Mùi chua chát của khoáng thạch bị nung rữa bốc lên mỗi lúc một rõ, quẩn quanh nơi đầu mũi như một lời nguyền rủa vô hình.
Thẩm Dao Nguyệt không rút cây kim bạc ra ngay. Nàng duy trì tư thế nửa quỳ bên khung cửi tử đàn, sống lưng thẳng tắp như một nhành trúc vươn giữa giá lạnh, nhưng đầu ngón tay chạm vào thân kim đã truyền đến từng đợt tê buốt thấu tận tâm can.
Dưới ánh nến lay lắt, lỗ kim nhỏ li ti trên nền gấm thiên thanh đang chầm chậm biến dạng. Không có độ co giãn quen thuộc của lụa ngự cống, không có sự níu giữ bền bỉ của tơ tằm thượng hạng xứ Tô Châu; chỗ thớ vải bị mũi kim xuyên qua bắt đầu rạn nứt thành những đường tơ mủn mỏng manh như cánh ve sầu mục ruỗng. Màu xanh biếc thanh tao vốn tựa ráng chiều sau cơn mưa rào nhanh chóng ngả sang một vệt ố vàng nhờ nhợt, tựa hồ da thịt của kẻ trúng phải chướng khí rừng sâu đang rữa nát từng tấc một.
Minh phàn. Hay nói đúng hơn, là thứ dịch phèn chua đậm đặc được chiết xuất từ mỏ đá ngầm phương Nam, thứ mà các phường nhuộm hạ đẳng thường dùng với liều lượng cực nhỏ để cầm màu cho vải thô. Nhưng nếu hòa tan trong nước suối nóng với nồng độ cao rồi đem ngâm lụa tơ tằm nguyên chất qua ba ngày ba đêm, chất chua chát ấy sẽ âm thầm gặm nhấm từng sợi protein trong tơ tằm, biến một sấp gấm dẻo dai vô song thành một đống bã mục chỉ trực tan biến thành mây khói.
Độc địa hơn cả, nếu chỉ nhìn bằng mắt thường hoặc dùng tay sờ lướt qua mặt lụa, gấm Vân Vụ Cẩm vẫn giữ nguyên được độ bóng bẩy, mượt mà và mát lạnh như ngọc thạch. Kẻ hạ thủ không hề muốn hủy hoại tấm gấm ngay từ đầu. Chúng muốn nàng nhận lấy nó, trải nó lên khung, hạ mũi kim đầu tiên xuống để chính tay nàng xé toạc tấm ngự cống của Hoàng đế!
“Chưởng chế, nô tỳ mang than hoa và sáp ong tới rồi!”
Tiếng bước chân gấp gáp của Trúc Chi vang lên phá tan bầu không khí đặc quánh. Tiểu cung nữ ôm chiếc chậu đồng còn vương tàn tro đỏ rực, tay kia xách chiếc làn mây đựng hai hũ sáp trắng và dầu trà, thở hồng hộc bước vào. Nhưng vừa đặt chân tới gần khung cửi, nhìn thấy sắc mặt tái nhợt như tuyết phủ của Dao Nguyệt, bước chân Trúc Chi khựng lại, nụ cười nhẹ nhõm trên môi lập tức tắt ngấm.
“Chưởng… Chưởng chế? Người làm sao vậy?”
Trúc Chi đặt vội chậu than xuống sàn gạch xanh, hốt hoảng bước tới bên cạnh. Ánh mắt nàng đảo qua khung cửi, rồi dừng lại ở lỗ thủng nhỏ đang từ từ lan rộng trên mặt gấm Vân Vụ Cẩm.
“Mùi gì… chua nồng thế này?” Trúc Chi đưa tay lên che mũi, đôi mắt tròn xoe mở lớn vì kinh ngạc. Nàng vươn ngón tay toan chạm vào vết ố vàng kia: “Tấm gấm này…”
“Đừng chạm vào!”
Tiếng quát trầm thấp nhưng đanh thép của Dao Nguyệt khiến Trúc Chi giật bắn mình, vội rụt tay lại như vừa chạm phải than hồng.
Dao Nguyệt từ từ rút cây kim bạc ra. Khi thân kim rời khỏi mặt vải, không hề có tiếng ma sát êm ái, mà kéo theo một nhúm tơ vụn rơi lả tả xuống sàn gỗ. Chỗ lỗ kim vừa rút ra lập tức rách toạc một đường dài nửa tấc, để lộ ra những thớ dệt bên trong đã bị ăn mòn rỗng tuếch, mủn nát tựa như tro tàn sau một trận hỏa hoạn.
Trúc Chi trừng mắt nhìn cảnh tượng hãi hùng ấy, hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực. Là cung nữ được trui rèn ở Thượng Phục Cục hơn ba năm, nàng thừa hiểu ý nghĩa của vết rách này.
“Gấm… gấm ngự cống bị hỏng rồi?” Giọng Trúc Chi run lên bần bật, hai hàm răng va vào nhau lập cập: “Trời ơi… Đây là Vân Vụ Cẩm cống nạp từ Giang Nam, cả hoàng cung năm nay chỉ có hai cây gấm, một cây dâng lên Thái hậu nương nương làm trướng rủ, cây duy nhất còn lại dùng để thêu Thiên Hạc Hiến Thọ mừng đại thọ Vạn Thọ Tiết của Hoàng thượng… Sao nó lại mủn ra thế này? Chưởng chế, rốt cuộc là có chuyện gì?”
Dao Nguyệt đứng thẳng dậy, đôi mắt trong veo sâu thẳm phẳng lặng như mặt nước hồ mùa thu, nhưng dưới đáy hồ lại là những luồng sóng ngầm cuộn trào sắc lạnh. Nàng khẽ vuốt phẳng tà áo nữ quan màu thanh lam, cất giọng lãnh đạm:
“Không phải tự nhiên mà hỏng. Có kẻ đã ngâm nó vào nước phèn chua cực đặc trước khi mang tới đây.”
“Nước phèn chua?” Trúc Chi thốt lên, gương mặt thoắt cái cắt không còn giọt máu: “Là ai? Ai lại dám to gan làm ra chuyện đại nghịch bất đạo này? Chẳng lẽ… chẳng lẽ là Tôn Ma ma?”
Nghĩ đến nụ cười hiểm độc và ánh mắt sắc như dao cau của Tôn Ma ma khi giao gấm lúc chập tối, đầu gối Trúc Chi mềm nhũn, suýt nữa ngã quỵ xuống sàn. Nàng túm lấy vạt áo Dao Nguyệt, nước mắt lưng tròng:
“Chưởng chế! Chúng ta mau đi báo cho Phương Thượng cung! Không, phải tới thẳng Thận Hình Ti hoặc Khâm Sai Viện thưa bẩm! Tấm gấm này lúc Tôn Ma ma mang tới đã có vấn đề, cuộn kim tuyến cũng bị kéo giãn. Đây là mưu kế hãm hại! Chúng ta đi bẩm báo với các vị đại nhân, xin đổi sấp gấm khác…”
“Đổi gấm khác?”
Dao Nguyệt khẽ nhếch môi, nụ cười thoáng hiện mang theo vài phần tự giễu và sự lạnh lẽo thấu xương. Nàng đưa tay đỡ lấy bả vai đang run rẩy của Trúc Chi, thanh âm bình ổn đến kỳ lạ:
“Trúc Chi, ngươi nghĩ Vân Vụ Cẩm là thứ vải thô ngoài chợ đông Biện Lăng sao, muốn đổi là có thể đổi? Năm nay Giang Nam lũ lụt, dâu tằm mất mùa, cống phẩm dâng lên kinh thành chỉ vỏn vẹn hai cây. Cây trong cung Từ Ninh đã được cắt may thành thọ trướng từ tháng trước. Ngươi bảo Thượng Cung Cục lấy đâu ra cây thứ ba?”
Trúc Chi sững sờ, giọt nước mắt lăn dài trên gò má trắng bệch: “Vậy… vậy chúng ta đi tố giác Tôn Ma ma…”
“Tố giác bằng cách nào?” Ánh mắt Dao Nguyệt lóe lên tia sáng sắc bén, từng lời nói ra như gáo nước lạnh tạt thẳng vào sự hoảng loạn của tiểu cung nữ: “Ngươi có chứng cứ không? Lúc giao nhận tại sảnh chính, chính tay ta đã ký vào sổ xuất kho của Thượng Cung Cục, xác nhận tấm gấm nguyên vẹn không tì vết. Trên sổ sách viết rõ ràng: ‘Chưởng chế Thẩm thị đích thân nghiệm thu gấm cống, mặt vải trơn bóng, màu sắc thuần khiết, không rách không sờn’. Bây giờ nếu chúng ta mang tấm gấm mủn nát này ra ngoài, người đầu tiên bị tống vào ngục tối Thận Hình Ti chịu tội khi quân, tội hủy hoại ngự cống, chính là Thẩm Dao Nguyệt ta!”
Lời nói của Dao Nguyệt như sấm sét giáng xuống đỉnh đầu Trúc Chi. Tiểu cung nữ chết lặng, hai bàn tay buông thõng giữa không trung.
Phải rồi. Quy củ hoàng cung nghiêm ngặt như núi, chữ ký trên giấy trắng mực đen chính là bằng chứng thép. Một khi đã điểm chỉ nhận vật phẩm, mọi hư tổn phát sinh sau đó đều do người nhận gánh chịu toàn bộ. Tiêu Uẩn Lan đã tính toán đến từng đường đi nước bước, không để lại cho nàng một kẽ hở nào để giãy giụa.
“Hơn nữa…” Dao Nguyệt khẽ nghiêng đầu, ánh mắt hướng về phía khung cửa sổ dán giấy hoa mờ ảo ở mé đông Châm Dệt Ti, “Ngươi nghĩ bây giờ chúng ta còn có thể bước chân ra khỏi cánh cửa này sao?”
Trúc Chi giật mình, nén tiếng khóc nhìn theo hướng mắt của chủ tử.
Bên ngoài trời đêm đen đặc quánh như mực. Gió thu rít qua từng khe ngói âm dương, tạo nên những âm thanh u u u uất. Dưới ánh lồng đèn đỏ treo nơi góc hành lang xa xa, có hai bóng người khoác áo bào thái giám sẫm màu đang đứng nép mình dưới bóng cây ngô đồng, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn chằm chằm vào gian phòng thêu của Châm Dệt Ti. Cách đó không xa, một cung nữ mặc trang phục của Khôn Ninh Cung đang giả vờ quét dọn lá rụng, nhưng mỗi bước chân đều lảng vảng quanh lối đi độc đạo dẫn ra sảnh ngoài.
Tai mắt của Khôn Ninh Cung đã giăng kín như mạng nhện!
Tiêu Hoàng hậu đã sớm bài trí thiên la địa võng. Mụ không chỉ muốn nàng chết, mà còn muốn phong tỏa mọi đường sống, biến gian phòng thêu này thành một nấm mồ giam hãm nàng trong sự tuyệt vọng cùng cực suốt ba ngày tới.
“Họ… họ đang canh chừng chúng ta…” Giọng Trúc Chi lạc hẳn đi, ngập tràn vẻ kinh hãi: “Tiêu Hoàng hậu muốn dồn người vào chỗ chết! Ba ngày nữa, nếu không giao ra bức thêu Thiên Hạc Hiến Thọ, hoặc giao ra một tấm gấm rách nát… tội khi quân sẽ khiến người bị lăng trì xử tử mất!”
Tiểu cung nữ không kìm được nữa, quỳ sụp xuống chân Dao Nguyệt, nghẹn ngào nức nở: “Đều tại nô tỳ vô dụng, không bảo vệ được người… Tiểu thư ơi, người đã nhẫn nhịn bảy năm trời, chịu bao nhiêu tủi nhục từ khi Thẩm gia gặp nạn, chẳng lẽ ông trời lại tuyệt đường sống của người đến mức này sao?”
Nghe hai chữ “Thẩm gia”, nơi đáy mắt Thẩm Dao Nguyệt khẽ gợn lên một làn sóng đau nhức buốt nhói, nhưng rất nhanh sau đó liền bị hàn băng lạnh lẽo đóng kín lại.
Bảy năm trước, ngự sử đài sụp đổ trong một đêm mưa máu. Phụ thân nàng – Ngự sử Đại phu Thẩm Hoài – người một đời thanh liêm chính trực, bị Tiêu thị ngụy tạo mật thư thông địch vu cáo là phản quốc, toàn gia hơn trăm nhân khẩu bị chém đầu thị chúng tại cổng Tây Thị. Máu nhuộm đỏ từng phiến đá kinh thành, mùi máu tanh nồng nặc ba ngày không tan. Nàng sống sót được giữa đống xác chết tanh tưởi ấy, ẩn nhẫn nơi giặt giũ hôi hám suốt mấy năm ròng, nuốt bao nhiêu đắng cay nhục nhã để bước lên vị trí Chưởng chế này, há lại có thể dễ dàng chịu chết dưới một trò bẩn thỉu của Tiêu Uẩn Lan hay sao?
Mạng của nàng, trời không thể lấy, đất không thể chôn, càng không tới lượt Tiêu thị định đoạt!
“Đứng dậy.”
Giọng Dao Nguyệt vang lên, không hề có chút run rẩy hay yếu đuối, ngược lại trầm ổn và kiên định như bàn thạch ngàn năm trơ trọi giữa sóng gió gầm gào.
Nàng vươn tay, dứt khoát kéo Trúc Chi đứng lên: “Lau nước mắt đi. Ở trong cái hoàng cung ăn thịt người này, nước mắt là thứ rẻ mạt và vô dụng nhất. Kẻ thù muốn thấy chúng ta khóc lóc cầu xin, muốn thấy chúng ta tự loạn trận tuyến. Càng là tuyệt cảnh, chúng ta càng phải cười cho chúng xem!”
Trúc Chi ngẩng đầu nhìn chủ tử. Dưới ánh nến bập bùng, gương mặt thanh tú của Dao Nguyệt không hề có lấy một tia hoảng sợ. Đôi mắt nàng sáng rực lên một thứ dã tâm và ý chí sắt đá, tựa như thanh bảo kiếm vừa tuốt ra khỏi vỏ, lấp lánh hàn quang khiến người ta bất giác run sợ nhưng lại an tâm tuyệt đối.
Tiểu cung nữ cắn chặt môi, đưa ống tay áo quệt mạnh nước mắt trên mặt, gật đầu thật mạnh: “Vâng! Nô tỳ nghe Chưởng chế! Người bảo nô tỳ làm gì, dầu sôi lửa bỏng nô tỳ cũng không chối từ!”
“Rất tốt.”
Dao Nguyệt quay người bước lại gần chậu than hoa. Nàng ngồi xổm xuống, lấy thanh sắt nhỏ khều cho than cháy rực lên, rồi đặt một chiếc đĩa gốm nhỏ lên trên miệng chậu. Nàng dùng dao con gọt một mẩu sáp ong trắng thả vào đĩa, lại nhỏ thêm vài giọt dầu hoa trà và một nhúm bột trầm hương thanh khiết.
Chẳng mấy chốc, sáp ong tan chảy thành một làn chất lỏng trong suốt, tỏa ra mùi hương dịu ngọt át đi mùi phèn chua khó chịu trong phòng.
Dao Nguyệt đứng dậy, lại gần khung cửi, cẩn thận nâng vạt lụa bị hỏng lên săm soi dưới ánh sáng. Nàng lấy một cây kim thử bạc khác, khẽ ấn vào nhiều vị trí khác nhau trên mặt gấm để thăm dò phạm vi bị ngâm phèn.
Sau nửa tuần trà cẩn mật kiểm tra, bức tranh toàn cảnh về cái bẫy đã hiện rõ trong tâm trí nàng.
Kẻ hạ thủ hiển nhiên là một tay lão luyện trong nghề nhuộm vải. Chúng không ngâm toàn bộ tấm gấm vào bể phèn, vì làm như vậy lụa sẽ bị co rút hoặc biến đổi độ bóng bề mặt, rất dễ bị người tinh mắt phát hiện ngay từ đầu. Chúng dùng bút lông thỏ chấm dịch phèn chua đậm đặc quét theo một hình rẻ quạt rộng lớn ở ngay chính giữa trung tâm tấm gấm – đúng vào vị trí mà đồ án “Thiên Hạc Hiến Thọ” buộc phải thêu con hạc đầu đàn ngậm linh chi!
Chỉ cần nàng bắt đầu thêu từ trung tâm theo đúng quy chuẩn cung đình, những đường kim dày đặc đâm xuống sẽ khiến toàn bộ khu vực trung tâm rộng chừng hai thước vuông ấy mủn nát tan tành. Khi ấy, bức thêu sẽ thủng một lỗ lớn như miệng quái thú ngoác ra, hoàn toàn vô phương cứu vãn.
Nhưng những phần rìa xung quanh, thớ gấm vẫn còn tương đối bền chắc.
“Họa biến vi kỳ… biến họa thành phúc…” Dao Nguyệt khẽ lẩm bẩm, ngón tay thon dài gõ nhẹ lên mép khung cửi theo từng nhịp điệu suy tư.
“Chưởng chế, người nói gì cơ ạ?” Trúc Chi tò mò ghé sát lại hỏi nhỏ.
Ánh mắt Dao Nguyệt lóe lên một tia sáng kỳ dị: “Trúc Chi, Tiêu Uẩn Lan ra đề bài cho ta là gì?”
“Dạ… là bức thêu ‘Thiên Hạc Hiến Thọ’ dâng lên Hoàng thượng nhân dịp Vạn Thọ Tiết.”
“Đúng vậy. Thiên Hạc Hiến Thọ.” Khóe môi Dao Nguyệt cong lên thành một nụ cười lạnh lẽo: “Ý chỉ của Khôn Ninh Cung chỉ nói là thêu ngàn con tiên hạc mừng thọ Hoàng thượng bằng Băng tằm kim tuyến trên nền Vân Vụ Cẩm. Nhưng bà ta có từng quy định rằng, trên bức gấm chỉ được phép có duy nhất hình ảnh tiên hạc hay không?”
Trúc Chi chớp chớp mắt, dường như lờ mờ nhận ra điều gì đó nhưng vẫn chưa dám khẳng định: “Ý người là…”
“Tiên hạc vờn mây, tùng hạc diên niên, đó là những đồ án cũ kỹ đến mức nhàm chán mà năm nào Lục cục cũng dâng lên.” Dao Nguyệt chậm rãi bước tới giá để chỉ thêu, đôi mắt lướt qua hàng trăm ống chỉ được xếp ngay ngắn thành từng tầng: “Nếu mặt lụa ở trung tâm đã bị mục nát, không thể chịu nổi sức căng của những mũi kim đâm xô truyền thống, vậy thì ta sẽ không thêu hạc ở đó nữa.”
“Nhưng chỗ đó bị ố vàng và rách một mảng rồi, nếu để trống thì làm sao qua mắt được Hoàng hậu?” Trúc Chi lo lắng hỏi.
“Ai bảo ta sẽ để trống?”
Dao Nguyệt vươn tay, dứt khoát nhấc xuống mấy cuộn chỉ tơ tằm bóng với đủ loại sắc độ: đỏ thắm chu sa, đỏ hồng lựu, cánh sen thẫm, hoàng kim, cùng các tông màu xanh ngọc bích và đan thanh tuyệt mỹ.
Nàng xoay người lại, ánh mắt rực sáng nhìn Trúc Chi: “Ta sẽ dùng chính vết ố vàng và phần vải rách nát đó làm đài hoa! Ta sẽ thêu lên đó một đóa Mẫu Đơn Thịnh Thế ngàn cánh!”
“Mẫu đơn?” Trúc Chi kinh ngạc thốt lên, hai mắt mở to: “Mẫu đơn là biểu tượng của mẫu nghi thiên hạ, của Hoàng hậu nương nương! Nhưng đây là lễ vật dâng Hoàng thượng…”
“Ngươi sai rồi.” Dao Nguyệt ngắt lời, giọng điệu sắc bén như lưỡi đao xé gió: “Mẫu đơn hoa khai phú quý, quốc sắc thiên hương, chính là tượng trưng cho sự phồn vinh thịnh trị của Đại Ngụy triều ta dưới sự trị vì của Đương kim Hoàng thượng! Đóa Mẫu Đơn khổng lồ nở rộ giữa trung tâm, nâng đỡ lấy đàn tiên hạc chín trăm chín mươi chín con vỗ cánh bay lượn hướng về phía mặt trời mọc. Đồ án này có tên là: ‘Quốc Sắc Thiên Hương, Bách Hạc Triều Dương’!”
Nàng tiến lại gần Trúc Chi, thanh âm hạ thấp nhưng đầy sức nặng: “Mẫu đơn vốn dĩ là loài hoa Tiêu Uẩn Lan yêu thích nhất, cũng là biểu trưng cho quyền lực mà mụ luôn tự hào. Khi ta dâng bức tranh này lên, mụ có dám mở mồm chê bai loài hoa đại diện cho Hoàng hậu là điềm gở hay không? Mụ có dám trước mặt Hoàng thượng và văn võ bá quan mà bảo rằng thêu mẫu đơn chúc thọ là sai trái hay không? Mụ không những không dám bắt bẻ, mà còn phải cắn răng khen ngợi sự khéo léo của ta!”
Trúc Chi nghe mà tim đập thình thịch, máu trong người như sôi sục theo từng lời phân tích sắc sảo của Dao Nguyệt. Nhưng rồi, tiểu cung nữ lại nhìn về phía vết rách trên mặt gấm, giọng chùng xuống:
“Nhưng… Chưởng chế ơi, dù đổi thành hoa mẫu đơn thì mặt gấm ở đó cũng đã mủn nát rồi. Cánh hoa mẫu đơn tầng tầng lớp lớp, mũi kim đâm xuống còn dày đặc hơn cả thêu lông vũ tiên hạc, làm sao mặt lụa chịu nổi?”“Đó chính là lý do vì sao ta bảo ngươi chuẩn bị sáp ong và dầu hoa trà.”
Thẩm Dao Nguyệt khẽ mỉm cười, một nụ cười đầy tự tin của một bậc thầy nắm giữ bí thuật tuyệt luân thiên hạ.
Nàng bước tới chậu than, cầm lấy chiếc đĩa gốm đựng sáp ong lỏng đã hòa tan với dầu trà. Dùng một chiếc cọ lông sóc cực nhỏ, nàng cẩn thận chấm một giọt chất lỏng trong suốt rồi quét thật nhẹ lên mặt sau của vùng lụa bị rách mục.
Chất sáp ong ấm nóng khi gặp không khí lạnh bắt đầu đông lại rất nhanh, len lỏi vào từng kẽ tơ li ti bị ăn mòn, gắn kết những sợi tơ mủn rệu rã lại với nhau như một lớp màng bảo vệ vô hình, dẻo dai và đàn hồi cực tốt. Mùi thơm của trầm hương và dầu trà lập tức khóa chặt hoàn toàn mùi chua của phèn, không để lọt ra ngoài dù chỉ một tia chướng khí.
“Đây là ‘Cố Tơ Quyết’ trong bí thuật Song Diện Thêu của Thẩm gia ta.” Dao Nguyệt vừa thao tác vừa thì thầm, ánh mắt lấp lánh hoài niệm: “Năm xưa, phụ thân từng nói, ngọc có tì vết thì mài giũa thành hoa văn, lụa có chỗ rách thì lấy đường kim làm cốt nhục. Không có mảnh vải nào là phế phẩm, chỉ có kẻ thêu thùa không đủ tài hoa mà thôi.”
Nàng đặt cọ xuống, quay sang nhìn Trúc Chi: “Trúc Chi, từ giờ phút này cho tới sáng ngày thứ ba, cánh cửa này sẽ đóng chặt. Ngươi phụ trách canh chừng chậu than, liên tục chuốt sáp cho ta từng sợi kim tuyến theo phương pháp ‘Hồi Phong Nhu Tơ’ mà ta đã dạy. Còn lại, giao cho ta.”
“Dạ! Nô tỳ xin thề liều chết tương trợ Chưởng chế!” Trúc Chi quỳ một gối, hai tay ôm quyền, vẻ mặt nghiêm trang như một chiến sĩ sắp bước vào trận tử chiến sinh tử.
Trận chiến này không có gươm đao giáo mác, nhưng sự hiểm độc và máu tanh lại ẩn giấu ngay dưới từng mũi kim sợi chỉ.
Đêm canh năm. Tiếng chuông chùa xa xăm điểm từng hồi u tịch.
Căn phòng Châm Dệt Ti hoàn toàn chìm vào sự tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ còn lại tiếng hít thở nhịp nhàng của hai bóng người dưới ánh nến lung linh.
Thẩm Dao Nguyệt cầm lấy cây kim bạc dài ba tấc. Lần này, nàng không dùng ngón tay ấn xuống một cách đơn thuần nữa.
Nàng vận dụng kỹ thuật đỉnh cao nhất của “Song Diện Cực Ẩn Thuật”: Thêu nổi đè kim tuyến (Điệp Tơ Cố Vĩ).
Tay phải nàng lướt đi trên mặt lụa, kim bạc dẫn đường cho sợi chỉ tơ đỏ thẫm đan xen với kim ngân tuyến óng ánh. Thay vì đâm kim thẳng đứng xuyên qua thớ vải mục nát, mũi kim của nàng lướt nghiêng một góc ba mươi độ, chỉ gảy nhẹ qua lớp màng sáp ong bảo vệ ở mặt sau rồi lập tức cuộn ngược trở lại mặt trước.
Mũi kim như một con thoi bạc bay lượn giữa không trung!
“Xoạt… xoạt… xoạt…”
Từng đường kim rơi xuống chuẩn xác đến từng sợi tơ. Sợi chỉ đỏ chu sa uốn lượn, ôm trọn lấy mép rách mủn của tấm gấm, từng mũi thêu đâm xô sít sao đè chặt lên nhau, tạo thành những đường gân lá khỏe khoắn và dày dặn.
Kỳ diệu thay, phần lụa bị phèn ăn mòn biến thành màu vàng ố kia, dưới sự sắp đặt tài tình của Dao Nguyệt, lại vô tình trở thành nh** h** tự nhiên của đóa đại mẫu đơn! Nàng dùng kim tuyến màu hoàng kim viền quanh nh** h**, điểm xuyết thêm những hạt tơ màu hổ phách, khiến cho nh** h** trông như đang đọng những giọt sương mai lấp lánh dưới ánh bình minh rực rỡ.
Trúc Chi ngồi bên chậu than, hai bàn tay thoăn thoắt chuốt từng sợi chỉ vàng qua sáp ong ấm rồi dùng vải nhung miết nhẹ. Từng sợi kim tuyến sau khi được xử lý trở nên mềm mại như tơ liễu, dẻo dai vô cùng, khi uốn lượn dưới tay Dao Nguyệt không hề phát ra một tiếng răng rắc nào, càng không hề có dấu hiệu đứt gãy.
Thời gian trôi qua như bóng câu qua cửa sổ.
Ánh bình minh của ngày thứ nhất le lói qua khung cửa sổ, xua tan bóng tối mịt mùng của đêm trường. Bên ngoài hành lang, tiếng bước chân quét dọn của các cung nữ bắt đầu rộn rã.
Cửa sổ Châm Dệt Ti vẫn đóng chặt.
Tôn Ma ma khoác chiếc áo choàng màu nâu sẫm, dẫn theo hai tiểu thái giám chậm rãi đi ngang qua gian phòng thêu. Mụ dừng lại trước hiên, đôi mắt ti hí đảo quanh cánh cửa cài then kín mít, khóe môi nhếch lên một nụ cười mỉa mai, độc địa.
“Ma ma, bên trong không có động tĩnh gì, cũng không thấy Thẩm thị ra ngoài xin thêm vật liệu.” Một tên tiểu thái giám ghé tai thì thầm.
Tôn Ma ma cười khẩy, v**t v* chiếc nhẫn ngọc bích trên ngón tay trỏ: “Cần gì phải ra ngoài? Lúc này chắc con tiện tỳ đó đang ôm tấm gấm rách mà khóc lóc thảm thiết rồi. Vân Vụ Cẩm ngâm phèn của nương nương ban cho, thần tiên hạ phàm cũng đừng hòng vá víu lại được. Cứ để ả giãy giụa thêm hai ngày nữa. Đến sáng ngày thứ ba, Khôn Ninh Cung chúng ta sẽ đích thân tới đây thu lưới!”
Dứt lời, mụ phất tay áo, ung dung sải bước rời đi, trong lòng đã chắc mẩm cái đầu của Thẩm Dao Nguyệt sắp rơi xuống đất.
Mụ không thể ngờ rằng, ngay sau cánh cửa gỗ đóng kín kia, một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử dệt thêu cung đình Đại Ngụy đang từng bước thành hình.
Sang ngày thứ hai, không khí trong phòng thêu càng trở nên ngột ngạt và căng thẳng tột độ.
Mùi trầm hương và sáp ong quyện lẫn mùi mồ hôi nhàn nhạt. Mười đầu ngón tay của Thẩm Dao Nguyệt đã bắt đầu rớm máu vì cọ xát liên tục với sợi kim tuyến thô ráp, nhưng ánh mắt nàng chưa từng rời khỏi mặt gấm dù chỉ nửa khắc. Nàng không ăn không uống suốt một ngày một đêm, chỉ thỉnh thoảng nhấp một ngụm trà sâm ấm do Trúc Chi dâng lên để duy trì sự tỉnh táo.
Đóa Mẫu Đơn Thịnh Thế ở trung tâm đã hoàn thành được tám phần!
Đó là một đóa hoa lộng lẫy đến nghẹt thở. Hàng trăm cánh hoa màu đỏ thắm xếp tầng tầng lớp lớp, cánh hoa bên ngoài cong vút mềm mại, cánh hoa bên trong e ấp ôm lấy nh** h** vàng rực. Lớp thêu nổi dày dặn hoàn toàn che lấp đi phần lụa bị ăn mòn, biến nhược điểm chí mạng thành điểm nhấn kiêu sa và tráng lệ nhất của toàn bộ bức gấm.
Nhưng thử thách thực sự lúc này mới bắt đầu: thêu chín trăm chín mươi chín con tiên hạc xung quanh đóa mẫu đơn.
Nếu thêu từng con hạc một theo cách thông thường, với thời gian chưa đầy một ngày một đêm còn lại, dù có mười Thẩm Dao Nguyệt cũng tuyệt đối không thể hoàn thành.
“Chưởng chế… người nghỉ một lát đi, mắt người đã đỏ hoe cả rồi!” Trúc Chi nhìn thấy quầng thâm dưới mắt chủ tử và những vệt máu khô trên đầu ngón tay nàng, xót xa đến rơi nước mắt.
“Không thể nghỉ.” Giọng Dao Nguyệt khàn đặc nhưng rành rọt từng chữ: “Nhiệm vụ chưa xong, hơi thở này chưa thể buông lỏng.”
Nàng hít một hơi sâu, rút ra một lúc ba cây kim bạc nhỏ hơn, kẹp giữa các kẽ ngón tay của bàn tay phải.
Đây chính là tuyệt kỹ thất truyền “Tam Châm Đồng Hành” của Thẩm gia!
Một tay điều khiển ba cây kim, dùng ba sợi chỉ với độ dày và màu sắc khác nhau cùng lúc đâm xuống mặt vải. Kim thứ nhất thêu thân hạc bằng tơ tằm trắng muốt; kim thứ hai thêu cánh hạc viền chỉ bạc; kim thứ ba thêu mỏ và mắt hạc bằng tơ đen tuyền.
Đôi bàn tay của Dao Nguyệt chuyển động nhanh đến mức chỉ còn thấy những tàn ảnh lấp loáng dưới ánh nến. Từng con tiên hạc sống động như thật bắt đầu hiện ra trên nền gấm xanh thiên thanh.
Con thì giang rộng đôi cánh đón gió lộng, con thì chao liệng giữa tầng mây cuộn, con thì nghiêng đầu nhìn ngắm trần gian, con thì vươn cổ cất tiếng hót thanh tao… Đàn hạc tầng tầng lớp lớp, xoay quanh đóa mẫu đơn khổng lồ ở trung tâm, tạo nên một cảnh tượng hùng vĩ, tráng lệ tựa như chốn bồng lai tiên cảnh giáng xuống nhân gian!
Đêm thứ hai trôi qua trong tiếng kim xé gió dồn dập.
Gió lạnh gầm thét ngoài hiên vắng, sương muối phủ trắng những cành lá khô ngoài vườn ngự. Ngọn nến trên bàn đã cháy cạn đến cây thứ chín, sáp nến chảy tràn trên đĩa đồng.
Khi canh năm của ngày thứ ba điểm những tiếng trống dồn dập báo hiệu giờ Dần đã tới, Thẩm Dao Nguyệt siết chặt ngón tay, thực hiện mũi khâu giấu mối cuối cùng ở khóe mắt của con tiên hạc thứ chín trăm chín mươi chín.
“Phập.”
Mũi kim xuyên qua lớp vải lót sau cùng. Nàng dùng kéo con bằng bạc bấm đứt sợi tơ cuối cùng.
Căn phòng thêu bỗng chốc rơi vào một sự tĩnh lặng hoàn toàn.
Trúc Chi ngồi bệt dưới sàn, hai mắt mở to nhìn trừng trừng vào bức thêu trên khung cửi. Tiểu cung nữ dường như quên cả thở, bàn tay run rẩy đưa lên che miệng, nước mắt hạnh phúc vỡ òa tuôn rơi lã chã.
Đó không còn là một tấm gấm ngự cống bị hỏng nữa.
Đó là một kiệt tác cái thế!
Dưới ánh sáng mờ ảo của buổi bình minh sớm mai le lói qua khe cửa, bức thêu tỏa ra một vầng hào quang rực rỡ đến mê hoặc lòng người. Đóa mẫu đơn trung tâm đỏ rực như lửa cháy, kiêu hãnh vươn mình giữa trời đất, những cánh hoa thêu nổi sống động đến mức dường như chỉ cần một làn gió nhẹ thổi qua cũng có thể lay động tỏa hương.
Bao quanh đóa mẫu đơn là chín trăm chín mươi chín con tiên hạc bằng kim tuyến óng ánh, mỗi con một dáng vẻ, con ngẩng đầu, con sải cánh, tất cả đều hướng về phía vầng thái dương đỏ thắm thêu bằng tơ sa hạt ở góc trên cùng bên phải. Mặt trời tỏa ra vạn đạo kim quang, rọi chiếu lên đàn hạc và đóa quốc sắc thiên hương, tạo nên một thế cục phong thủy “Thiên Hạ Thái Bình, Phú Quý Trường Xuân” hoàn mỹ không một tì vết!
Không ai có thể tưởng tượng được rằng, bên dưới đóa mẫu đơn kiêu sa rực rỡ kia, lại là một mảng lụa đã từng bị phèn chua ăn mòn rách nát đến cùng cực.
Thẩm Dao Nguyệt khẽ lảo đảo, nàng đưa tay vịn vào mép khung cửi để giữ thăng bằng. Cơn kiệt sức ập đến như sóng thần sau hai ngày hai đêm hao tổn tâm huyết, sắc mặt nàng tái nhợt như giấy bản, nhưng đôi mắt lại sáng rực như những vì sao trên bầu trời đêm.
Nàng đã làm được. Nàng đã lật ngược thế cờ ngay giữa miệng hùm nọc rắn!
“Chưởng chế… người làm được rồi… chúng ta sống rồi…” Trúc Chi nghẹn ngào bò dậy, ôm lấy cánh tay Dao Nguyệt, vừa khóc vừa cười trong cơn xúc động tột cùng.
“Đừng vội mừng.” Dao Nguyệt hít một hơi sâu, thanh âm lạnh lùng kéo tiểu cung nữ trở về thực tại: “Cái bẫy thứ nhất đã phá, nhưng kịch hay bây giờ mới thực sự bắt đầu.”
Nàng vừa dứt lời, từ ngoài hành lang Châm Dệt Ti bỗng vang lên hàng loạt tiếng bước chân rầm rộ, gấp gáp và hung hãn.
Tiếng kim loại va chạm leng keng lanh lảnh, tiếng quát tháo hống hách xé tan bầu không khí thanh tịnh của buổi sớm mai.
“Rầm!”
Một tiếng động chói tai vang lên, cánh cửa gỗ tử đàn của phòng thêu bị một lực cực mạnh từ bên ngoài đạp tung ra, đập mạnh vào vách tường kêu ken két!
Gió lạnh buổi sớm ùa vào phòng, thổi tắt ngọn nến tàn cuối cùng trên bàn.
Dưới ánh rạng đông xám xịt của ngày thu, Tôn Ma ma đứng sừng sững ngay giữa ngưỡng cửa. Mụ khoác áo lụa tím thêu hoa chìm lộng lẫy, gương mặt thoa phấn trắng bệch nở một nụ cười đắc thắng, cay độc và tàn nhẫn đến tột cùng.
Phía sau mụ là bốn tên thái giám lực lưỡng của Thận Hình Ti, tay cầm xích sắt, gậy trượng bản to bản và dây thừng trói phạm nhân, đằng đằng sát khí vây kín toàn bộ lối đi.
“Thẩm Dao Nguyệt!”
Tiếng cười the thé chói tai của Tôn Ma ma vang lên như tiếng quạ kêu giữa bãi tha ma: “Kỳ hạn ba ngày đã điểm! Ngươi dám to gan làm hỏng ngự cống Vân Vụ Cẩm, chậm trễ đại lễ Vạn Thọ, phạm vào tội khi quân tru di tam tộc!”
Mụ vung mạnh tay áo, ánh mắt lóe lên tia nhìn thèm khát máu tanh, chỉ thẳng vào mặt Dao Nguyệt:
“Người đâu! Tịch thu toàn bộ tang vật phạm thượng, lập tức áp giải ả tiện tỳ này về Khôn Ninh Cung cho Hoàng hậu nương nương định tội!”