Bức thêu “Quốc Sắc Thiên Hương, Bách Hạc Triều Dương” được Phương Thượng cung đích thân áp giải dâng lên điện Càn Thanh vào giờ Ngọ ngày hôm ấy, giữa lúc Hoàng đế Tề Thịnh đang cùng quần thần nghị sự về lễ nghi Vạn Thọ.
Khi tấm gấm Vân Vụ Cẩm trải dài trước ngự tọa, chín trăm chín mươi chín con tiên hạc dệt bằng băng tằm kim tuyến dập dờn bay lượn quanh đóa đại mẫu đơn vàng rực như vầng thái dương, cả điện Kim Loan nhất thời lặng ngắt như tờ, rồi sau đó là muôn miệng một lời tán tụng cảnh tượng thịnh thế càn khôn. Hoàng đế vốn tính đa nghi lại chuộng điềm lành, nhìn thấy ý tứ vạn hạc triều tông, mẫu đơn phú quý thì rồng rồng mở tiệc, liên tiếp hạ chỉ ban thưởng lụa là gấm vóc cho Châm Dệt Ti, đồng thời ngợi khen Chưởng chế Thẩm thị “tâm tư cẩn mật, tay nghề thông thần”.
Lời ngự khen truyền xuống, tựa như một cái tát vô thanh nhưng giáng thẳng vào mặt Khôn Ninh Cung.
Tôn Ma ma – kẻ chấp chưởng nội vụ đắc lực bên người Tiêu Hoàng hậu – trong nháy mắt đã biến thành một phế quân bị tống giam vào tử lao Thận Hình Ti chờ ngày nghị tội. Dẫu cho toàn bộ cung nhân đều ngầm hiểu ai mới là kẻ đứng sau màn độc kế phèn chua hủy hoại gấm ngự cống, nhưng trước sự hài lòng của Hoàng đế và chứng cứ rành rành về túi phèn Tuyết Hoa Phàn do cung nữ Liễu Nhi khai nhận, Tiêu Hoàng hậu chỉ đành ngậm bồ hòn làm ngọt, nghiến răng ban thưởng thêm cho Dao Nguyệt một đôi vòng phỉ thúy để tỏ rõ sự “khoan dung độ lượng” của bậc mẫu nghi thiên hạ.
Chỉ trong vòng một đêm, cái tên Thẩm Dao Nguyệt tựa như một cơn sóng ngầm cuộn trào khắp Lục cục Thượng cung. Từ Thượng Nghi, Thượng Thực cho đến Thượng Tẩm, kẻ hâm mộ tài hoa có, kẻ ghen ghét đố kỵ có, nhưng nhiều hơn cả vẫn là sự kiêng dè, kính sợ trước một nữ quan tuổi đời còn rất trẻ nhưng thủ đoạn phản sát lại kín kẽ, sắc bén đến rợn người.
Nhưng đối với Dao Nguyệt, phong ba này chỉ là một gợn sóng nhỏ nơi đầu ngọn gió.
Trời về chiều, nắng thu nhạt nhòa dát một lớp vàng mỏng manh lên những mái ngói lưu ly của viện Châm Dệt. Trong gian phòng nhỏ thoang thoảng mùi thuốc bắc ngâm thảo dược, Dao Nguyệt ngồi bên án thư, lặng lẽ nhìn mười đầu ngón tay của mình đã được bôi một lớp cao Ngọc Dung trắng mịn. Cảm giác đau rát từ những vết kim đâm thấu thịt buốt lên tận óc, nhưng nét mặt nàng vẫn bình lặng như mặt hồ không một gợn sóng.
Trên bàn, bên cạnh hộp thuốc mở nắp, là mảnh giấy hoa tiên màu nguyệt bạch đã được nàng mở phẳng phiu.
Bốn chữ “Cẩn thận Ninh Vương” vẫn đen nhánh, ngạo nghễ đập vào mắt nàng dưới ánh chiều tà.
“Chưởng chế, thuốc an thần đã nguội bớt rồi, người mau uống đi kẻo lại nhức đầu.”
Trúc Chi khẽ khàng bưng một chén sứ hoa lam bước vào, nhìn thấy mảnh giấy trên bàn, sắc mặt tiểu nha hoàn thoáng hiện vẻ lo âu: “Người… người vẫn còn nghĩ về mảnh giấy quái dị ấy sao? Rốt cuộc là ai to gan dám lẻn vào hậu viện Châm Dệt Ti để lại thứ này? Hay là… có kẻ muốn ly gián?”
Dao Nguyệt không vội đáp. Nàng khẽ nâng chén thuốc lên, nhấp một ngụm đắng ngắt trôi qua cổ họng, ánh mắt dừng lại ở nếp gấp hình cánh sen tinh xảo: “Giấy Tuyên Thành thượng hạng ngâm hương trầm thủy mộc, nét chữ mang kình lực của bậc đại gia thư pháp, ẩn chứa nội tức của người luyện võ thượng thừa. Kẻ này có thể qua mặt cấm quân tuần tra của hoàng thành, đi lại như chốn không người, tuyệt đối không phải phường giá áo túi cơm. Hắn không hại ta, chỉ để lại bốn chữ này… hoặc là hảo tâm cảnh báo, hoặc là muốn mượn tay ta để khuấy động một vũng nước đục khác.”
“Nhưng… Ninh Vương thì có gì đáng để cảnh giác chứ?” Trúc Chi chớp chớp mắt, vẻ mặt đầy khó hiểu: “Nô tỳ nghe nói vị vương gia kia quanh năm tàn phế, chân cẳng đều liệt, mười năm nay chỉ giam mình trong Dược Hương Uyển ho hen sặc sụa. Đến cả Thái tử mỗi lần nhắc tới người này cũng chỉ khinh khỉnh gọi là ‘phế vật hoàng thất’. Một người như vậy, làm sao có thể đe dọa được Chưởng chế?”
Dao Nguyệt khẽ lắc đầu, đặt chén thuốc xuống đĩa sứ, ngón tay nhẹ nhàng miết lên mặt bàn gỗ đàn hương: “Chốn cung cấm này, kẻ gầm gừ nhe nanh múa vuốt chưa chắc đã là mãnh thú, kẻ cuộn mình nằm im trong bùn lầy rách rưới có khi mới là mãng xà độc nhất. Mười năm trước mẫu phi của hắn là Thục phi chết một cách mờ ám trong lãnh cung, hắn liền ‘bạo bệnh’ liệt hai chân, tự thu mình sống dật dờ cho đến nay. Tiêu Hoàng hậu đa nghi tàn độc như loài bọ cạp, ngay cả các hoàng tử tài giỏi khác đều bị mụ ngấm ngầm bức hại hoặc đày ải ra biên ải, cớ sao một mình Ninh Vương lại có thể an ổn sống sót ngay dưới mí mắt Khôn Ninh Cung suốt mười năm ròng rã?”
Trúc Chi nghe vậy thì rùng mình một cái, da gà bất giác nổi khắp cánh tay.
Chưa kịp để Trúc Chi nói thêm lời nào, bên ngoài viện Châm Dệt bỗng nhiên vang lên tiếng thông báo the thé của một tiểu thái giám, phá tan bầu không khí tĩnh mịch của buổi chiều thu:
“Ninh Vương điện hạ giá lâm Châm Dệt Ti!”
Bàn tay đang cầm khăn của Dao Nguyệt khẽ khựng lại trong tích tắc.
Nàng và Trúc Chi đưa mắt nhìn nhau. Vừa nhắc tới tên, người đã lập tức xuất hiện ngay trước cửa? Đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay là một màn kịch đã được tính toán từ trước?
Dao Nguyệt nhanh như cắt cầm lấy mảnh giấy hoa tiên, gập lại nhét sâu vào trong ống tay áo rộng, sau đó đứng dậy chỉnh đốn lại vạt áo nữ quan màu nguyệt bạch đoan trang. Nét mặt nàng nhanh chóng thu lại mọi vẻ suy tư, chỉ còn lại sự điềm đạm, cẩn trọng thường thấy của một Chưởng chế lục phẩm.
“Ra nghênh giá.” Nàng khẽ cất lời, thanh âm trầm tĩnh như nước mùa thu.
Khi Dao Nguyệt bước ra tiền sảnh của Châm Dệt Ti, các nữ quan và cung nhân đã quỳ rạp hai bên thềm đá. Không khí trong viện im ắng một cách kỳ lạ, chỉ có tiếng kẽo kẹt chậm rãi của bánh xe gỗ nghiến trên nền gạch hoa văn rêu phong.
Một chiếc xe lăn bằng gỗ đàn hương sẫm màu từ từ tiến vào từ cổng viện. Đẩy xe là một tiểu thái giám trẻ tuổi, dáng người gầy gò, đầu cúi gục xuống đất, từng bước đi nhẹ nhàng không phát ra một tiếng động.
Ngồi trên chiếc xe lăn ấy là một nam nhân trẻ tuổi khoác trên mình bộ cẩm bào lụa tía rộng thùng thình, vạt áo dài phủ kín đôi chân buông thõng bất động trên bàn đạp gỗ.
Đó chính là Ninh Vương Tề Dực.
Lần đầu tiên nhìn thấy vị vương gia trong truyền thuyết này ở cự ly gần, hàng mi của Dao Nguyệt khẽ run lên.
Gương mặt chàng tuấn tú đến kinh ngạc, sống mũi cao thẳng như vách núi, bờ môi mỏng hơi nhợt nhạt, nhưng nước da lại mang một màu trắng tái xanh xao đặc trưng của người quanh năm giam mình trong phòng kín thiếu ánh mặt trời. Mái tóc đen nhánh chỉ được cố định lỏng lẻo bằng một chiếc trâm ngọc bạch giản dị, vài lọn tóc mai rủ xuống gò má, che bớt đi nửa bên trán. Cả người chàng lọt thỏm trong lớp áo lụa tía quý phái, toát lên một vẻ ốm yếu, suy nhược tựa như một cành liễu trước cơn cuồng phong.
“Khụ… khụ khụ…”
Vừa mới vào đến giữa sân, Tề Dực đã đưa chiếc khăn tay gấm trắng thêu hoa văn đơn giản lên che miệng, ho rũ rượi từng cơn. Bả vai chàng rung lên bần bật, lồng ngực phập phồng như thể chỉ cần một cơn gió lạnh thổi qua cũng đủ khiến chàng gục ngã.
“Nô tỳ Thẩm Dao Nguyệt, Chưởng chế Châm Dệt Ti, kính thỉnh an Ninh Vương điện hạ. Điện hạ vạn phúc kim an.” Dao Nguyệt bước tới trước xe lăn, hạ thấp người hành lễ theo đúng quy chế cung đình, động tác chuẩn mực không tìm ra nửa điểm sai sót.
Tiếng ho khan dần dần dứt hẳn. Tề Dực từ từ hạ chiếc khăn tay xuống, để lộ khóe môi vương một nụ cười như có như không.
Đôi mắt phượng hẹp dài của chàng hơi rủ xuống, ánh mắt lờ đờ, mang theo vài phần ngả ngớn, phong lưu của một kẻ nhàn tản chẳng màng thế sự. Chàng đưa mắt lướt qua người Dao Nguyệt một lượt, từ chiếc trâm bạc đơn sơ trên búi tóc cho đến đôi bàn tay giấu kín trong ống tay áo, rồi cất giọng khàn khàn, biếng nhác:
“Đứng lên cả đi. Bản vương tàn phế một thân, đi lại bất tiện, không cần câu nệ mấy cái lễ nghi phiền toái ấy làm gì cho mệt nhọc.”
“Tạ ơn điện hạ.” Dao Nguyệt đứng thẳng dậy, đôi mắt vẫn rủ xuống nhìn mép gấu áo của đối phương, tuyệt đối không nhìn thẳng vào dung nhan vương tôn.
Tề Dực khẽ nhướng mày, cất giọng nửa đùa nửa thật: “Ngươi chính là Thẩm Chưởng chế, người vừa thêu bức ‘Bách Hạc’ khiến phụ hoàng vui mừng đến mức ban thưởng cả rương gấm Tứ Xuyên đó sao? Chậc chậc, tuổi còn trẻ thế này mà đã có bản lĩnh biến lụa hỏng thành kỳ tích, lại còn tiện tay tống luôn cả quản sự thân tín của mẫu hậu vào đại lao Thận Hình Ti. Khắp hoàng thành Biện Lăng này, e là không ai có lá gan lớn như ngươi đâu.”
Lời vừa thốt ra, đám cung nhân đứng xung quanh đều sợ hãi run rẩy, đầu càng cúi sát đất hơn. Lời lẽ này bề ngoài tưởng như bông đùa, nhưng thực chất lại đụng chạm thẳng vào vết thương trí mạng của Khôn Ninh Cung!
Sắc mặt Dao Nguyệt không đổi, giọng điệu vẫn cung kính, mực thước: “Điện hạ quá khen, nô tỳ chẳng qua chỉ là phận tỳ nữ may vá, gặp chuyện thì gắng sức bảo toàn danh dự của Thượng Cung Cục và long nhan của Hoàng thượng mà thôi. Mọi việc đều do Phương Thượng cung chủ trì phân xử, nô tỳ không dám nhận công.”
“Khéo miệng, quả nhiên là người thông minh.” Tề Dực bật cười khẽ, tựa lưng vào chiếc gối mềm đặt sau xe lăn, ngón tay gầy guộc khẽ gõ lách cách lên tay vịn gỗ đàn hương: “Phụ hoàng bảo Châm Dệt Ti các ngươi tay nghề xuất chúng, hạ chỉ cho bản vương đến đây may một bộ triều phục mới để dự lễ Vạn Thọ. Bộ cũ của bản vương mặc từ ba năm trước, vạt áo đã sờn, lại còn bốc mùi thuốc bắc nồng nặc, phụ hoàng nhìn thấy lại bảo bản vương mang xui xẻo đến đại thọ của người.”
Nói đoạn, chàng liếc nhìn Dao Nguyệt, khóe mắt cong lên thành một đường cong nguy hiểm: “Bản vương nghe danh Thẩm Chưởng chế đã lâu, hôm nay đặc biệt muốn đích thân ngươi đo thước may áo. Thế nào, Thẩm Chưởng chế có chê một phế nhân ốm yếu như bản vương làm bẩn thước ngọc của ngươi không?”
“Điện hạ nói đùa rồi. Được vì điện hạ may y phục là phúc phận của Châm Dệt Ti.” Dao Nguyệt bình thản ngẩng đầu lên, ánh mắt trong veo như nước mùa thu chạm thẳng vào đôi mắt sâu thẳm của Tề Dực trong chớp mắt: “Xin mời điện hạ vào noãn các để nô tỳ tiến hành đo đạc.”
Tiểu thái giám đẩy xe lăn đưa Tề Dực vào gian noãn các phía đông của Châm Dệt Ti. Nơi này là nơi chuyên dùng để tiếp đón các phi tần hoặc vương công quý tộc đến thử y phục, bốn bề treo những bức rèm lụa màu khói mỏng manh, giữa phòng đặt một chiếc gương đồng lớn cao bằng đầu người và những sào treo đầy lụa là màu sắc trang nhã.
Bước vào phòng, Dao Nguyệt ra hiệu cho Trúc Chi mang chiếc khay gỗ mun đựng thước dây tầm ty, sổ ghi chép và bút nghiên đặt lên bàn trà.
“Trúc Chi, ngươi lui ra ngoài cửa canh chừng, không có lệnh của ta không ai được tự ý bước vào.” Nàng khẽ phân phó.
“Dạ, Chưởng chế.” Trúc Chi cẩn thận liếc nhìn vị vương gia đang ngồi trên xe lăn một cái, rồi cúi đầu lui ra ngoài, khép hờ cánh cửa gỗ lại. Tiểu thái giám đẩy xe của Tề Dực cũng thức thời lùi lại góc phòng, đứng im như một pho tượng gỗ.
Trong gian phòng rộng lớn, mùi hương trầm thủy mộc thoang thoảng phát ra từ người Tề Dực hòa quyện cùng mùi lụa mới, tạo nên một bầu không khí ngột ngạt và căng thẳng đến kỳ lạ.
Dao Nguyệt bước tới trước mặt Tề Dực, khẽ cúi đầu: “Điện hạ, xin thứ lỗi cho sự mạo phạm của nô tỳ.”
Nói rồi, nàng cầm lấy chiếc thước tầm ty bọc bạc ở hai đầu. Dây thước được dệt bằng sợi tơ tằm dẻo dai, khắc từng vạch đo tỉ mỉ.
“Mời điện hạ dang nhẹ hai tay.”
Tề Dực lười biếng nâng hai cánh tay lên, tay áo thụng lụa tía trượt xuống một đoạn. Chàng nhìn nàng, ánh mắt tràn đầy vẻ thích thú cợt nhả: “Thẩm Chưởng chế, tay ngươi băng bó thế kia, cầm thước có vững không? Đừng run tay mà đo sai một tấc, đến lúc triều phục may xong rộng thùng thình, bản vương mặc vào trông lại chẳng khác nào con khỉ mặc áo gấm.”
“Điện hạ yên tâm, mười đầu ngón tay của nô tỳ dù có đứt lìa, chỉ cần còn cầm được thước thì một ly một hào cũng không thể sai lệch.”
Dao Nguyệt thản nhiên đáp trả một câu mềm nắn rắn buông, sau đó tiến sát lại gần xe lăn. Khoảng cách giữa hai người thu hẹp lại chỉ còn trong gang tấc. Nàng có thể ngửi thấy mùi thuốc bắc cay nồng toát ra từ lớp áo ngoài của chàng, nhưng ẩn sâu dưới tầng hương thuốc ấy, lại là mùi hương trầm thủy mộc lạnh lẽo, cao quý – giống hệt mùi hương vương lại trên mảnh giấy hoa tiên hình hoa sen kia!
Ánh mắt Dao Nguyệt khẽ ngưng đọng, nhưng bàn tay nàng vẫn vững vàng vòng dây thước qua ngực Tề Dực.
Để đo được số đo chính xác của một vương gia ngồi xe lăn, thân thể nàng buộc phải nghiêng về phía trước, hai cánh tay vòng qua lưng chàng. Khi những ngón tay mảnh khảnh bọc cao thơm khẽ áp qua lớp vải lụa tía dày dặn nơi bờ vai và sống lưng Tề Dực, trái tim Dao Nguyệt bỗng nảy lên một nhịp kinh hoàng.
Là một nghệ nhân thêu thùa đỉnh cao, từ năm mười tuổi Dao Nguyệt đã phải học cách sờ nắn từng thớ lụa, cảm nhận từng đường gân sợi chỉ mỏng manh bằng đầu ngón tay. Đôi bàn tay của nàng nhạy cảm hơn bất kỳ ai trên cõi đời này.
Một kẻ bị bại liệt mười năm, quanh năm nằm trên giường bệnh hoặc ngồi xe lăn, cơ bắp ở lưng và chân tay bắt buộc phải teo tóp, xương cốt mềm nhũn, da thịt lỏng lẻo thiếu sinh khí.Thế nhưng, thứ mà đầu ngón tay nàng đang chạm vào dưới lớp áo gấm lùng bùng kia… hoàn toàn trái ngược!
Dưới lớp vải tơ tằm mềm mại, bờ vai của Tề Dực rộng và thẳng tắp như được đục đẽo từ đá tảng. Khi nàng khẽ ấn nhẹ thước vào bả vai và dọc theo cột sống của chàng, nàng cảm nhận được từng khối cơ thịt săn chắc, dẻo dai, cuồn cuộn sức sống đang ẩn mình dưới một lớp màng phòng thủ vô hình. Từng đường gân thớ thịt nơi sống lưng chàng căng tràn kình lực, thẳng tắp như một cây cung đã được kéo căng dây, chỉ chờ giây phút phóng thích mũi tên đoạt mạng!
Đây tuyệt đối không phải thân thể của một kẻ tàn phế!
Đây là thân thể của một cao thủ võ học thượng thừa, kẻ quanh năm rèn luyện công phu khổ ải, nội lực thâm hậu đến mức có thể thu liễm toàn bộ khí tức vào sâu trong xương tủy để đánh lừa cả thiên hạ!
Dao Nguyệt hít sâu một hơi, đè nén cơn sóng cuộn trào dữ dội trong đáy lòng. Nàng vẫn giữ nguyên vẻ mặt không đổi, rút dây thước ra, cúi đầu ghi một con số vào sổ: “Vòng ngực ba thước hai tấc, bờ vai rộng một thước tám tấc.”
Tề Dực tựa hồ nhận ra điều gì đó qua sự khựng lại trong tíc tắc của nàng. Đôi mắt phượng của chàng khẽ híp lại, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười nửa miệng đầy tà khí: “Sao thế? Thẩm Chưởng chế thấy thân hình bản vương quá gầy gò ốm yếu, khó may áo lắm sao?”
“Điện hạ trời sinh cốt cách thanh quý, dẫu long thể có chút khiếm khuyết vì bệnh tật, nhưng phong thái vẫn không hề suy giảm.” Dao Nguyệt ngước mắt lên, giọng nói đều đều nhưng ánh mắt lại như lưỡi dao sắc lẹm khoét sâu vào tâm can đối phương: “Chỉ là nô tỳ cảm thấy… bờ vai của điện hạ vững chãi hơn nhiều so với những gì người đời thường đồn đại.”
Nụ cười trên môi Tề Dực thoáng cứng lại trong chớp mắt, rồi nhanh chóng tan biến thành một tiếng thở dài tự giễu: “Vững chãi thì có ích gì? Một đôi chân tàn phế, chung quy cũng chỉ là kẻ ngồi chờ người khác đến bố thí chút cơm thừa canh cặn mà thôi. Bờ vai có rộng đến đâu, cũng chẳng gánh nổi nửa phần phong ba bão táp của chốn hoàng thành này.”
“Điện hạ quá khiêm tốn rồi.”
Dao Nguyệt không buông tha. Nàng cầm lấy chiếc thước tầm ty bằng gỗ tử đàn bọc bạc dài hai thước – thứ dùng để đo chiều dài vạt áo và nếp gấp của ống tay. Nàng bước vòng ra phía sau xe lăn, cúi người xuống đo chiều dài từ cổ áo xuống ngang thắt lưng.
“Thẩm Chưởng chế này,” Tề Dực bỗng nhiên quay đầu lại, khoảng cách giữa gương mặt hai người gần đến mức nàng có thể cảm nhận được hơi thở ấm áp phả vào gò má mình: “Bản vương nghe nói phụ thân ngươi trước kia từng là một vị quan lớn thanh liêm, đáng tiếc lại chết vì tội phản quốc. Một nữ nhi tội thần như ngươi, sống trong chốn thâm cung này bảy năm, ắt hẳn phải nếm trải không ít cay đắng nhỉ?”
Nhắc tới phụ thân, đồng tử Dao Nguyệt khẽ co rút lại. Móng tay nàng cắm sâu vào lòng bàn tay đau nhói, nhưng trên gương mặt thanh tú không hề để lộ một tia gợn sóng: “Phận sâu kiến trôi dạt theo dòng nước, sống hay chết đều do thiên mệnh và hoàng ân. Nô tỳ chỉ biết bổn phận may vá, chuyện tiền triều thị phi, nô tỳ không dám lạm bàn.”
“Ồ? Thật là không dám lạm bàn sao?”
Ánh mắt Tề Dực bỗng trở nên sắc bén lạ thường, hoàn toàn rũ bỏ vẻ đờ đẫn phong lưu thường nhật: “Vậy mà bản vương cứ ngỡ, ngươi liều mạng dùng kỹ thuật thêu song diện cứu bức gấm ngự cống, một cước đá văng Tôn Ma ma, là vì muốn từng bước leo lên đài cao để làm một việc kinh thiên động địa nào đó chứ.”
Dao Nguyệt siết chặt chiếc thước gỗ trong tay. Đôi mắt nàng lóe lên một tia hàn quang sắc lạnh.
Tên vương gia này đang thăm dò nàng! Hắn biết nàng dùng kỹ thuật thêu gì, biết nàng nhắm vào ai, thậm chí có thể hắn chính là kẻ đứng sau bức thư hoa sen bí ẩn kia!
Đã muốn dò xét, vậy thì để xem ai là kẻ lộ sơ hở trước!
“Điện hạ đa nghi rồi. Nô tỳ chỉ là muốn sống sót.”
Vừa dứt lời, Dao Nguyệt vờ như trượt chân do vấp phải mép thảm, thân hình nàng khẽ nghiêng sang một bên. Đầu chiếc thước gỗ tử đàn bọc bạc sắc nhọn trên tay nàng tựa như vô tình nhưng lại nhắm thẳng vào huyệt Kiên Tỉnh – một đại huyệt chí mạng nối liền kinh mạch bả vai và lồng ngực của Tề Dực – mà đâm tới!
Đòn này nếu là người bình thường không có võ công, nhiều nhất chỉ cảm thấy đau nhói một cái. Nhưng đối với một cao thủ nội gia có kình lực hộ thể, khi một vật nhọn mang theo phong thanh bất ngờ đâm vào tử huyệt, phản xạ tự nhiên của cơ thể sẽ lập tức bộc phát chân khí để phòng ngự hoặc phản kích!
Khoảnh khắc đầu thước chỉ còn cách lớp vải áo tía nửa tấc, Dao Nguyệt nhìn thấy rất rõ: cơ bắp nơi bả vai Tề Dực đột ngột giật nảy một cái, một luồng kình khí vô hình mạnh mẽ tựa như bức tường sắt bỗng chốc dâng trào dưới da thịt chàng, khiến không khí xung quanh dường như ngưng đọng lại!
Nếu nàng đâm xuống, luồng kình khí ấy đủ sức hất văng chiếc thước gỗ làm gãy nát cổ tay nàng!
Thế nhưng, ngay tại ranh giới nghìn cân treo sợi tóc ấy, Tề Dực lại mạnh mẽ cưỡng ép thu hồi toàn bộ kình lực về đan điền!
“Khục… ặc!”
Vì cưỡng ép nghịch chuyển chân khí, sắc mặt Tề Dực trong nháy mắt chuyển từ trắng bệch sang đỏ ửng dị thường, rồi chàng há miệng phun ra một ngụm máu bầm tươi rói xuống nền gạch hoa văn!
Đầu thước gỗ của Dao Nguyệt “bộp” một tiếng đâm trúng vào bả vai chàng, làm thủng một lỗ nhỏ trên lớp lụa tía. Cả người Tề Dực rũ xuống như một bao tải rách, ho khan dữ dội đến mức chiếc xe lăn cũng rung lắc kịch liệt.
“Điện hạ!” Tiểu thái giám ở góc phòng thất thanh kêu lên, toan lao tới.
“Đứng… khụ khụ… đứng yên đó!” Tề Dực giơ một bàn tay đẫm máu lên quát ngăn lại.
Chàng chậm rãi ngẩng đầu lên, khóe miệng rỉ máu, nhưng đôi mắt phượng lại nhìn chằm chằm vào Dao Nguyệt với một vẻ lạnh lẽo thấu xương, xen lẫn một tia tán thưởng điên cuồng.
Dao Nguyệt nhanh chóng thu thước lại, lùi về sau hai bước, quỳ sụp xuống đất, giọng điệu kinh hoàng nhưng ánh mắt lại bình tĩnh đến rợn người: “Nô tỳ đáng chết! Nô tỳ lỡ chân trượt ngã va phải long thể, xin điện hạ thứ tội!”
Tề Dực nhìn nàng, nhìn người con gái đang quỳ gối tạ tội nhưng sống lưng lại thẳng tắp như một nhành trúc trước bão tuyết. Chàng đưa mu bàn tay quệt đi vệt máu nơi khóe môi, cất tiếng cười khẽ, thanh âm trầm thấp chỉ đủ cho hai người nghe thấy:
“Thẩm Chưởng chế… quả nhiên là hảo thủ đoạn. Ngươi dùng cả tính mạng của mình để đánh cược một đòn này sao?”
Dao Nguyệt ngước mắt lên, không né tránh ánh nhìn của chàng, khẽ thì thầm bằng âm lượng cực nhỏ: “Nô tỳ không đánh cược tính mạng, nô tỳ chỉ muốn xác nhận xem… vị vương gia ngồi trên chiếc xe lăn này rốt cuộc là chân long ẩn mình trong đầm lầy, hay chỉ là một khúc gỗ mục trôi sông mà thôi.”
Hai ánh mắt va chạm giữa không trung, tựa như hai lưỡi kiếm bén ngót rút khỏi vỏ, tóe lên những tia lửa vô hình.
Không có lời vạch trần nào được thốt ra thành tiếng, nhưng cả hai đều hiểu rõ: bức màn ngụy trang mười năm của Ninh Vương Tề Dực đã bị xé toạc một góc trước mặt Thẩm Dao Nguyệt; và ngược lại, Tề Dực cũng đã nhìn thấu dã tâm cùng sự gan dạ tột cùng ẩn sau vẻ ngoài nhu mì của nàng.
“Tốt… rất tốt.” Tề Dực khẽ hít một hơi, sắc mặt dần dần khôi phục lại vẻ tái nhợt thường ngày. Chàng chỉnh lại cổ áo, cất giọng lãnh đạm: “Hôm nay đo đến đây thôi. Bản vương đột nhiên thấy mệt mỏi, không muốn đo tiếp nữa.”
“Cung tiễn Ninh Vương điện hạ.” Dao Nguyệt cúi đầu, đoan trang hành lễ.
Tiểu thái giám vội vã chạy lại, run rẩy cầm lấy tay vịn xe lăn, đẩy Tề Dực quay người hướng ra phía cửa noãn các.
Bầu không khí căng thẳng tưởng chừng như đã khép lại sau màn đấu trí nghẹt thở. Dao Nguyệt đứng dậy, thở phào một hơi nhẹ nhõm, chuẩn bị thu dọn thước dây và sổ sách trên bàn.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc chiếc xe lăn của Tề Dực lăn qua ngưỡng cửa gỗ đàn hương để rời khỏi phòng, tiểu thái giám đẩy xe dường như vì quá hoảng sợ nên đã lỡ tay làm chiếc xe hơi nghiêng sang một bên.
Bánh xe va nhẹ vào mép chiếc bàn trà thấp đặt cạnh cửa.
Cú va chạm làm dải lụa thắt lưng buông thõng bên hông Tề Dực văng mạnh ra ngoài. Một vật nặng treo nơi thắt lưng chàng theo đà va đập vào góc cạnh bàn trà bọc đồng, phát ra một tiếng vang thanh thúy, lảnh lót:
“Keng!”
Âm thanh trong trẻo của ngọc thạch thượng hạng va chạm xé toạc không gian tĩnh mịch.
Dải lụa tía khẽ lật lên, để lộ ra một miếng ngọc bội treo lủng lẳng bên hông Ninh Vương.
Đó là một miếng ngọc bội màu trắng mỡ dê tuyệt mỹ, nhưng nó không hề nguyên vẹn. Đó là một nửa khối ngọc hình bán nguyệt, đường mép gãy gồ ghề hình răng cưa vô cùng sắc nét, tựa như đã bị một ngoại lực cực mạnh bẻ đôi từ nhiều năm trước.
Và trên bề mặt nhẵn bóng của nửa khối ngọc ấy, dưới ánh nắng chiều tà chiếu rọi qua khung cửa sổ, lộ rõ một hoa văn chạm khắc nổi vô cùng tinh xảo: một nửa hình cánh chim loan phượng uốn lượn giữa những tầng mây sấm sét, nơi góc dưới cùng ẩn hiện hai nét khắc cổ tự theo lối triện thư – một nửa của chữ “Thẩm”!
Đồng tử của Thẩm Dao Nguyệt trong tích tắc co rút lại cực hạn!
Toàn bộ máu trong người nàng dường như đông cứng lại, hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực!
Miếng ngọc bội đó…
Nửa khối ngọc bội loan phượng với vết bẻ gãy răng cưa ấy…
Bàn tay Dao Nguyệt theo bản năng run rẩy đưa lên áp chặt vào trước ngực mình, nơi bên trong lớp áo lót sát da thịt, nàng đang ngày đêm cất giấu nửa khối ngọc bội còn lại – di vật duy nhất mà phụ thân Thẩm Hoài đã liều mạng nhét vào tay nàng trong đêm huyết sát bảy năm về trước!
Chiếc xe lăn không hề dừng lại, tiếp tục kẽo kẹt lăn qua ngưỡng cửa rồi khuất dần sau khúc quanh của hành lang dài, mang theo bóng lưng cô độc của vị vương tôn ngập tràn bí ẩn.
Chỉ còn lại một mình Dao Nguyệt đứng chôn chân giữa noãn các ngập tràn ánh hoàng hôn đỏ rực như máu, lồng ngực phập phồng dữ dội trong cơn chấn động long trời lở đất.