợ chồng trẻ.
Hoài An nắm chặt tay Thục Quyên, cùng nàng bước lại sát khung cửa sổ lớn ở đầu toa xe.
Từ buồng lái phía trước, người thợ máy giật mạnh tay kéo còi.
“Tuuuuu… Tuuuuuuuuuu…!”
Tiếng còi tàu vang lên xé toang không gian tĩnh lặng của buổi sớm mùa xuân. Đó không phải là tiếng còi thê lương của những năm tháng chiến tranh sơ tán, cũng không phải tiếng còi nặng nhọc của những cỗ đầu máy hơi nước cũ kỹ gầm rú trong gian khó bao cấp. Đó là tiếng còi của đầu máy diesel thế hệ mới, vang rền, dũng mãnh, đanh chắc và ngân dài như một khúc hoan ca hùng tráng của thời kỳ Đổi Mới. Tiếng còi tàu vọng qua những mái nhà ngói nghiêng xô lệch của xóm đường tàu, dội vào những bức tường rêu phong phố Khâm Thiên, ngân vang trên mặt nước hồ Thiền Quang và lan xa khắp bầu trời Hà Nội.
Đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh.
Một sự êm ái đến kinh ngạc. Hoài An nín thở cảm nhận từng chuyển động dưới chân mình. Không hề có một cú giật cục thường thấy, không có tiếng va đập chan chát giữa các khớp nối bánh răng. Cỗ máy nặng hàng trăm tấn trườn đi một cách mượt mà, thanh thoát như một dải lụa lướt trên đường ray thép. Những vòng bánh xe thép cuộn tròn đều đặn, nhịp nhàng theo chu kỳ hoàn hảo: xình xịch… xình xịch… xình xịch…
Bên ngoài cửa sổ, thềm ga Hàng Cỏ bắt đầu lùi dần về phía sau. Hàng trăm cánh tay giơ lên vẫy chào. Bác Cả Thiện đứng nghiêm trang bên cột đèn tín hiệu, giơ tay chào theo nghi thức đường sắt, nụ cười rạng rỡ của người thợ già nhòe đi trong làn khói pháo màu hồng.
Đoàn tàu lướt qua xóm đường tàu Lê Duẩn. Những người dân lao động nghèo sống sát mép đường ray, những người từng chia nhau từng nắm than tổ ong, từng gáo nước máy trong những ngày đông giá rét, sáng nay đều đứng trước hiên nhà vẫy tay reo hò. Những đứa trẻ xóm thợ chạy dọc theo hành lang an toàn, tay cầm những nhánh hoa đào nhỏ xíu vẫy theo đoàn tàu hoa.
Con tàu tăng tốc dần, rời khỏi nội đô chật hẹp, uốn lượn qua những dãy phố rợp bóng cây xà cừ cổ thụ, hướng thẳng về phía bắc cầu Long Biên.
Gió xuân từ mặt sông Hồng lùa qua khung cửa kính hé mở, mát rượi và ngạt ngào hương phù sa.
Khi đoàn tàu bắt đầu trườn lên những nhịp cầu sắt Long Biên trầm mặc, một khung cảnh kỳ vĩ hiện ra trước mắt Hoài An và Thục Quyên.
Dưới chân cầu, dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa cuộn chảy êm đềm, phản chiếu ánh mặt trời rực rỡ như một dải gấm khổng lồ dát vàng. Trên bãi bồi ven sông, những ruộng ngô xanh ngắt non tơ đang vươn mình đón nắng mới. Và nổi bật giữa nền trời xanh biếc mùa xuân, đôi bờ sông Hồng rực rỡ một màu hoa gạo đỏ. Những cây gạo cổ thụ đứng sừng sững bên mố cầu trăm năm tuổi bung nở hàng ngàn đóa hoa đỏ rực như những ngọn đuốc thắp sáng không gian. Sắc đỏ của hoa gạo hòa cùng sắc đỏ trên tà áo dài cưới của Thục Quyên, tạo nên một bản hòa sắc tuyệt mỹ của sự sống, của niềm tin và hy vọng.
Những nhịp cầu sắt gối lên nhau sừng sững, vững chãi trước thời gian và mưa bom bão đạn. Tiếng bánh sắt nghiến trên ray thép qua từng nhịp cầu vang lên rộn rã, hào hùng như một khúc quân hành:
“Keng… keng… xình xịch… Keng… keng… xình xịch…”
Thục Quyên tựa đầu vào ngực Hoài An, cảm nhận hơi ấm nồng nàn từ lồng ngực vững chãi của người đàn ông cả đời nàng tin cậy. Nàng đưa bàn tay lên, ngắm nhìn chiếc nhẫn bạc lấp lánh nơi ngón tay mình. Bánh răng cơ khí ôm lấy dải lụa mềm – sắt thép cứng cỏi kết hợp cùng sự mềm mại của tơ tằm. Cuộc đời họ, tình yêu của họ cũng giống như thế, đã đi qua những tháng ngày gian nan nhất để tìm thấy sự hòa hợp trọn vẹn.
“Anh An…” – Quyên thì thầm, tiếng nói như tan vào tiếng gió sông Hồng lộng lẫy. “Anh có nhớ ngày đầu đông năm ấy không? Ngày mẹ em mới mất, nợ nần bủa vây, em đứng nhìn chiếc máy may cũ mà tưởng như cuộc đời mình đã rơi vào ngõ cụt…”
Hoài An siết chặt vòng tay, cúi xuống hôn nhẹ lên mái tóc thơm mùi hương nhu của vợ:
“Anh nhớ chứ. Những đêm mùa đông ấy rét buốt thấu xương, xưởng tiện của cha con anh đứng bên bờ vực phá sản, tiếng đe búa nghe sao mà cay đắng… Nhưng Quyên ơi, bóng tối dù dày đặc đến đâu rồi cũng phải nhường chỗ cho bình minh. Chỉ cần mình giữ trọn lương tâm người thợ, giữ trọn chữ tín với đời và tình nghĩa với nhau, thì không có cơn giông bão nào đánh gục được chúng ta.”
Quyên mỉm cười, đôi mắt nàng ánh lên vẻ rạng ngời kiêu hãnh: “Từ hôm nay, tiệm may của em sẽ may những chiếc áo dài đẹp nhất cho phụ nữ thủ đô và khắp mọi miền đất nước. Em sẽ dạy nghề cho các cô gái nghèo trong xóm ga, để ai cũng có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình bằng chính đôi bàn tay lao động.”
“Còn xưởng tiện Đặng gia,” – Hoài An phóng tầm mắt về phía dải đồng bằng bao la phía trước, nơi đoàn tàu đang lao đi vun vút, “sẽ tiếp tục đào tạo thêm nhiều thợ trẻ, tiện thêm hàng ngàn cụm trục máy, bạc lót đạt chuẩn quốc gia. Chúng ta sẽ cùng nhau làm ra những sản phẩm cơ khí tinh xảo nhất, để những đoàn tàu Thống Nhất của đất nước mình chạy an toàn, bền bỉ từ Bắc vào Nam, nối liền mọi bờ bến yêu thương.”
Đoàn tàu rẽ sóng gió xuân, lướt qua nhịp cầu Long Biên cuối cùng, tiến thẳng vào vùng ngoại ô ngập tràn sắc hoa và ánh nắng.
Phía sau lưng họ, những năm tháng cơ cực, thiếu thốn của thời bao cấp, những mưu mô toan tính chộp giật của những kẻ làm ăn phi pháp đã vĩnh viễn lùi sâu vào dĩ vãng. Phía trước mặt họ là một chân trời rộng mở, là mùa xuân Đổi Mới tràn đầy nhựa sống, nơi những con người lao động chân chính đang tự tay dựng xây hạnh phúc và tương lai ấm no cho chính mình.
Người thợ máy một lần nữa kéo còi.
Tiếng còi tàu vang lên giòn giã, ngân vang giữa đất trời lộng gió. Tiếng còi tàu của ngày hôm qua chở nặng những âu lo cơm áo, nhưng tiếng còi tàu hôm nay về ga là tiếng reo vui của chiến thắng, tiếng gọi của tình yêu, tiếng hẹn ước của một mùa xuân thanh bình và thịnh vượng trên khắp nẻo đường đất nước thân yêu.