Mùa đông năm thứ ba sau ngày đại dịch gai đỏ bùng phát dường như buốt giá hơn mọi năm.
Gió bấc từ mạn sông Hồng rít từng hồi qua những chấn song sắt rỉ ngoét của khu phố cổ, mang theo hơi ẩm nhơm nhớp và màn sương mù sinh học màu lam xám đặc quánh. Thứ sương mù độc hại ấy bám vào các mái ngói âm dương rêu phong, làm tróc từng mảng vôi tường vàng vọt của con ngõ Hàng Buồm, khiến cả không gian chìm trong một thứ tĩnh mịch quái gở. Thỉnh thoảng, từ phía những tán nấm khổng lồ ký sinh trên các cột điện đổ gục ngoài rìa khu vực an toàn, những chùm bào tử gai đỏ lại phát sáng lờ mờ như những đốm lân tinh ma dại, khẽ nổ lách tách rồi rải bột phấn độc vào không khí.
Thế nhưng, bên trong căn nhà số 42, ranh giới vô hình của Vực An Cư vẫn vững vàng như một pháo đài thép. Ở nơi ấy, không khí ấm áp, thoang thoảng mùi gỗ thông và hương nếp mới, hoàn toàn tách biệt với địa ngục băng giá bên ngoài.
Chỉ có điều, sự ấm áp tối nay đã bị xé toạc bởi một bầu không khí căng thẳng nghẹt thở.
Trên căn gác lửng lót gỗ thông, bé Bống nằm co quắp trên chiếc đệm bông dày, hai má đỏ bừng vì một cơn sốt nhẹ bất thường. Đôi bàn tay nhỏ thó của cô bé bấu chặt lấy vạt áo len của Trần Minh, cả người run lên từng chập dù đã được đắp hai lớp chăn ấm.
“Bống thấy... đau đầu lắm chú Minh ơi...” Đôi mắt to tròn ngây thơ của con bé ngấn nước, ánh lên những vệt sáng màu lục nhạt kỳ lạ—dấu hiệu dị năng “Cảm Ứng Mầm Sinh” đang bị k*ch th*ch cực độ. “Ở phía cây cầu sắt to đùng ngoài kia... có nhiều gai nhọn lắm. Bọn quái vật gai xương... chúng nó đang gầm gừ, đói lắm... Bọn người xấu cầm roi sắt xua chúng nó lại gần mép nước... Người của chú Lâm với cô Lan... đang rỉ máu...”
Nhã Uyên ngồi quỳ bên mép giường, nhanh nhẹn nhúng chiếc khăn bông trắng vào âu nước ấm pha muối sinh lý, vắt ráo rồi nhẹ nhàng đắp lên trán con bé. Ánh mắt nữ bác sĩ sắc lại, hàng chân mày thanh tú cau chặt:
“Mạch nhanh, đồng tử co nhẹ do phản ứng cộng hưởng sóng sinh học. Bào tử gai đỏ ngoài kia đang bị kích động bởi một tần số hỗn loạn nào đó. Lũ Băng Răng Nanh không chỉ treo người làm mồi, chúng còn dùng máu tươi và chất dẫn dụ sinh học để lùa đàn Dị Thể Gai Xương cấp 2 từ bãi bồi sông Hồng tụ về chân cầu số 5. Con bé cảm nhận được toàn bộ sóng não của bầy quái vật nên mới phát sốt.”
Trần Minh vỗ nhẹ lên mu bàn tay gầy gò của Bống, truyền cho con bé một cảm giác an tâm vững chãi. Anh cúi xuống, giọng trầm ấm nhưng dứt khoát:
“Bống ngoan, nhắm mắt lại ngủ một giấc. Chú Minh và cô Uyên ở đây, không con quái vật nào vào được nhà mình đâu. Mai chú sẽ đón chú Lâm và mẹ con chị Lan về ăn cháo gà với Bống.”
Nghe giọng nói trầm ổn như núi đá của anh, nhịp thở dồn dập của đứa trẻ dần bình ổn trở lại. Luồng sáng màu lục nhạt nơi đáy mắt con bé thu liễm dần, rồi chìm vào giấc ngủ chập chờn vì kiệt sức.
Minh đứng dậy, khẽ khàng kéo mép chăn che kín cổ cho Bống rồi ra hiệu cho Nhã Uyên bước ra ngoài phòng khách gác lửng.
Khi cánh cửa gỗ khép lại, khuôn mặt điềm tĩnh của Trần Minh lập tức phủ một tầng hàn băng sắc lạnh. Anh nhìn sang Nhã Uyên, thấy khớp ngón tay cô bóp chặt chiếc khay y tế bằng inox đến mức trắng bệch.
“Mười hai giờ trưa mai là hạn chót,” Nhã Uyên cắn môi, giọng nói run rẩy vì phẫn uất, “nhưng với nồng độ sương độc và mật độ dị thể tụ tập như lời Bống vừa cảm ứng, ba người họ khó mà trụ nổi qua rạng sáng mai nếu bị phơi nhiễm bào tử nồng độ cao trên dầm thép rỉ sét. Sói Bạc muốn biến họ thành mồi sống thực thụ, vắt kiệt thể lực và tinh thần của anh trước khi anh kịp bước tới chân cầu.”
“Tôi biết.” Minh nhìn xuyên qua lớp kính cách âm ra đầu ngõ tối tăm. “Hoàng Sói Bạc tính toán rất kỹ. Hắn nghĩ tôi chỉ là một kẻ hèn nhát gặp may mắn thức tỉnh kết giới phòng ngự, trốn chui trốn lủi trong căn nhà này. Nếu tôi bước ra, hắn dùng đàn quái vật và hỏa lực bắn tỉa nghiền nát tôi ngoài tầm bảo hộ. Nếu tôi không ra, uy tín của tiệm tạp hóa sẽ sụp đổ, những người tị nạn sẽ coi chúng ta là kẻ máu lạnh, và tiệm sẽ bị cô lập hoàn toàn trước khi hắn điều xe bọc thép tới ủi sập.”
“Vậy anh tính sao?” Nhã Uyên ngước nhìn anh, ánh mắt cô không còn sự do dự hay nghi hoặc của những ngày đầu, mà chỉ có sự kiên định cùng vào sinh ra tử. “Nếu đi, chúng ta phải rời khỏi phạm vi hai mươi mét của kết giới. Ra ngoài đó, mọi quy tắc áp chế tuyệt đối của hệ thống đều biến mất. Chúng ta sẽ phải đối mặt với súng đạn thật, và nanh vuốt của lũ dị thể cấp 2.”
“Chúng ta không chỉ đi giải cứu,” Minh quay lại nhìn cô, khóe môi nhếch lên một đường cong lạnh lùng, “mà là đi săn. Nhưng trước khi xuất kích, hậu phương phải tuyệt đối an toàn. Tôi không để bất kỳ kẻ nào thừa cơ đột kích vào căn nhà này khi Bống đang ở đây.”
Anh xoay người bước xuống cầu thang gỗ, hướng thẳng về phía quầy thu ngân tầng trệt. Nhã Uyên lặng lẽ bước theo sau, bước chân vững chãi và dứt khoát.
Dưới tầng trệt, không gian tiệm tạp hóa sáng trưng dưới ánh đèn led dịu mắt của hệ thống. Những kệ gỗ bày đầy ắp gạo thơm, dầu ăn, đồ hộp và muối tinh xếp ngay ngắn thẳng tắp. Trên mặt quầy thu ngân bằng đá cẩm thạch đen, một chiếc hộp gỗ lim đang mở nắp, bên trong chất đầy những viên tinh thể quái vật hình thoi lấp lánh ánh đỏ sẫm—thành quả thu gom từ ba mươi tư xác Kẻ Nhiễm đêm trước cùng số tinh thể mà hơn sáu mươi hộ dân tị nạn đã dùng để đổi lương thực, nước sạch suốt hai ngày qua.
Minh đặt bàn tay lên bề mặt quầy thu ngân, tập trung ý niệm. Bảng giao diện huỳnh quang bán trong suốt màu lam quen thuộc lập tức hiện ra trước đồng tử của anh:
`[HỆ THỐNG TẠP HÓA AN CƯ]` `Túc chủ: Trần Minh (Cấp 1.5)` `Phạm vi Vực An Cư: Bán kính 20 mét` `Điểm Tích Lũy hiện có: 15 điểm` `Tài nguyên chuyển đổi khả dụng: 148 Tinh thể Dị thể Cấp 1, 4 Tinh thể Cấp 2, linh kiện cơ khí và kim loại quý.`
“Quy đổi toàn bộ tinh thể quái vật và kim loại phế liệu sang Điểm Tích Lũy,” Minh ra lệnh dứt khoát trong tâm trí.
Ong...
Một luồng sáng màu lam quét qua chiếc hộp gỗ lim. Hơn một trăm viên tinh thể đỏ rực lập tức tan biến thành vô số hạt bụi ánh sáng li ti, cuộn xoáy rồi thẩm thấu vào mặt bàn thu ngân. Con số trên giao diện hệ thống nhảy múa điên cuồng:
`+1.480 Điểm Tích Lũy (từ Tinh thể Cấp 1)` `+200 Điểm Tích Lũy (từ Tinh thể Cấp 2)` `+45 Điểm Tích Lũy (từ kim loại quý)` `Tổng Điểm Tích Lũy khả dụng: 1.740 Điểm.`
Một con số khổng lồ kể từ ngày hệ thống thức tỉnh. Nhìn vào dòng số liệu ấy, Trần Minh không hề tiếc nuối mà lập tức mở cây công nghệ phòng thủ căn cứ. Anh đã tính toán cẩn thận: phạm vi 20 mét hiện tại tuy bảo vệ được căn nhà số 42, nhưng hai đầu ngõ Hàng Buồm vẫn là điểm mù. Nếu Băng Răng Nanh mang súng phóng lựu hoặc súng cối đến dựng trận địa từ ngoài đầu ngõ, dù kết giới không vỡ thì chấn động và sương khói bên ngoài cũng sẽ gây áp lực cực lớn lên người bên trong.
“Tiêu hao 1.000 Điểm Tích Lũy, nâng cấp Rào Chắn Vực An Cư lên Cấp 2!”
`Xác nhận lệnh: Nâng cấp Vực An Cư lên Cấp 2. Tiêu hao 1.000 điểm.` `Đang củng cố ranh giới... Tái cấu trúc kết cấu hạt năng lượng...`
Ầm!
Một tiếng trầm vang như tiếng sấm ngầm truyền từ sâu dưới lòng móng căn nhà cổ. Minh và Nhã Uyên đồng thời cảm nhận được một luồng sóng xung kích vô hình quét qua cơ thể, không hề gây đau đớn mà trái lại, mang theo một luồng sinh khí thanh khiết đến kỳ lạ.
Từ bốn góc tường của căn nhà số 42, những ký tự cổ màu vàng kim rực rỡ bừng sáng lên rồi chìm sâu vào từng thớ gạch Bát Tràng cổ kính. Lớp màng năng lượng bảo hộ vốn mỏng manh như cánh ve sầu lập tức dày lên trông thấy, hóa thành một vòm sáng hình bán cầu lấp lánh ánh lam ngọc bao trùm lấy toàn bộ căn nhà và khoảng sân sau. Không khí lập tức trở nên mát lành, mọi hạt bụi ô nhiễm và tàn dư mùi ẩm mốc của mạt thế bị thanh lọc hoàn toàn, nồng độ oxy tinh khiết dâng cao khiến tinh thần hai người lập tức phấn chấn.
`[Thông báo]: Vực An Cư Cấp 2 đã kích hoạt thành công!` `- Phạm vi bảo hộ: Bán kính mở rộng lên 35 mét (Bao trọn toàn bộ chiều dài ngõ 42 Hàng Buồm).` `- Tính năng mới: Kháng hỏa lực vật lý hạng nặng 80%; Phản xạ chấn động nổ; Thanh lọc không khí nano tự động 99%.` `- Mở khóa quyền mua: Vũ khí phòng ngự bán tự động.`
Chưa dừng lại ở đó, Minh lướt nhanh ngón tay trên bảng danh mục vũ khí phòng thủ vừa mở khóa:
`[Trụ Súng Điện Từ Mini Tự Động (Cấp 1)]` `Giá: 350 Điểm Tích Lũy / trụ.` `Đặc tính: Tự động nhận diện mục tiêu mang ác ý/bào tử gai đỏ; phóng tia xung điện cao tần tầm bắn 60 mét; sát thương làm tê liệt hoặc thiêu rụi tế bào sinh học cấp 1 và cấp 2; tích hợp lớp ngụy trang quang học bề mặt rêu phong.`
“Mua hai Trụ Súng Điện Từ! Lắp đặt tại hai cột gạch cổ ở đầu ngõ 42!”
`Xác nhận tiêu hao 700 Điểm Tích Lũy. Điểm còn lại: 40 Điểm.` `Đang định vị tọa độ... Hoàn tất triển khai ngụy trang!`
Qua khung cửa sổ tầng trệt nhìn ra ngoài ngõ, Minh thấy hai tia sáng màu lam xé gió lao vút ra phía hai trụ gạch rêu phong đầu ngõ Hàng Buồm. Trong chớp mắt, hai cột kim loại thon dài màu xám đen, với nòng xoay ba chấu tích hợp cuộn cảm ứng plasma từ từ mọc lên từ bên trong hốc gạch đổ nát. Chỉ một giây sau, một lớp quang học ngụy trang bao phủ lấy chúng, biến hai cỗ máy sát thủ thành hai khối bê tông loang lổ rêu mốc bình thường, hòa lẫn hoàn hảo vào khung cảnh đổ nát của con ngõ chết chóc.
Nhã Uyên đứng bên cạnh, chứng kiến toàn bộ quá trình biến đổi thần kỳ ấy mà không khỏi sững sờ. Đôi mắt sáng của cô ánh lên sự thán phục tột bực:
“Bán kính ba mươi lăm mét... Vậy là toàn bộ con ngõ 42 nay đã nằm trọn trong lãnh địa của tiệm. Với hai trụ súng điện từ đó, dù cả đại đội lính của Sói Bạc ập vào, chúng cũng sẽ biến thành bia tập bắn trước khi kịp chạm vào bậc cửa.”
“Đúng vậy,” Minh khẽ thở phào, sự căng thẳng nơi đáy mắt vơi đi một nửa. “Bây giờ, hậu phương đã là một pháo đài bất khả xâm phạm. Giờ là lúc lo cho tiền tuyến.”
Hai người rảo bước ra khu xưởng cơ khí ở sân sau.
Vừa đẩy cánh cửa gỗ ngăn cách sân sau, mùi dầu máy khét lẹt, mùi mạt sắt cọ xát và mùi thuốc súng nồng nặc lập tức xộc vào mũi. Dưới ánh sáng chói lọi của bóng đèn sợi đốt treo lơ lửng, tiếng búa gõ đe “keng... keng... keng...” vang lên đều đặn, dứt khoát như nhịp tim của một người lính già chưa từng đầu hàng số phận.
Bác Tôn đang đứng bên bàn nguội bằng sắt chữ I. Chiếc kính lúp thợ kim hoàn đeo lệch bên mắt trái, chiếc tạp dề da bò loang lổ vết dầu che kín b* ng*c vạm vỡ nhưng chằng chịt vết sẹo. Bàn tay trái cụt một ngón của ông kẹp chặt lấy thân một khẩu súng trường, trong khi tay phải thoăn thoắt dùng dũa thép vát từng đường rãnh tinh xảo trên khóa nòng.
Xung quanh ông, đống súng đạn thu giữ từ nhóm Ba Sẹo ban chiều—gồm ba khẩu tiểu liên báng gấp rỉ sét, hai khẩu súng ngắn K54 nứt ốp tay cầm và hàng trăm viên đạn hoen ố—đã bị tháo rời thành từng chi tiết nhỏ xíu, xếp ngay ngắn trên những mảnh giẻ sạch.
Thấy Minh và Uyên bước vào, bác Tôn không ngẩng đầu lên ngay mà dùng miệng thổi mạnh một lớp mạt sắt bám trên kính ngắm quang học, đoạn mới gạt chiếc kính lúp lên trán, nở một nụ cười hào sảng làm hằn sâu những nếp nhăn đuôi mắt:
“Đến đúng lúc lắm, hai đứa! Lại đây xem thành quả của lão già này!”
Minh bước tới bên bàn nguội. Đập vào mắt anh là một khẩu súng trường bắn tỉa có hình dáng vô cùng hầm hố và độc đáo. Nòng súng dài ngoằng được gia công từ thép nòng pháo sáng, bên ngoài bọc một lớp ống giảm thanh tự chế từ các vòng đệm cao su chịu nhiệt. Báng súng bằng gỗ nghiến chắc nịch được gọt đẽo tỉ mỉ để ôm sát vai người bắn, gắn kèm một kính ngắm quang học 8x vốn được bác Tôn tháo ra từ chiếc máy trắc địa cũ của công trường xây dựng.
“Khẩu này lão ghép từ nòng súng trường săn của thằng Ba Sẹo và bộ khóa nòng súng trường bán tự động,” bác Tôn tự hào v**t v* thân súng đen nhánh đã được bôi một lớp dầu máy mỏng bóng bẩy. “Độ chính xác trong cự ly sáu trăm mét không lệch một phân! Lão còn chế thêm một chân chống chữ V bằng thép gập dưới ốp lót tay, chú mày chỉ việc tì lên bờ tường là có một điểm tựa vững như bàn thạch.”
Minh đưa tay nhấc khẩu súng lên. Cảm giác kim loại lạnh ngắt nhưng đầm tay vô cùng, trọng tâm súng rơi chuẩn xác vào giữa tay cầm, đường ngắm qua kính quang học trong vắt, không một hạt bụi. Một người từng chỉ quen gõ bàn phím và tính toán sổ sách như anh, trong khoảnh khắc chạm vào khẩu súng này, bỗng cảm nhận được một luồng nhiệt huyết râm ran chạy dọc sống lưng.“Tuyệt vời lắm, bác Tôn,” Minh chân thành khen ngợi. “Nhưng còn đạn dược thì sao? Dị thể gai xương cấp 2 có lớp giáp xương nấm rất dày, đạn chì thông thường bắn vào chỉ làm trầy lớp vỏ ngoài của chúng.”
“Hê hê, lão già này từng chiến đấu ở chiến trường biên giới phía Bắc, mấy trò biến dị quái quỷ này sao qua mắt được lão!” Bác Tôn cười khà khà, chỉ tay sang chiếc khay gỗ bên cạnh.
Trong khay là ba mươi viên đạn súng trường cỡ 7.62mm sáng loáng. Nhưng điều đặc biệt là đầu mỗi viên đạn đều được khoan một lỗ nhỏ tinh vi, bịt kín bằng một hỗn hợp màu vàng xám lạ mắt.
“Lão dùng lưu huỳnh tinh chất cạo từ các ngòi nổ cũ, trộn với bột phèn chua và dịch khử trùng mà cô Uyên cấp cho ban nãy, nhồi vào lõi đầu đạn rỗng rồi bọc một lớp màng đồng mỏng,” bác Tôn hạ giọng, đôi mắt ánh lên nét ranh mãnh của một tay thiện xạ lão luyện. “Khi đầu đạn chạm vào cơ thể mục tiêu, lớp đồng vỡ ra, lưu huỳnh và chất thanh tẩy sẽ phát nổ nhiệt áp cực nhỏ ngay bên trong mô thịt, thiêu rụi tủy nấm gai đỏ từ bên trong! Đạn này bắn vào khớp gối hay cuống họng quái vật, đảm bảo một phát là rụng rời tay chân!”
“Không chỉ có vậy đâu,” Nhã Uyên mỉm cười bước tới, đặt lên bàn một chiếc hộp nhôm y tế chuyên dụng.
Chiếc hộp mở ra, bên trong lót lớp m*t xốp chống sốc, cắm ba ống tiêm thủy tinh chứa một dung dịch màu xanh lục thẫm, phát ra ánh huỳnh quang mờ ảo trong bóng tối.
Minh quay sang nhìn cô, ánh mắt dò hỏi: “Đây là...”
“Thành quả thức trắng nửa đêm của tôi,” Nhã Uyên giải thích, trong mắt cô thoáng hiện nét mệt mỏi nhưng ngập tràn vẻ tự tin chuyên nghiệp. “Tôi đã trích xuất độc tố thần kinh từ hạch gai của con Dị Thể Cấp 2 mà anh tiêu diệt hôm giải cứu tôi, dùng cồn y tế vô trùng nồng độ cao và huyết thanh biến tính của hệ thống để đảo ngược chuỗi protein độc. Ba ống này là Độc Dược Tê Liệt Thần Kinh dạng khí dung nén.”
Cô nhấc một ống lên, chỉ vào ngòi kích nổ cơ học gắn ở đầu ống:
“Chỉ cần ném mạnh vào mục tiêu hoặc bắn vỡ bằng đạn, độc tố sẽ phát tán thành một làn sương trong phạm vi bán kính năm mét. Nó vô hại với tế bào người bình thường, nhưng với hệ thần kinh nhạy cảm của lũ Dị Thể Gai Xương và dị năng giả mang gen đột biến gai đỏ, nó sẽ phong bế dẫn truyền xung thần kinh vận động trong vòng mười lăm giây! Mười lăm giây đó, chúng sẽ hoàn toàn biến thành những pho tượng bất động.”
Mười lăm giây! Trong một trận chiến sinh tử mạt thế, một giây đã đủ định đoạt sống chết, huống chi là mười lăm giây tê liệt hoàn toàn!
“Cô Uyên giỏi thật đấy!” Bác Tôn đập đùi đánh bốp một cái, ngửa đầu khen ngợi. “Có súng tốt, đạn độc, lại thêm thuốc làm tê liệt của cô bác sĩ, lão già này tự tin có thể ghìm chân cả một tiểu đội của Băng Răng Nanh từ xa!”
Nhã Uyên khẽ mỉm cười, rồi cô quay sang Minh, ánh mắt bỗng trở nên dịu dàng khác lạ. Cô lấy từ dưới gầm bàn trạm xá ra một vật thể màu xám sẫm, đưa đến trước mặt anh.
Đó là một chiếc áo giáp chống đâm dã chiến được may đo tinh gọn. Bề mặt áo được gia cố bằng nhiều lớp vải bạt quân sự dày dặn, lót các tấm hợp kim nhôm lấy từ vỏ thùng xe tải đã được bác Tôn dát mỏng, uốn cong vừa vặn theo lồng ngực của Minh. Nhưng điểm tinh tế nhất là ở hai bên sườn và trước bụng áo: Nhã Uyên đã tỉ mỉ khâu thêm bốn chiếc túi sơ cứu nhỏ gọn bằng chỉ dù chống nước, bên trong xếp sẵn gạc cầm máu nhanh, cồn i-ốt, thuốc giảm đau và hai ống tiêm atropine chống sốc phản vệ.
“Mặc vào đi,” Nhã Uyên cúi đầu, bàn tay cô khẽ chỉnh lại đường viền cổ áo trên tay mình rồi đưa cho anh, giọng nói trầm xuống, mang theo một sự quan tâm vụng về nhưng chân thành đến thắt lòng. “Ra ngoài đó không có vùng bảo hộ áp chế bạo lực đâu. Anh lúc nào cũng lao lên phía trước... đừng để bị thương.”
Trần Minh nhìn chiếc áo giáp tự chế thô sơ nhưng chứa chan bao tâm huyết và sự lo lắng của người con gái trước mặt. Một dòng nước ấm dường như vừa len lỏi qua lớp băng giá phòng bị bấy lâu trong tim anh. Anh không nói lời cảm ơn sáo rỗng, chỉ lặng lẽ cởi chiếc áo gió bên ngoài, đón lấy chiếc áo giáp rồi mặc vào người.
Chiếc áo ôm sát vừa vặn một cách đáng kinh ngạc. Từng đường kim mũi chỉ chắc chắn, các túi thuốc nằm ở vị trí thuận tiện nhất cho tay phải rút ra trong tích tắc.
“Vừa lắm,” Minh nhìn thẳng vào mắt Nhã Uyên, khóe mắt ánh lên tia cười ấm áp hiếm hoi. “Cảm ơn cô, Nhã Uyên.”
Nhã Uyên khẽ đỏ mặt, vội quay sang sắp xếp lại đống bông băng trên bàn để che giấu sự bối rối.
Bác Tôn đứng bên cạnh nhìn hai người, khẽ tặc lưỡi cười thầm một tiếng đầy ẩn ý, rồi quay sang cầm chiếc giẻ lau chùi lại nòng súng trường.
Bốn giờ ba mươi phút sáng.
Ngoài trời, màn đêm đen đặc quánh như mực tàu. Nhiệt độ ngoài ngõ đã hạ xuống dưới bảy độ C, sương muối phủ một lớp mỏng trắng xóa lên những bậc thềm đá xanh.
Trên chiếc bàn gỗ tròn kê cạnh bếp lò hồng rực than củi ở phòng khách tầng trệt, một ấm trà gừng già đun với mật ong rừng đang sôi lục bục, tỏa ra làn khói trắng nghi ngút và mùi thơm cay nồng, xua tan đi cái lạnh thấu xương của rạng sáng mùa đông.
Bốn người ngồi quây quần bên bàn trà. Bé Bống đã hạ sốt, hai má hồng hào trở lại, đang ngồi ngoan ngoãn trong lòng Nhã Uyên, hai tay ôm chặt lấy cốc sữa đậu nành nóng hổi mà Minh vừa pha cho.
Minh nhấp một ngụm trà gừng cay nóng, cảm nhận vị ngọt thanh và hơi ấm lan tỏa từ cuống họng xuống dạ dày, làm tan biến mọi mệt mỏi sau một đêm dài chuẩn bị. Anh đặt chiếc chén sứ xuống bàn, rút từ trong túi áo ra một miếng kim loại hình tròn nhỏ bằng đồng xu—bộ điều khiển phụ trợ của Vực An Cư mà hệ thống vừa cấp cho sau khi nâng cấp lên Cấp 2.
Anh đặt miếng kim loại vào lòng bàn tay nhỏ nhắn của bé Bống, mỉm cười dặn dò:
“Bống nghe chú dặn này. Chốc nữa chú Minh, cô Uyên và ông Tôn phải ra ngoài có việc một lát. Bống ở nhà ngoan, khóa chặt cửa tiệm lại. Miếng kim loại này kết nối với dị năng của Bống. Nếu Bống cảm thấy có kẻ xấu hay quái vật tiến vào đầu ngõ 42, Bống chỉ cần nắm chặt nó và nghĩ đến việc ‘đuổi chúng đi’. Hai chiếc trụ sắt ngoài đầu ngõ sẽ thay chú trừng phạt chúng, nhớ chưa?”
Bé Bống nắm chặt miếng kim loại ấm áp trong lòng bàn tay, đôi mắt to tròn chớp chớp đầy nghiêm túc. Con bé gật đầu thật mạnh:
“Dạ! Bống nhớ rồi! Bống sẽ canh nhà thật cẩn thận, không cho ai phá tiệm của chú Minh đâu!”
Minh xoa đầu con bé, rồi quay sang nhìn bác Tôn:
“Kế hoạch như đã định: Bác Tôn sẽ không đi cùng lối với cháu và Uyên. Bác mang theo khẩu súng trường bắn tỉa, men theo lối cầu thang thoát hiểm của khu tập thể Hàng Muồm cũ để leo l*n đ*nh tháp nước bỏ hoang cạnh đường dẫn lên cầu. Vị trí đó cao hơn mặt cầu hai mươi mét, tầm nhìn bao quát toàn bộ trụ cầu số 5 nhưng nằm ngoài tầm quét mắt của đám lính gác trên mặt cầu. Bác chỉ nổ súng khi cháu phát tín hiệu pháo sáng, mục tiêu ưu tiên là hỏa điểm súng máy của địch.”
“Yên tâm đi chú mày,” Bác Tôn vỗ mạnh vào báng súng bọc vải ngụy trang đặt cạnh đùi, ánh mắt cựu chiến binh quắc lên như chim ưng trong đêm. “Lão già này thuộc từng nóc nhà khu Hàng Muồm từ thời bom Mỹ. Lão sẽ cắm chốt ở tháp nước trước khi trời sáng năm phút, khẩu súng này sẽ là con mắt thứ ba của hai đứa.”
Minh gật đầu, rồi nhìn sang Nhã Uyên đang kiểm tra lại chiếc ba lô y tế dã chiến đeo chéo hông:
“Tôi và cô sẽ đi theo đường cống ngầm thoát nước ngầm từ phố Mã Mây thông thẳng ra bãi bồi chân cầu. Lối đó ngập bùn và đầy rễ nấm, nhưng sẽ giúp chúng ta tiếp cận mố cầu số 5 mà không bị các chòi quan sát của Sói Bạc trên mặt cầu phát hiện. Uyên, cô đã sẵn sàng chưa?”
Nhã Uyên kéo khóa áo blouse dã chiến lên sát cằm, ánh mắt cô trong veo và sắc bén như lưỡi dao mổ:
“Tôi đã chờ ngày này suốt ba năm qua. Lên đường thôi.”
Năm giờ sáng.
Trần Minh đẩy nhẹ cánh cửa sắt cuốn của tiệm tạp hóa. Một làn gió buốt giá mang theo mùi tanh tưởi của nấm mốc và bùn lầy sông Hồng lập tức táp vào mặt.
Bước chân anh đặt qua vạch sơn đỏ ranh giới ba mươi lăm mét ở đầu ngõ 42.
Khoảnh khắc bàn chân chạm vào mặt đường nhựa nứt nẻ của phố Hàng Buồm bên ngoài, cảm giác ấm áp, an toàn tuyệt đối của hệ thống biến mất trong nháy mắt. Thay vào đó là áp lực nghẹt thở của mạt thế hoang tàn, cái lạnh cắt da cắt thịt và mùi vị của tử thần đang rình rập khắp các góc phố hoang phế.
Minh siết chặt chuôi dao găm nhiệt năng giắt bên hông, hít một hơi sâu luồng không khí buốt lạnh để k*ch th*ch thần kinh tập trung cao độ. Anh rút từ túi ngực ra chiếc ống nhòm tầm nhiệt quân sự đã được bác Tôn hiệu chỉnh, nép mình sau một bức tường đổ nát nhìn về hướng cầu Long Biên.
Màn sương độc màu lam xám dày đặc cuộn xoáy trên bầu trời rạng đông lờ mờ. Qua lăng kính tầm nhiệt màu xanh lục sẫm, khung cảnh hiện lên rõ nét đến rùng mình.
Cách đó hơn bốn trăm mét, trụ cầu số 5 của cây cầu Long Biên sừng sững hiện ra như một con quái thú khổng lồ bằng thép rỉ sét đang vươn mình qua dòng sông Hồng cuộn sóng.
Trên khung dầm thép chữ X chênh vênh ở độ cao mười mét so với bãi bùn, ba bóng người gầy guộc bị trói quặt tay sau lưng bằng những sợi dây thừng to bản gai góc, treo lơ lửng giữa khoảng không buốt giá. Thợ săn Lâm gục đầu, trên người đầy những vết chém rách toạc áo; cạnh anh là chị Lan đang dùng chút tàn lực cuối cùng ôm chặt lấy đứa con nhỏ đang run rẩy khóc không thành tiếng. Máu tươi từ vết thương trên chân họ nhỏ từng giọt... từng giọt xuống nền đất bùn ẩm ướt bên dưới.
Và ngay phía dưới chân họ, trong làn sương mù lượn lờ sát mặt đất, hơn một chục bóng đen dị hợm với những chiếc gai xương trắng hếu mọc tua tủa trên lưng đang điên cuồng lượn quanh mố cầu. Lũ Dị Thể Gai Xương cấp 2 ngửi thấy mùi máu tươi, liên tục ngửa cổ lên không trung, phát ra những tiếng gầm rít khàn đặc đầy đói khát, những chiếc móng vuốt sắc nhọn cào rách toạc lớp gỉ thép của trụ cầu.
Phía trên mặt cầu, lấp ló sau những bao cát công sự phòng thủ của Băng Răng Nanh, năm sáu họng súng máy hạng nặng màu đen ngòm đã đồng loạt lên đạn, chĩa thẳng xuống các ngả đường dẫn vào chân cầu.
Trần Minh hạ chiếc ống nhòm xuống, đôi mắt đen sâu thẳm ánh lên một tia sát khí lạnh buốt như băng tuyết ngàn năm. Anh khẽ nghiêng đầu nhìn Nhã Uyên đang áp sát lưng vào bức tường gạch bên cạnh, trầm giọng ra lệnh:
“Xuống cống ngầm!”