Tiệm Tạp Hóa Thời Tận Thế Ở Phố Cũ

Chương 17: Manh Mối Viện Dịch Tễ

Lồng ngực Lê Nhã Uyên thắt nghẹn lại, từng thớ cơ trên cơ thể mảnh khảnh bỗng chốc cứng đờ như thể bị một luồng khí lạnh cực độ từ cõi chết xuyên thẳng qua tim. Đôi đồng tử đen lánh của cô mở to hết mức, dán chặt vào dòng chữ ký nghiêng nghiêng màu mực xanh đã ngả sang sắc tím xỉn nơi góc dưới cùng của trang bìa hồ sơ.

Nét móc ngược đặc trưng ở chữ “Thành”, độ gãy góc dứt khoát nơi chữ “Đặng”, cùng một chấm mực nhỏ vô tình vương lại ở đuôi chữ “C”... Những chi tiết ấy thân thuộc đến mức chỉ cần nhắm mắt lại, cô cũng có thể mường tượng ra hình bóng một người đàn ông trung niên với mái tóc hoa râm rối bù, cặp kính lão dày cộp trễ xuống sống mũi và nụ cười đôn hậu quen thuộc.

Tiến sĩ Đặng Chí Thành.

Người thầy đã dìu dắt cô từ những ngày đầu bước chân vào ngành y sinh học, người đã kiên nhẫn đứng bên bàn giải phẫu hướng dẫn cô từng đường dao cắt bỏ mô hoại tử, và cũng là người đã nghiêm khắc cốc đầu cô mỗi khi thấy cô thức trắng ba đêm liền trong phòng nuôi cấy vi sinh. Trước ngày đại dịch Bào Tử Gai Đỏ bùng nổ, đối với một đứa trẻ mồ côi xem giảng đường và phòng thí nghiệm là nhà như cô, người thầy ấy chẳng khác nào một người cha ruột thịt.

“Uyên? Em sao thế?”

Tiếng gọi trầm ấm, trầm tĩnh của Trần Minh kéo cô giật mình quay trở về thực tại.

Uyên run rẩy vươn những ngón tay khẳng khiu ra. Đầu ngón tay cô chạm vào lớp bìa chống nước đã sờn rách, cảm nhận rõ rệt độ nhám ráp và những đường vân lồi lõm của vết máu khô thâm đen loang lổ. Một cảm giác buốt giá lan truyền từ da thịt thẳng vào tận tủy xương.

“Đây là... nét chữ của thầy Thành.” Giọng Uyên run rẩy, vỡ vụn ra giữa không gian ngột ngạt của vòm cầu Long Biên: “Thầy Đặng Chí Thành... Trưởng ban Cố vấn Vi sinh của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương. Trước khi tận thế xảy ra, em... em là trợ lý nghiên cứu trẻ nhất nằm trong đề án đặc biệt của thầy.”

Trần Minh khẽ biến sắc. Ánh mắt điềm đạm của anh lập tức bao phủ bởi một tầng suy tư sâu sắc. Anh không hỏi dồn dập, chỉ im lặng bước lại gần, bàn tay vững chãi đặt nhẹ lên bờ vai đang run lên từng chập của cô như một điểm tựa thầm lặng, rồi cẩn trọng trao toàn bộ tập tài liệu dày cộm vào tay cô.

Bác Tôn đứng bên cạnh cũng thu lại vẻ bỡn cợt thường ngày, sắc mặt trở nên nghiêm nghị lạ thường. Lão cựu binh bước ra cửa canh chừng, khép hờ cánh cửa gỗ sứt sẹo để ngăn những cơn gió lạnh thấu xương mang theo mùi bùn tanh và bào tử từ mặt sông Hồng thốc vào.

Hít một hơi thật sâu để đè nén cơn sóng cuộn trào nơi đáy mắt, Uyên lần mở chiếc dây buộc bằng dù đã mục nát quanh tập hồ sơ. Kẹp giữa những trang báo cáo in máy chi chít bảng biểu số liệu là một cuốn sổ tay khổ A5 bìa bọc da simili màu nâu sẫm—cuốn nhật ký công tác quen thuộc mà thầy Thành luôn mang theo bên túi ngực áo blouse trắng.

Từng trang viết tay hiện ra trước mắt Uyên, kéo cô trôi ngược về chuỗi ngày đen tối nhất của lịch sử loài người.

“Ngày 14 tháng 11 năm 2029. Chủng bào tử nấm gai đỏ không phải là một hiện tượng đột biến tự nhiên thông thường. Tốc độ phân bào của chúng vượt qua mọi quy luật sinh học từng được ghi nhận. Khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua đường hô hấp hoặc niêm mạc hở, màng ngoài của bào tử—được bọc bởi một lớp vỏ chitin liên kết peptide dị thường—sẽ lập tức kích hoạt phản ứng hòa màng với tế bào biểu mô phổi, biến đổi mã di truyền và ký sinh thẳng vào hệ thần kinh thực vật. Bệnh nhân mất quyền kiểm soát ý thức chỉ sau 48 giờ sốt cao. Chúng tôi gọi đây là 'Giai đoạn Biến vị Cấp 1'.

Ngày 02 tháng 01 năm 2030. Khu vực nội thành Hà Nội đã hoàn toàn tê liệt. Hệ thống phòng vệ quốc gia tan vỡ. Viện Vệ sinh Dịch tễ được lệnh rút lui xuống hệ thống boong-ke ngầm ba tầng dưới lòng đất (Tầng B1 đến B3) tại cơ sở Yersin. Bên ngoài, những tiếng gào thét của đồng bào biến thành tiếng rít man dại của quái vật. Chúng tôi bị cô lập hoàn toàn. Nhưng trong bóng tối tuyệt vọng này, tia hy vọng duy nhất đã le lói. Nhóm nghiên cứu của tôi đã tổng hợp thành công một chuỗi kháng thể nhân tạo mang mã định danh V-32.

Kháng thể V-32 hoạt động như một loại 'khóa phân tử'. Nó sản sinh ra enzym phân giải có khả năng cắt đứt liên kết protein đặc thù trên màng tế bào của bào tử gai đỏ, khiến chúng mất khả năng nhân đôi và tự hoại tử chỉ trong vòng 30 giây tiếp xúc. Thử nghiệm trên mô sống bị nhiễm độc giai đoạn 2 cho kết quả kinh ngạc: 100% tế bào nấm bị tiêu diệt hoàn toàn mà không làm tổn thương cấu trúc tế bào người!

Chúng tôi đã hoàn thành 90% công thức hoàn chỉnh. Chỉ còn thiếu bước giải trình tự cuối cùng để ổn định kháng thể ở dạng khí dung diện rộng. Ba ống dung dịch mẫu nguyên bản V-32 cùng toàn bộ dữ liệu máy chủ đã được niêm phong tuyệt đối trong tủ đông sâu âm 80 độ tại Kho Lạnh Tầng B3, thuộc Phân khu Nghiên cứu An toàn Sinh học Cấp 4...”

Đọc đến đây, ngực Uyên phập phồng dữ dội. Là một bác sĩ, cô hiểu rõ ý nghĩa của những dòng chữ này!

Suốt ba năm qua, toàn bộ những người sống sót nơi mạt thế—kể cả cô—đều đinh ninh rằng thảm họa Gai Đỏ là một bản án tử hình không thể đảo ngược của tự nhiên. Ai nhiễm độc chỉ có hai con đường: hoặc biến thành quái vật khát máu, hoặc bị bắn vỡ đầu trước khi phát bệnh. Nhưng không! Thầy của cô, những nhà khoa học kiên cường ấy, đã thực sự tạo ra được chìa khóa cứu rỗi nhân loại!

Thế nhưng, tại sao công trình vĩ đại ấy lại nằm chết dí dưới lòng đất? Tại sao một tập tài liệu tối mật như thế này lại xuất hiện trong két sắt của Hoàng Sói Bạc?

Uyên vội vã lật tiếp. Những trang sau của cuốn nhật ký không còn những nét chữ nắn nót, cẩn trọng thường ngày. Mực bắt đầu nhòe đi, những con chữ nguệch ngoạc, xiêu vẹo như được viết trong bóng tối dưới ánh đèn pin chập chờn, nhuốm đầy sự sợ hãi và uất hận tột cùng.

“Ngày 18 tháng 4 năm 2030. Thảm họa ập đến. Trạm phát điện ngầm cạn kiệt nhiên liệu diezen cuối cùng. Hệ thống lọc khí áp suất âm của tầng B2 ngừng hoạt động. Bào tử bắt đầu rò rỉ vào các khoang sinh hoạt. Chúng tôi buộc phải phát tín hiệu cấp cứu vô tuyến khẩn cấp lên tần số quân sự mặt đất, cầu xin một đơn vị vũ trang tiếp ứng mở đường máu đưa nhóm nghiên cứu cùng mẫu phẩm V-32 rời khỏi thủ đô.

Một đội dân quân tự vệ có vũ trang mang bí số 'Răng Nanh' do một gã dị năng giả tên Hoàng—biệt hiệu Sói Bạc—đã bắt được tín hiệu và tiếp cận cánh cổng phòng thủ B1 của viện. Chúng tôi ngỡ rằng mình đã được cứu rỗi. Chúng tôi mở toang cánh cửa thép kiên cố để đón họ vào...

Nhưng chúng tôi đã lầm. Chúng tôi đã rước ác quỷ vào nhà!

Khi bước chân vào kho dự trữ của viện, nhìn thấy hàng trăm thùng lương thực đồ hộp, hàng ngàn lít nước tinh khiết và kho thuốc kháng sinh dự trữ chiến lược, mắt của tên Sói Bạc và đồng bọn đỏ ngầu lên như loài dã thú. Hắn không hề có ý định đưa chúng tôi đi! Hắn cười man dại, bảo rằng thời buổi này mạng sống của một lũ trí thức trói gà không chặt không đáng giá bằng một hộp thịt bò.

Chúng dùng súng khống chế toàn bộ mười bốn nhà khoa học. Chúng cướp sạch lương thực, vơ vét toàn bộ máy phát điện xách tay và đạn dược. Khi thầy trò chúng tôi liều mạng van xin hắn để lại máy móc và mẫu phẩm V-32, tên súc sinh đó đã dùng một thanh sắt nung đỏ đâm xuyên qua bả vai của Phó Viện trưởng Lâm...

Tàn độc hơn tất cả, để đảm bảo bí mật về kho báu y tế và ngăn chặn bầy Dị Thể Gai Xương ngoài phố đuổi theo đoàn xe chở chiến lợi phẩm của chúng, Sói Bạc đã ra lệnh đặt bộc phá giật sập cầu thang thoát hiểm chính. Sau đó, hắn tự tay đóng chặt cánh cửa thép chịu lực của tầng hầm B2 từ bên ngoài, dùng máy hàn hồ quang hàn chết chốt khóa cơ học!

Hắn nhốt toàn bộ mười bốn con người chúng tôi lại dưới đáy mồ tăm tối này... giữa tiếng gầm rú đói khát của bầy dị chủng đang bắt đầu ngửi thấy mùi máu và cào xé lớp cửa thông gió mỏng manh...

Đói... Lạnh... Nước uống đã cạn sạch từ ba ngày trước. Cánh cửa thép dày ba tấc không suy suyển một milimet nào trước những bàn tay rướm máu của chúng tôi. Các đồng nghiệp của tôi đang lả đi từng người một. Thằng khốn Sói Bạc... nếu có kiếp sau, ta thề biến thành ác quỷ cũng phải móc mắt, xé xác ngươi...

Nhã Uyên... đứa học trò nhỏ của ta... Nếu con còn sống sót ngoài kia... Nếu một ngày nào đó con đọc được những dòng này... Hãy nhớ lấy... V-32 không được phép biến mất... Nhân loại... vẫn cần được cứu rỗi...”

Tách.

Một giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống trang giấy ố vàng, làm nhòe đi nét chữ cuối cùng của người thầy khả kính.

Lê Nhã Uyên gập mạnh cuốn nhật ký lại. Toàn thân cô run rẩy bần bật, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau đến mức bật máu, vị tanh nồng lan tỏa nơi đầu lưỡi. Bàn tay cô siết chặt lấy tập tài liệu, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì vận lực quá mức.

Hóa ra là như vậy!

Suốt ba năm qua, kể từ ngày đại dịch bùng nổ, khi đang đi lấy mẫu ngoại thành rồi bị kẹt lại giữa muôn trùng vây hãm, cô đã luôn sống trong sự cắn rứt lương tâm tột cùng. Cô tự nguyền rủa bản thân vì đã không kịp trở về viện sát cánh cùng mọi người. Cô căm ghét sự yếu đuối của chính mình, sợ hãi việc gắn kết với người khác vì tin rằng mình là kẻ mang lại điềm gở—một kẻ sống sót hèn nhát bỏ rơi những người thân yêu nhất.

Nhưng sự thật không phải là một vụ tai nạn thiên tai! Không phải do dịch bệnh vô tình!

Mà là do dã tâm của con người! Là do sự phản bội tàn nhẫn, thú tính man rợ của Hoàng Sói Bạc và lũ súc sinh Băng Răng Nanh! Chúng đã nhốt sống mười bốn bộ óc tinh hoa nhất của đất nước, chôn vùi niềm hy vọng duy nhất của nhân loại dưới lòng đất chỉ để cướp vài thùng thịt hộp và can nước sạch!

Một bàn tay ấm áp, thô ráp nhưng vững chãi bất ngờ áp lên mu bàn tay đang run rẩy của cô.

Uyên ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt đen sâu thẳm, tĩnh lặng như mặt hồ không đáy của Trần Minh. Anh không nói một lời an ủi sáo rỗng nào, nhưng cái siết tay chặt chẽ và luồng nhiệt độ ấm áp từ bàn tay anh truyền sang như một liều thuốc định thần cực mạnh, từng chút một xua tan đi sự lạnh lẽo u uất đang bóp nghẹt lồng ngực cô.

“Tên Sói Bạc đã phải đền tội bằng chính cái đầu của hắn trước cửa tiệm Hàng Buồm rồi.” Giọng Minh trầm thấp, vang lên rành rọt từng chữ: “Mối thù của thầy em, của mười bốn nhà khoa học, đã được trả một nửa. Nửa còn lại chính là không để tâm huyết và tính mạng của họ trở thành vô nghĩa.”

Uyên cắn chặt môi, hít một hơi thật sâu. Lớp vỏ bọc kiên cường, sắc lạnh của một nữ bác sĩ quân y từng bước được cô thiết lập lại. Cô gạt đi giọt nước mắt vương trên khóe mi, gật đầu thật mạnh:

“Em hiểu rồi. Thầy Thành nói đúng... Kháng thể V-32 tuyệt đối không thể bị chôn vùi!”

Minh gật đầu tán đồng. Anh quay sang chiếc két sắt bọc chì, cúi người thò tay vào đáy ngăn kéo bí mật. Dưới lớp nhung đen lót đáy, anh rút ra một cuộn giấy da công nghiệp khổ lớn được cuộn tròn và cố định bằng ống đồng chống ẩm.

“Bác Tôn, giúp cháu một tay dọn bàn.”

Lão thợ máy lập tức gạt sạch những chai rượu ngoại và gạt tàn thuốc lá vương vãi trên chiếc bàn gỗ lim lớn giữa phòng chỉ huy. Minh trải rộng cuộn giấy ra.Đó là một tấm Bản đồ Công trình Ngầm và Hệ thống Thoát nước Đô thị Hà Nội tỷ lệ 1:5000 thời tiền chiến, ghi chú chi tiết từng tuyến cống ngầm thời Pháp, các hầm trú ẩn quân sự ngầm nối giữa các quận nội thành, cùng sơ đồ tuyến đường sắt đô thị ngầm đang xây dựng dở dang trước năm 2029.

Trần Minh rút chiếc bút chì kim loại từ túi áo ngực, khoanh một vòng tròn đỏ thẫm vào khu vực phố Yersin—nơi đặt trụ sở của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.

Và ngay khoảnh khắc mũi chì chạm vào vị trí đó, bầu không khí trong phòng chỉ huy lại chùng xuống một lần nữa.

Khu vực Yersin, Lò Đúc, kéo dài sang tận mạn bệnh viện Hữu Nghị... trên bản đồ tác chiến sinh học mạt thế, nơi ấy được đánh dấu bằng một màu xám tro chết chóc với cái tên rợn người: Vùng Chết Trung Tâm.

Bác Tôn rít một hơi thuốc lá tự cuốn, làn khói xám phả ra mờ mịt quanh chòm râu bạc, ánh mắt lão nheo lại đầy vẻ kiêng dè:

“Căng đấy... Chú mày và con bé Uyên nhìn xem. Chỗ này nằm lọt thỏm ngay giữa tim của Vùng Chết. Ba năm nay, khu vực quanh viện dịch tễ đã biến thành một khu rừng nấm gai đỏ khổng lồ. Sương mù sinh học ở đó đậm đặc đến mức một con chuột cống chui qua cũng bị nấm mọc xuyên qua hốc mắt sau mười phút. Chưa kể, đám thợ săn chợ đen đồn rằng ở đó tập trung toàn bộ Dị Thể Gai Xương Cấp 2 và Cấp 3. Ngay cả thằng Sói Bạc khi còn sống, dù thèm khát công thức V-32 đến phát điên nhưng cũng chỉ dám phái nô lệ đào bới quanh chân cầu Long Biên này chứ không dám bước nửa bước vào khu Yersin.”

Uyên nhìn vào tấm bản đồ, ngón tay cô lướt qua những tuyến đường quen thuộc thời bình: “Phố Huế, Hàng Bài, Trần Hưng Đạo... Toàn bộ các trục đường bộ mặt đất đều đã bị tê liệt hoàn toàn. Xác xe buýt, xe tải lật đổ ngổn ngang từ ngày đầu đại dịch kết hợp với những chùm rễ nấm khổng lồ trồi lên từ lòng đất đã biến mặt đường thành những bức tường thành tự nhiên. Nếu đi trên mặt đất, chúng ta sẽ làm mồi cho đàn quái vật săn mồi trên cao và chết vì ngạt thở trước khi thấy được cổng viện.”

“Vậy thì chúng ta sẽ không đi đường bộ.”

Minh cất giọng điềm tĩnh, đầu bút chì của anh di chuyển từ vị trí Chợ Đen Cầu Long Biên, men theo một đường hầm kỹ thuật ngầm chạy dọc đê sông Hồng, rẽ ngoặt vào nhánh cống hộp vòm đôi thời Pháp cổ cắt ngang qua khu dệt kim cũ, rồi đâm thẳng vào tầng hầm B1 của viện nghiên cứu.

“Đường cống ngầm này được xây dựng từ thời thuộc địa, tường gạch dày nửa mét trát vữa chịu lực, nằm sâu dưới lòng đất gần tám mét.” Minh phân tích sắc bén, tư duy chiến lược của một kẻ sinh tồn lão luyện hiện rõ trong từng lời nói: “Độ sâu này giúp chúng ta tránh được 90% nồng độ sương độc bào tử trên bề mặt. Tuy nhiên, rủi ro là không gian chật hẹp, tầm nhìn hạn chế, và khả năng rất cao là rễ ngầm của nấm đỏ đã xâm lấn vào đường cống.”

Bác Tôn gõ gõ ngón tay cụt lên mặt bàn, trầm ngâm:

“Vấn đề không chỉ là đường đi. Quan trọng là trang bị! Muốn bước chân vào Vùng Chết, bộ đồ bảo hộ vải bạt và mặt nạ phòng độc than hoạt tính thông thường của đám thợ săn chỉ là trò hề. Bào tử gai đỏ có tính ăn mòn sinh học, chúng có thể tiết ra axit hữu cơ làm mủn cao su và sợi tổng hợp chỉ sau hai tiếng. Nếu không có trang bị phòng hộ sinh học cấp cao và vũ khí đủ sức xé nát lớp giáp chitin của Dị Thể Cấp 3, chuyến đi này chẳng khác nào tự sát.”

Uyên im lặng, ánh mắt cô hướng về phía Minh. Cô biết bác Tôn nói không hề sai một từ nào. Sự nguy hiểm của Vùng Chết là điều mà bất kỳ ai sống sót ở Hà Nội này đều khắc cốt ghi tâm. Đột kích vào đó là một canh bạc đặt cược bằng chính mạng sống.

Minh có thể từ chối. Hiện tại, anh đã nắm giữ Tiệm Tạp Hóa An Cư với kết giới bất khả xâm phạm, vừa thâu tóm toàn bộ kho tài nguyên của Chợ Đen Long Biên, sở hữu hơn hai trăm lao động trung thành và nguồn lương thực đủ ăn trong nhiều năm. Anh hoàn toàn có thể chọn cách an phận thủ thường, sống một cuộc đời vương giả, ấm no như một vị hoàng đế không ngai giữa ngõ Hàng Buồm hoang tàn này.

Nhưng, Minh lại nhìn thẳng vào Uyên.

Trong đôi mắt người con gái mảnh khảnh ấy, anh nhìn thấy nỗi đau đớn giằng xé, nhìn thấy khát khao chuộc lại lỗi lầm quá khứ, và hơn hết là ngọn lửa trách nhiệm thiêng liêng của một người thầy thuốc chưa từng bị mạt thế dập tắt.

Và bản thân Minh cũng hiểu một sự thật tàn nhẫn hơn bất kỳ ai.

“Chúng ta không có đường lui, bác Tôn à.” Minh chậm rãi nói, giọng anh trầm nhưng mang theo sức nặng ngàn cân: “Thực thể rễ nấm khổng lồ đang ngủ đông dưới tầng hầm số 4 chân cầu Long Biên chính là một lời cảnh báo. Bào tử gai đỏ không hề đứng yên. Chúng đang hô hấp, đang hấp thu dinh dưỡng từ xác chết và lòng đất, đang tiến hóa từng ngày theo chu kỳ nấm mốc. Tiệm Tạp Hóa An Cư có thể bảo vệ chúng ta trong phạm vi vài chục mét, nhưng nếu toàn bộ Hà Nội biến thành một cái tổ quái vật khổng lồ với Bào Tử Chúa thức tỉnh, liệu cái ốc đảo nhỏ bé của chúng ta có thể tồn tại được bao lâu?”

Minh chống hai tay lên bàn, ánh mắt rực sáng lên một ngọn lửa quyết đoán lạ thường:

“Muốn sống sót thực sự, chúng ta không thể mãi co cụm phòng thủ thụ động. Chúng ta phải nhổ tận gốc cái dằm độc đang c*m v** tim mảnh đất này! Kháng thể V-32 không chỉ là tâm nguyện của thầy Đặng Chí Thành, mà nó là con đường sống duy nhất để khôi phục lại trật tự, mang lại bình minh thực sự cho phố cũ.”

Lời nói của Minh như một hồi chuông vang vọng, đánh tan mọi nỗi sợ hãi và do dự còn sót lại trong căn phòng.

Bác Tôn ngẩn người nhìn chàng trai trẻ trước mặt, rồi bất giác bật cười khà khà, vỗ mạnh lên vai Minh một cái đau điếng:

“Mẹ kiếp! Đúng là khẩu khí của thằng cháu nhà họ Trần! Lão già này sống thừa hơn sáu mươi năm rồi, cùng lắm là vùi xương dưới cống ngầm ngắm hoa nấm nở! Được, chú mày đã quyết thì lão già này theo tới cùng! Lát nữa về tiệm, lão sẽ tháo tung mấy cỗ máy của thằng Sói Bạc để chế tạo một chiếc xe đẩy bánh xích chuyên dụng chở đồ!”

Uyên không nói gì, nhưng khóe mắt cô hoe đỏ. Cô nhìn Minh, ánh mắt ngập tràn sự biết ơn và một thứ cảm xúc ấm áp, dịu dàng đang âm thầm bén rễ, đâm chồi trong tim. Người đàn ông này, từ ngày đầu tiên cứu cô thoát khỏi lưỡi hái tử thần bằng một bát cháo trắng nóng hổi, cho đến hôm nay khi đứng ra gánh vác cả tâm nguyện của đời cô... anh luôn là ngọn hải đăng vững chãi nhất che chở cho cô trước bão giông.

“Về mặt trang bị, hai người không cần phải lo lắng.” Minh mỉm cười nhẹ nhõm, tự tin nói: “Kho điểm tích lũy của Tiệm Tạp Hóa sau khi tiếp quản Chợ Đen đã đạt con số kỷ lục hơn 5.600 điểm. Số điểm này thừa sức để tôi nâng cấp toàn diện tiệm tạp hóa lên Cấp 3 ngay trong đêm nay, đồng thời kích hoạt phân khu công nghệ cao để trang bị cho ba người chúng ta những bộ giáp bảo hộ sinh học nano tối tân nhất của hệ thống.”

Uyên khẽ thở phào, một nụ cười hiếm hoi nở trên môi cô:

“Vậy em sẽ lập tức phân loại các dược liệu hiện có tại trạm xá, điều chế các liều huyết thanh kháng sốc và thuốc k*ch th*ch phục hồi tế bào mang theo dự phòng.”

“Được. Kế hoạch là như vậy.” Minh gật đầu, đưa tay thu lại tấm bản đồ địa đạo: “Chúng ta sẽ dành trọn vẹn ngày mai để vận chuyển toàn bộ kho gạo và tù binh về Hàng Buồm, phân phối công việc cho vợ chồng thợ săn Lâm quản lý cứ điểm. Sau đó, đội ba người chúng ta sẽ chính thức xuất phát tiến vào Vùng Chết!”

Uyên cẩn thận cầm lại cuốn nhật ký của thầy Thành, định bụng cất kỹ vào túi áo ngực dã chiến.

Thế nhưng, khi những ngón tay cô lướt qua lớp bìa sau dày cộm của cuốn sổ, cô bỗng cảm nhận được một gờ cứng bất thường nằm ẩn sâu bên trong lớp da simili hai lớp.

“Khoan đã...” Uyên khựng lại.

“Có chuyện gì thế Uyên?” Minh quay đầu lại.

Uyên không đáp. Cô rút chiếc dao mổ sắc lẹm luôn cài bên cổ tay áo, cẩn thận rạch một đường mảnh dọc theo mép dán của bìa sau cuốn nhật ký. Lớp keo dán đã thoái hóa qua nhiều năm lập tức tách ra.

Cạch.

Một vật thể kim loại mỏng manh, nặng trịch trượt ra khỏi khe hở bí mật, rơi xuống mặt bàn gỗ lim phát ra một tiếng vang thanh thúy.

Cả ba người cùng dồn mắt nhìn xuống.

Đó là một chiếc thẻ từ thông minh có kích thước bằng lòng bàn tay, được chế tác từ hợp kim titan phủ nano bạc sáng bóng lấp lánh, hoàn toàn không hề có một vết ố rỉ nào dù đã trải qua ba năm mạt thế ẩm mốc. Trên bề mặt chiếc thẻ, một con chip sinh học phát ra ánh sáng lam nhạt chập chờn, bên dưới khắc chìm dòng chữ la-tinh sắc nét:

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG PHÒNG THÍ NGHIỆM SỐ 1 - MÃ KHÓA ALPHA Mức độ bảo mật: Cấp tối cao.

Chiếc thẻ này chính là chìa khóa điện tử duy nhất có thể mở toang cánh cửa phòng thí nghiệm ngầm và kích hoạt kho lạnh âm 80 độ nơi lưu giữ kháng thể V-32!

Nhưng điều khiến đồng tử của Lê Nhã Uyên co thắt dữ dội, khiến sống lưng cô lạnh toát không phải là chiếc thẻ titan ấy.

Mà là mảnh giấy gấp tư giấu kèm ngay phía sau chiếc thẻ.

Mảnh giấy ấy dường như được xé vội từ một góc áo blouse trắng. Trên nền vải sợi thô ráp ấy, không phải viết bằng mực bút bi, mà là những dòng chữ màu nâu đỏ thẫm được vẽ bằng ngón tay nhúng máu tươi. Nét chữ nguệch ngoạc, run rẩy đến cực độ, như thể người viết đã phải dồn chút tàn lực cuối cùng trong cơn co giật hấp hối để vạch nên:

“Mau ngăn chặn... Đừng để nó hoàn thành chu kỳ... Bào Tử Chúa... Bào Tử Chúa đang hấp thu toàn bộ mạng lưới rễ ngầm thủ đô... Nó sắp... TỈNH GIẤC RỒI!”

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn