Thượng Cung Không Làm Họa Thủy

Chương 13: Huyết Tự Hoành Phi

Gió đêm rít qua từng khe cửa gỗ Châm Dệt Ti, mang theo hàn khí buốt giá của đợt sương muối cuối thu cùng mùi khét lẹt nồng nặc của da thịt cháy xém và hỏa du chưa tan hết. Ánh nến le lói trên chiếc bàn con chao đảo dữ dội, hắt cái bóng mảnh khảnh nhưng thẳng tắp của Thẩm Dao Nguyệt lên vách tường loang lổ vết tơ thép cứa sâu vào gạch đá.

Mũi U Hồn Trâm bằng bạc nguyên chất nằm lạnh lẽo trong chiếc đĩa sứ trắng, vệt máu đen đặc quánh đã bị nước lạnh gột rửa phân nửa, để lộ ra hoa văn Long Giác Khô Lâu tinh xảo đến rợn người. Từng đường chạm khắc siêu vi hình chiếc đầu lâu mọc sừng rồng cuộn xoắn như đang nhe nanh múa vuốt, cười nhạo nỗi đau thương bảy năm ròng rã của nàng.

Đầu ngón tay Dao Nguyệt dính đầy máu tươi, run rẩy miết nhẹ lên chuôi tiêu. Vết chai mỏng của người thợ thêu tiếp xúc với kim loại lạnh ngắt làm dấy lên một cơn rùng mình thấu tận xương tủy.

Năm ấy, khi mưa máu gió tanh phủ kín Thẩm phủ, tiếng gươm đao va chạm xé toạc màn đêm tĩnh mịch, nàng trốn sau bức rèm lụa bách điểu trong thư phòng, tận mắt nhìn thấy kẻ cầm đầu toán sát thủ giáp xám rút ra một tấm lệnh bài bằng ngọc đen. Trên tấm ngọc đó, hoa văn Long Giác Khô Lâu phát ra thứ ánh sáng u uất của tử thần. Phụ thân nàng – Ngự sử Đại phu Thẩm Hoài – cả đời thanh liêm chính trực, trước khi bị trói giải đi vẫn hiên ngang đứng giữa thư phòng, chỉ tay vào mặt kẻ kia mắng lớn: “Nghịch tặc Tiêu Mậu! Ngươi mượn tay Hắc Lân Thiết Vệ ngụy tạo mật thư, hãm hại trung lương, trời xanh có mắt, ắt có ngày tru diệt cửu tộc nhà ngươi!”

Hắc Lân Thiết Vệ.

Đó không phải là lũ lục lâm thảo khấu của Mặc Sát Môn. Tiêu gia đã dùng vỏ bọc giang hồ để đánh lừa cả thiên hạ, nhưng đòn hiểm đoạt mạng nhắm vào Châm Dệt Ti đêm nay thực chất lại là nanh vuốt trực hệ của Thừa tướng Tiêu Mậu.

“Thẩm Chưởng chế.”

Một giọng nói trầm thấp, lạnh như băng tuyết bất chợt vang lên từ khoảng tối nơi góc phòng.

Dao Nguyệt không hề giật mình. Nàng khẽ nghiêng đầu, thấy Ảnh Nhất tự bao giờ đã đứng sau lưng nàng, thân hình hòa lẫn vào bóng tối của cây cột tử đàn, chỉ có đôi mắt sáng quắc như chim ưng nhìn chằm chằm vào bả vai đã được băng bó cẩn thận của Tề Dực đang nằm mê man trên sập gụ.

“Mũi tiêu đã rút ra, độc tính tạm thời bị bế tỏa, nhưng hàn độc U Hồn Trâm đã ngấm vào kinh lạc, cần lập tức chuyển chủ nhân về Dược Hương Uyển để ngự y thân tín dùng dược liệu ngàn năm trục độc.” Ảnh Nhất cúi đầu, ngữ khí mang theo sự kính cẩn không hề che giấu đối với nàng. Ban nãy, chính mắt hắn nhìn thấy thủ pháp điểm huyệt khóa mạch cùng bản lĩnh rút trâm kinh người của nữ tử này; nếu chậm nửa khắc, chủ nhân của hắn e rằng đã mất mạng.

Dao Nguyệt hít một hơi sâu, đè nén cơn cuộn trào trong lồng ngực, nàng khẽ giọng dặn dò: “Thuốc bột ta rắc trên miệng vết thương là Sinh Cơ Tán kết hợp Ma Cốt Thảo, có thể cầm máu và ngăn độc tính thâm nhập vào phế phủ trong vòng ba canh giờ. Khi đưa chàng qua mật đạo, tuyệt đối không được để lưng chàng chạm đất, vết thương rách sâu sát xương, cử động mạnh sẽ khiến kinh mạch đứt đoạn.”

“Thuộc hạ đã rõ.” Ảnh Nhất chắp tay, đoạn hơi ngập ngừng, ánh mắt liếc qua vạt áo rách nát nhuốm đầy máu của nàng: “Còn Chưởng chế... tay của người...”

“Vết thương ngoài da, không chết được.” Dao Nguyệt rũ mi mắt, giấu đi mười đầu ngón tay đang run rẩy vì đau buốt: “Tên sát thủ còn sống sót kia thế nào rồi?”

Đáy mắt Ảnh Nhất lóe lên một tia thị huyết tàn nhẫn: “Mặc Ảnh Vệ đã tiếp quản. Bẻ gãy khớp cằm, rút sạch ba mươi hai chiếc răng để ngăn hắn cắn túi độc tự vẫn. Dưới mười tám tầng hình phạt của Mặc Các, không có kẻ nào giữ kín được miệng quá một tuần trà.”

“Tốt.” Dao Nguyệt lạnh lùng nhếch môi: “Ta muốn biết kẻ nào trong Châm Dệt Ti đã mở đường cho sài lang vào nhà.”

Ảnh Nhất không nói thêm lời nào, hắn huýt một tiếng gió cực khẽ. Hai bóng đen khác lập tức từ trên trần nhà lướt xuống như những cánh dơi, dùng một chiếc cáng lụa bọc da nai mềm mại nâng Tề Dực lên một cách êm ái phi thường, rồi biến mất sau bức bình phong dẫn xuống lối thông đạo ngầm.

Toàn bộ gian phòng lại chìm vào tĩnh mịch, chỉ còn lại mùi máu tanh và tiếng gió thở than ngoài song cửa.

Dao Nguyệt quay người, bước về phía góc phòng kho, nơi miệng hầm tàng bố khố được che giấu kỹ lưỡng dưới đống cuộn vải thô. Nàng cúi người, dùng đốt ngón tay gõ nhẹ ba tiếng dài, hai tiếng ngắn lên mặt phiến đá hoa cương.

Một tiếng lạch cạch vang lên, phiến đá từ từ trượt sang một bên. Trúc Chi run rẩy thò đầu ra, hai mắt đỏ hoe như thỏ con, trên tay vẫn ôm chặt bọc vải bạt chứa cuộn giấy dầu mật thư lấy từ ống suốt tử đàn. Khi nhìn thấy Dao Nguyệt toàn thân vấy máu, xiêm y rách tả tơi, nha đầu lập tức òa khóc, nhào tới ôm chầm lấy chân nàng.

“Tiểu thư! Người... người chảy nhiều máu quá! Để nô tỳ đi tìm Phương Thượng cung, đi tìm kim sang dược...”

“Đứng dậy, lau nước mắt đi.” Dao Nguyệt trầm giọng quát khẽ, thanh âm nghiêm nghị như lưỡi dao cắt ngang tiếng khóc của tiểu nha đầu: “Khóc lóc không cứu được mạng chúng ta. Nhìn cho kỹ, trời sắp sáng rồi.”

Trúc Chi giật mình, vội vàng lấy mu bàn tay quệt nước mắt, cắn chặt môi gật đầu.

“Giữ chặt bọc mật thư này, cất giấu vào đáy rương gỗ có cơ quan khóa kép trong nội phòng của ta, không có lệnh của ta tuyệt đối không được để lộ ra ngoài nửa phân.” Dao Nguyệt đưa tay nâng Trúc Chi dậy, ánh mắt sắc như chim ưng rà soát khắp căn phòng hỗn độn: “Lấy cho ta một bộ áo nữ quan màu nguyệt bạch mới, mang chậu nước sạch, một hũ rượu mạnh và dải băng lụa trắng lại đây. Nhanh lên!”

Trúc Chi lập tức hành động, không dám chậm trễ nửa nhịp.

Mười đầu ngón tay của Dao Nguyệt bị tơ thép cứa rách toạc da thịt, mỗi lần cử động đều đau đớn như ngàn vạn mũi kim đâm thấu tim can. Nàng cắn chặt răng, nhúng hai bàn tay vào chậu nước lạnh có pha rượu mạnh. Cảm giác cay xè, đau rát thấu tận trời xanh khiến toàn thân nàng khẽ run lên, nhưng trên gương mặt thanh tú kia không hề có lấy một tia yếu đuối. Nàng tự tay rửa sạch bụi tro cùng những vệt máu đông đặc, sau đó thoa lên một lớp thuốc cao mỏng rồi bình tĩnh dùng dải băng lụa trắng quấn chặt từng ngón tay lại.

Vừa hoàn tất việc thay trang phục, bóng dáng Ảnh Nhất lại bất thần xuất hiện bên ngưỡng cửa sổ, mang theo hơi thở lạnh ngắt của tử lao ngầm.

“Đã có khẩu cung.” Hắn đưa ra một mảnh giấy da dê thấm đẫm vết máu còn tươi: “Tên sát thủ khai nhận, nội gián nhận một ngàn lượng bạc trắng từ tiền trang Hằng Thái, đêm qua cố tình tháo then chốt cổng tây, đồng thời dùng lân phấn làm từ bột dạ quang rải dọc theo bờ tường hoa và xà nhà Châm Dệt Ti để chỉ dẫn vị trí tẩm phòng của người.”

Dao Nguyệt nhận lấy mảnh giấy, ánh mắt lướt nhanh qua từng nét chữ xiêu vẹo.

Khi nhìn thấy cái tên viết bằng máu ở cuối trang giấy, hàng mi dài của nàng khẽ run lên một nhịp, nhưng nơi đáy mắt lại không có lấy một gợn sóng bất ngờ, chỉ có một sự lạnh lẽo đến tận cùng.

“Tú Trân.”

Nàng khẽ lẩm bẩm cái tên ấy. Một trong ba đại tú nương thêu kim tuyến tay nghề cao nhất của Châm Dệt Ti, người từng được nàng đích thân chỉ dẫn kỹ thuật luồn chỉ song diện, người mà ba tháng trước mẹ già ở quê lâm bệnh nặng, chính nàng đã lén trích hai mươi lượng bạc trong bổng lộc riêng để giúp đỡ.

Nhân tâm chốn cung đình, quả nhiên so với vực sâu vạn trượng còn khó dò hơn.

“Để Mặc Ảnh Vệ xử lý ả?” Ảnh Nhất trầm giọng hỏi, bàn tay đặt trên chuôi đoản đao lóe lên sát khí lạnh lẽo.

“Không.” Dao Nguyệt ngẩng đầu, ánh mắt sắc bén như ánh kiếm rạch tan màn sương sớm ngoài hiên: “Châm Dệt Ti là địa bàn của ta. Kẻ phản bội nội đình, phải do quy củ nội đình xử lý. Ngươi mau trở về Dược Hương Uyển hộ vệ Vương gia, nơi này giao lại cho ta.”

Ảnh Nhất nhìn sâu vào đôi mắt kiên định của nữ tử trước mặt, trong lòng thầm kinh hãi trước định lực phi phàm của nàng, liền ôm quyền cung kính rồi lướt đi như một làn khói.

Trời vừa hửng sáng, sương mù dày đặc bao phủ khắp các ngõ ngách của Tử Cấm Thành. Tiếng chuông điểm canh năm từ lầu chuông Càn Thanh Cung xa xa vọng lại, trầm đục và thê lương.

Đám cháy nhỏ ở sân sau Châm Dệt Ti đêm qua đã được dập tắt hoàn toàn, lớp tro tàn và mảnh vụn của khung cửi Hoa Lâu bị phá hủy được phủ lên một lớp bạt thô, ngụy tạo thành một vụ chập tàn than sưởi ấm thông thường của đám thái giám trực đêm. Trong hoàng cung này, chuyện tàn lửa bén vào lụa mục mùa hanh khô xảy ra như cơm bữa, nếu không chết người hay cháy lan sang các cung viện khác, sẽ chẳng ai rảnh rỗi nhúng tay vào tra xét tỉ mỉ.

Chánh điện của Châm Dệt Ti lúc này cửa đóng then cài, hai hàng nến lớn bằng sáp ong thắp sáng rực rỡ, chiếu rọi lên bức hoành phi sơn son thiếp vàng bốn chữ lớn “Đức Hạnh Ôn Lương” treo sừng sững trên vách tường trung tâm. Bức hoành phi này do chính Tiêu Hoàng hậu ban tặng bảy năm trước, sau khi vụ án Thẩm gia kết thúc, như một lời răn đe ngầm đầy mỉa mai đặt lên đầu toàn bộ nữ quan Thượng Cung Cục.

Hơn hai mươi tú nương và cung nữ của Châm Dệt Ti đứng tề chỉnh thành hai hàng, cúi đầu nín thở. Bầu không khí ngột ngạt đến mức chỉ nghe thấy tiếng tim đập thình thịch và tiếng gió rít qua ô cửa thông gió.

Thẩm Dao Nguyệt ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế bành bọc gấm nguyệt bạch ở vị trí chủ tọa. Nàng mặc quan phục Chưởng chế màu xanh lam trang nhã, tóc búi cao cài trâm ngọc bích đơn sơ, hai bàn tay quấn băng lụa trắng muốt đặt hờ hững trên mặt bàn gỗ trắc. Nét mặt nàng điềm tĩnh, không giận không vui, tựa như một pho tượng ngọc không chút gợn sóng nhân gian, nhưng áp lực vô hình tỏa ra từ đôi mắt trong veo ấy lại khiến không một ai dám ngẩng đầu nhìn thẳng.

Bên cạnh nàng, Trúc Chi đứng nghiêm trang, hai tay bưng một chiếc khay bạc phủ lớp lụa đỏ lót khay, bên trên đặt một chiếc bát sứ đựng nước trà trăm năm trong vắt và một mảnh lụa huyền hắc nhánh.

Ánh mắt Dao Nguyệt chậm rãi quét qua từng gương mặt đang cúi gằm bên dưới, cuối cùng dừng lại trên người Tú Trân.

Nàng tú nương hai mươi mốt tuổi đứng ở hàng đầu bên tả, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy, khóe môi khẽ run rẩy, hai bàn tay giấu trong tay áo rộng đang siết chặt lấy vạt váy thêu hoa cúc. Dưới lớp phấn dày cộp che vội buổi sáng, quầng mắt thâm đen và những giọt mồ hôi rịn ra nơi thái dương đã bán đứng toàn bộ sự hoảng loạn trong lòng ả.

“Hôm nay gọi các ngươi đến sớm thế này, là vì có một việc hệ trọng liên quan đến đại lễ Vạn Thọ.” Giọng Dao Nguyệt cất lên, êm ái, thanh thoát nhưng lại lạnh lùng như giọt sương rơi trên phiến đá buốt giá.

Đám tú nương bên dưới khẽ xôn xao rồi lập tức im bặt.

Dao Nguyệt khẽ nhấc ngón tay quấn băng trắng, chỉ về phía chiếc khay bạc trên tay Trúc Chi: “Đêm qua, có kẻ sơ ý làm đổ hòm bột dạ quang làm từ lân phấn dùng để nhuộm phát sáng cho áo long bào tế trời. Bột lân phấn này vô cùng đặc biệt, hạt mịn như cát bụi, một khi đã dính vào da thịt hay kẽ móng tay, dù có rửa bằng nước nóng hay bồ hòn ba ngày ba đêm cũng không thể sạch hết. Khi nhúng tay vào nước ngâm lá trà trăm năm và lau qua lụa huyền hắc, nơi nào vướng lân phấn sẽ lập tức phát ra ánh sáng xanh biếc.”

Dứt lời, sắc mặt Tú Trân lập tức xám ngoét, đồng tử co rút kịch liệt như vừa nhìn thấy ác quỷ hiện hình giữa ban ngày.

Dao Nguyệt dường như không để ý đến biểu cảm của ả, nàng vẫn thong thả nói tiếp: “Châm Dệt Ti là nơi may vá triều phục cho bệ hạ và nương nương, quy củ nghiêm ngặt hơn trời. Thứ bột lân phấn này nếu vô tình vương vào tơ lụa đại lễ, sẽ bị khép vào tội bất kính, tru di tam tộc. Vì vậy, trước khi bắt đầu công việc hôm nay, từng người một hãy bước lên đây, nhúng tay vào bát nước này để ta kiểm tra.”

“Tố Quyên, ngươi lên trước.”

Một tú nương trẻ tuổi bước ra, run rẩy nhúng mười đầu ngón tay vào bát nước rồi áp lên mảnh lụa đen. Lụa đen vẫn phẳng lặng, không có chút ánh sáng nào phát ra.

“Tốt, lui ra.” Dao Nguyệt khẽ gật đầu: “Người tiếp theo, Thải Hà.”

Từng tú nương lần lượt bước lên rồi lui xuống trong sự nhẹ nhõm. Hàng người cứ ngắn dần, ngắn dần, cho đến khi chỉ còn lại một mình Tú Trân đứng trơ trọi giữa đại điện.

Toàn bộ ánh mắt của mọi người đổ dồn về phía ả.

Tú Trân đứng chôn chân tại chỗ, hai đầu gối run lẩy bẩy va vào nhau thành tiếng lách cách. Mồ hôi lạnh chảy ròng ròng trên trán ả, làm nhòe cả lớp phấn son vụng về.

“Tú Trân tỷ tỷ, đến lượt tỷ rồi.” Trúc Chi bước lên một bước, dâng chiếc khay bạc về phía trước, giọng nói trong trẻo nhưng từng chữ như búa tạ giáng vào ngực kẻ có tật giật mình: “Tỷ là tú nương tay nghề cao nhất, ngày thường cẩn thận nhất, chắc chắn sẽ không để dính phải thứ bột cấm kỵ này đâu nhỉ?”

“Ta... ta...” Cổ họng Tú Trân nghẹn ứ, ả lùi lại một bước, hai tay giấu chặt ra sau lưng: “Dao Nguyệt... à không, Thẩm Chưởng chế, sáng nay tay ta bị dị ứng nước thuốc nhuộm, da nứt nẻ chảy máu, e rằng... e rằng không tiện nhúng vào nước lạnh...”

“Ồ? Tay chảy máu sao?”

Dao Nguyệt khẽ mỉm cười, nụ cười thanh lệ tuyệt trần nhưng nơi đáy mắt lại không có nửa điểm ấm áp. Nàng từ từ đứng dậy, từng bước khoan thai bước xuống bậc thềm đá. Đôi hài thêu hoa sen lướt đi không một tiếng động, vạt áo nguyệt bạch lay động theo từng nhịp chân, mang theo áp lực nghẹt thở đè nặng lên cả gian điện.

Nàng dừng lại ngay trước mặt Tú Trân, khoảng cách chỉ chừng ba tấc.

“Tú Trân, ngươi theo ta học thêu kim tuyến đã tròn hai năm.” Dao Nguyệt cất giọng dịu dàng, nhưng thanh âm ấy lại như một sợi tơ tằm băng siết chặt lấy cổ họng đối phương: “Ngươi có nhớ ngày đầu tiên bước chân vào Châm Dệt Ti, ta đã dạy ngươi điều gì không?”

Tú Trân run rẩy ngẩng đầu lên, chạm phải đôi mắt sâu thẳm hun hút như đầm lầy băng giá của Dao Nguyệt, toàn thân ả như bị sét đánh ngang tai.

“Ta đã dạy ngươi... người làm nghề kim chỉ, mắt phải sáng, tâm phải tịnh, và đôi tay phải sạch.” Giọng Dao Nguyệt đột ngột chùng xuống, sắc lạnh như sương mai: “Nhưng đôi tay của ngươi đêm qua, không phải dính nước thuốc nhuộm, mà là dính lân phấn dẫn đường cho thích khách Mặc Sát Môn! Mười đầu ngón tay của ngươi đã nhuốm đầy máu của đồng môn, nhuốm đầy sự phản trắc ô nhục!”

“Choảng!”

Một tiếng va chạm chói tai vang lên! Chiếc khay bạc trên tay Trúc Chi lật úp, bát nước rơi xuống sàn vỡ tan tành làm ướt sũng dải lụa đen, đồng thời làm lộ ra dưới lớp vải đỏ lót khay là một chiếc then cài cửa bằng đồng thau nặng trịch gãy đôi cùng một xấp ngân phiếu mang dấu triện đỏ chói của tiền trang Hằng Thái rớt rành rành trên nền đá hoa cương!

Đó chính là chiếc then cài cửa cổng tây Châm Dệt Ti đã bị tháo chốt đêm qua, và tang chứng giao dịch bạc trắng từ tay sai Tiêu gia!

“Á!”

Tú Trân thét lên một tiếng kinh hoàng, toàn bộ phòng tuyến tâm lý hoàn toàn sụp đổ. Hai chân ả mềm nhũn, ả ngã khuỵu xuống sàn đá hoa cương lạnh ngắt, dập đầu lia lịa như giã tỏi: “Chưởng chế tha mạng! Chưởng chế tha mạng! Nô tỳ... nô tỳ bị ép buộc! Nô tỳ không muốn hại người! Nô tỳ thực sự không muốn hại người!”

Toàn bộ tú nương xung quanh kinh hãi lùi dạt ra sau, những tiếng xì xào phẫn nộ bắt đầu rộ lên như ong vỡ tổ.

“Câm miệng!” Dao Nguyệt quát khẽ một tiếng, uy nghi của Chưởng chế Thượng Cung Cục bộc phát khiến cả đại điện lập tức im bặt như tờ.

Nàng cúi nhìn kẻ đang quỳ rạp dưới chân mình, ánh mắt lạnh lẽo không một chút thương hại: “Bị ép buộc? Một ngàn lượng bạc trắng của Tiêu gia, đủ để ngươi mua mười căn nhà lớn ở kinh thành, đủ để ngươi đón mẹ già về an hưởng tuổi già trong nhung lụa! Ngươi dùng mạng của toàn bộ tỷ muội Châm Dệt Ti, dùng mạng của ta để đổi lấy vinh hoa phú quý cho riêng mình, ngươi dám mở miệng nói là bị ép buộc sao?”

“Không phải! Không phải vì vinh hoa phú quý!” Tú Trân khóc lóc thảm thiết, trán đập xuống sàn đá đến rớm máu: “Họ bắt cóc mẹ già của nô tỳ! Quản gia Tiêu phủ nói, nếu đêm qua nô tỳ không tháo chốt cửa, không rắc lân phấn lên nóc tẩm phòng của người, bọn họ sẽ cắt gân tay gân chân của mẹ nô tỳ, ném bà xuống sông hộ thành làm mồi cho cá! Nô tỳ không còn cách nào khác... Chưởng chế! Người cứu nô tỳ với! Tiêu gia sẽ giết sạch nhà nô tỳ mất!”

Dao Nguyệt nhìn vết máu loang trên trán Tú Trân, trong lòng dâng lên một nỗi chua xót cùng cực nhưng lý trí lại càng thêm tỉnh táo. Tiêu gia xưa nay thủ đoạn tàn độc, dùng người như dùng củi, đốt xong là vứt bỏ tro tàn. Một tiểu tú nương như Tú Trân, từ giây phút nhận lời tiếp tay cho giặc, số phận đã sớm bị định đoạt là một quân cờ thí mạng.“Ai là kẻ trực tiếp truyền lệnh cho ngươi?” Dao Nguyệt lạnh giọng hỏi, từng câu từng chữ đều nhắm thẳng vào trọng tâm.

Tú Trân nấc nghẹn, vừa th* d*c vừa lắp bắp khai: “Là... là một ma ma bên Khôn Ninh Cung, tâm phúc của Tiêu Hoàng hậu... Bà ta nói... nói chỉ cần Chưởng chế chết đi, Châm Dệt Ti sẽ do nô tỳ tiếp quản... Nhưng bà ta còn dặn một việc nữa...”

Đôi mày thanh tú của Dao Nguyệt khẽ nhướng lên: “Việc gì?”

Tú Trân ngẩng khuôn mặt nhòe nhoẹt nước mắt và máu lên, ánh mắt run rẩy nhìn về phía bức tường chính giữa đại điện: “Bà ta dặn... sau khi thích khách ra tay xong, nhân lúc hỗn loạn hỏa hoạn, nô tỳ phải lén tìm cách... tìm cách cạy rỗng bức hoành phi ‘Đức Hạnh Ôn Lương’ kia ra để lấy một thứ gì đó mang về Khôn Ninh Cung. Bà ta nói Tiêu gia nghi ngờ năm xưa có kẻ đã giấu di vật của Thẩm gia vào trong đó... Nếu tìm được, bà ta sẽ thả mẹ nô tỳ ra ngay lập tức!”

“Ngươi nói cái gì?!”

Một giọng nói già nua nhưng đầy uy nghiêm đột ngột vang lên từ cửa sau đại điện.

Phương Thượng cung chống gậy trúc, chậm rãi bước ra từ sau bức rèm che. Gương mặt trầm mặc quanh năm của vị lão nữ quan lúc này hiện rõ vẻ kinh hoàng tột độ, đôi mắt đục ngầu nhìn chằm chằm vào bức hoành phi thếp vàng trên cao, bàn tay nắm chặt đầu gậy đến mức các khớp xương trắng bệch.

“Phương Thượng cung...” Dao Nguyệt quay đầu lại, khẽ cúi người hành lễ.

Phương Thượng cung phất tay ra hiệu cho Dao Nguyệt miễn lễ, ánh mắt sắc như dao nhìn xuống Tú Trân: “Tú Trân, phụ thân ngươi trước kia từng là thợ mộc ngự dụng của Thượng Công Cục, đúng không?”

Tú Trân run rẩy gật đầu: “Dạ... dạ phải... Bảy năm trước, cha nô tỳ chính là người đóng khung và thếp vàng cho bức hoành phi này... Trước khi chết vì bạo bệnh, ông cứ lẩm bẩm trong cơn mê sảng rằng mình có tội với Thẩm Ngự sử, nói rằng có một bí mật bị phong ấn trong lớp gỗ tử đàn... Nô tỳ ngày ấy còn nhỏ, không hiểu chuyện, mãi đến hôm qua ma ma của Khôn Ninh Cung nhắc tới, nô tỳ mới nhớ ra...”

Dao Nguyệt nghe đến đây, lồng ngực như bị một tảng đá ngàn cân nện mạnh vào.

Bảy năm trước! Phụ thân nàng bị bắt giam vào thiên lao Đại Lý Tự, sau đó bị ban chết vội vã trong ngục tối mà không hề có một phiên xét xử công khai. Toàn bộ thư phòng, gia sản Thẩm phủ bị niêm phong và thiêu rụi. Nàng vẫn luôn day dứt khôn nguôi, không hiểu tại sao một người cẩn trọng, túc trí đa mưu như phụ thân lại không để lại bất kỳ một lời trăng trối hay bằng chứng nào để lật lại bản án oan khuất ngút trời ấy.

Hóa ra... chứng cứ ấy chưa từng rời khỏi hoàng thành!

Nó được giấu ngay tại nơi nguy hiểm nhất, nơi ngày ngày đón nhận sự dẫm đạp của kẻ thù – ngay dưới mí mắt của Tiêu Hoàng hậu!

“Trúc Chi!” Dao Nguyệt dứt khoát hạ lệnh, giọng nói đanh thép không dung thứ: “Giải Tú Trân xuống phòng kho phía đông, khóa chặt cửa lại, phái hai cung nữ thân tín canh gác cẩn mật. Không có lệnh của ta, tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai tiếp xúc, càng không được để tin tức lọt ra ngoài nửa chữ!”

“Dạ! Nô tỳ tuân lệnh!” Trúc Chi lập tức gọi hai cung nữ khỏe mạnh tiến lên, lôi Tú Trân đang khóc lóc van xin ra khỏi đại điện.

Dao Nguyệt quay sang nhìn đám tú nương còn lại, ánh mắt sắc lạnh như băng tuyết: “Chuyện ngày hôm nay, nếu ai để lộ ra ngoài một lời, kết cục sẽ giống như Tú Trân. Tất cả lui về sương phòng nghỉ ngơi, hôm nay Châm Dệt Ti tạm ngừng công việc một ngày.”

“Chúng nô tỳ tuân mệnh!” Đám tú nương sợ hãi dập đầu rồi vội vã lui ra ngoài, đóng chặt cửa lớn lại.

Trong đại điện lúc này chỉ còn lại Thẩm Dao Nguyệt và Phương Thượng cung.

Nhìn lên bức hoành phi sừng sững trên vách tường cao, Dao Nguyệt siết chặt hai nắm tay, định bước đi tìm thang gỗ thì một bàn tay nhăn nheo, ấm áp đã đặt lên vai nàng giữ lại.

Phương Thượng cung khẽ lắc đầu, ánh mắt lão luyện nhìn ra ngoài khung cửa sổ: “Dao Nguyệt, không được manh động. Ban ngày ban mặt, Cấm quân và nội giám đi lại tuần tra như thoi đưa ngoài hành lang. Bức hoành phi này nặng tới mấy trăm cân, treo ở vị trí cao nhất đại điện, nếu con trèo thang đục đẽo lúc này, chỉ cần một tiếng động bất thường lọt ra ngoài cũng đủ để tai mắt Khôn Ninh Cung ập vào bắt trọn. Đến lúc đó, chẳng những không lấy được di vật, mà tội danh đại bất kính phá hoại ngự tứ hoành phi cũng đủ để Tiêu Hậu tru di chúng ta ngay tại chỗ.”

Dao Nguyệt khựng lại, một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng giúp nàng lấy lại sự tỉnh táo tuyệt đối. Nàng hít sâu một hơi, gật đầu: “Người dạy rất phải. Là con đã quá nóng vội.”

“Ẩn nhẫn suốt bảy năm, chẳng lẽ lại không đợi được thêm mười canh giờ nữa sao?” Phương Thượng cung thở dài một tiếng, ánh mắt nhìn nàng đầy thương xót: “Đợi đến đêm khuya vắng vẻ, khi các cung viện đều chìm vào giấc ngủ, Cấm quân đổi ca trực, ta và con sẽ cùng nhau hạ bức hoành phi này xuống.”

Cả một ngày hôm đó trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt đến nghẹt thở. Dao Nguyệt vẫn điềm tĩnh chỉ đạo người dọn dẹp sân sau Châm Dệt Ti, đích thân kiểm tra sổ sách tơ lụa và tiếp đón các nội giám Thượng Phục Cục đến giao ban như thường lệ. Nàng che giấu mười đầu ngón tay quấn băng trong tay áo thụng rộng rãi, dáng vẻ ung dung tự tại khiến không một ai mảy may nghi ngờ về trận cuồng phong đẫm máu vừa quét qua nơi này đêm trước.

Khi màn đêm đen đặc một lần nữa bao trùm Tử Cấm Thành, tiếng mõ điểm canh ba từ đài gác xa xa vọng lại, lạnh lẽo và cô tịch.

Bên ngoài Châm Dệt Ti, tiếng bước chân nặng nề của đội tuần tra Cấm quân vừa khuất dần sau dãy trường lang rợp bóng liễu. Gió đêm thổi qua các tàng cây cổ thụ rít lên từng hồi u uẩn.

Bên trong chánh điện, toàn bộ đèn nến đều được dập tắt, chỉ chừa lại một ngọn đèn dầu lạc leo lét đặt dưới gầm bàn lớn. Dao Nguyệt, Trúc Chi và Phương Thượng cung khép chặt cánh cửa gỗ dày, cài then đồng kiên cố. Dưới sàn nhà, nàng đã cho trải sẵn ba lớp thảm dạ và chăn bông dày để triệt tiêu mọi âm thanh va chạm.

“Dao Nguyệt, dây thừng lụa đã chuẩn bị xong.” Trúc Chi thì thầm, mang đến hai cuộn dây bện bằng lụa thô dẻo dai.

Dao Nguyệt bắc một chiếc thang gỗ nhỏ, nhẹ nhàng trèo lên. Nàng khéo léo luồn hai sợi dây lụa qua chiếc móc đồng gắn chặt vào xà nhà, sau đó buộc chặt vào hai đầu của bức hoành phi khổng lồ.

Ở bên dưới, Phương Thượng cung và Trúc Chi cùng ghé vai giữ chặt đầu dây. Dao Nguyệt rút đoản kiếm nhỏ nhẹ nhàng cạy hai chốt sắt giữ cố định khung gỗ trên tường.

“Cạch.”

Một tiếng động cực khẽ vang lên. Bức hoành phi dài tám thước, rộng ba thước từ từ tách khỏi vách tường. Dưới lực đỡ của ròng rọc dây lụa và sự phối hợp nhịp nhàng của ba người, bức hoành phi nặng trịch hạ dần xuống, êm ái đáp lên chiếc bàn cắt vải lớn đã được lót kín chăn dạ mà không phát ra một tiếng động chói tai nào.

Ba người thở phào nhẹ nhõm, trán ai nấy đều lấm tấm mồ hôi hột.

Dao Nguyệt cầm ngọn đèn dầu lại gần. Dưới ánh sáng vàng vọt, lớp sơn son thiếp vàng bề ngoài của bức hoành phi đã có chút phai mờ theo năm tháng, nhưng bốn chữ lớn “Đức Hạnh Ôn Lương” rồng bay phượng múa đích thân Tiêu Mậu đề tự vẫn toát lên vẻ ngạo nghễ, dối trá ghê tởm. Kẻ thủ ác lộng quyền, mưu toan soán nghịch lại ngạo mạn dùng chính thủ bút của mình để ban tặng bốn chữ đức hạnh cho nội đình, quả là sự châm biếm sâu cay nhất của thế gian.

Phương Thượng cung chỉ tay vào góc dưới bên hữu của khung gỗ tử đàn đen nhánh, nơi có chạm khắc một đóa hoa mẫu đơn chìm: “Năm xưa, phụ thân Tú Trân phụ trách việc ghép mộng khung gỗ này. Ông ấy là đệ nhất danh tượng của Thượng Công Cục, nắm giữ bí thuật mộng ghép không dùng một chiếc đinh sắt nào.”

Dao Nguyệt rút từ trong ống tay áo ra một con dao trổ bằng bạc nguyên chất – dụng cụ chuyên dùng để cắt tỉa các đường chỉ thêu kim ngân tuyến, lưỡi dao mỏng dính nhưng vô cùng sắc bén và cứng cáp.

Nàng dùng đầu dao gõ nhẹ dọc theo thớ gỗ tử đàn.

“Cốc... cốc... cốc...”

Âm thanh phát ra đặc quánh, chứng tỏ gỗ nguyên khối. Nhưng khi mũi dao di chuyển đến sát nh** h** mẫu đơn, âm thanh bỗng nhiên biến đổi:

“Bộp... bộp...”

Thanh âm rỗng tuếch!

Trái tim Dao Nguyệt đập dồn dập như trống trận. Nàng nín thở, ghé sát mắt soi từng đường vân gỗ. Quả nhiên, dưới lớp sơn mài dày cộp và sáp ong bịt kín, nàng phát hiện ra một đường chỉ nối cực kỳ mảnh mai, được che giấu khéo léo theo đường viền của cánh hoa mẫu đơn!

Đây chính là cơ quan mộng ghép bí truyền của thợ mộc hoàng gia – “Yến Vĩ Khóa”!

Nàng cẩn thận dùng mũi dao cạo sạch lớp sáp ong phong ấn bên ngoài khe hở. Sau đó, nàng dùng cán dao bằng bạc ấn mạnh vào vị trí nh** h** mẫu đơn chìm.

“Cạch!”

Một tiếng cơ quan khô khốc bật mở giữa không gian tĩnh mịch!

Một mảnh gỗ tử đàn hình tam giác dài khoảng một gang tay từ từ trượt ra ngoài, để lộ một hốc rỗng sâu chừng ba tấc ẩn giấu bên trong thân gỗ dày.

Bên trong hốc tối, một vật thể được bọc kỹ lưỡng bằng nhiều lớp lụa dầu chống ẩm màu vàng sẫm lặng lẽ nằm đó suốt bảy năm ròng rã, tựa như một linh hồn oan khuất đang kiên nhẫn chờ đợi ngày được bước ra ánh sáng.

Dao Nguyệt run rẩy vươn bàn tay quấn đầy băng trắng vào trong hốc rỗng, nhẹ nhàng rút bọc lụa dầu ra.

Cầm vật ấy trong tay, nàng cảm thấy nó nặng tựa ngàn cân. Đó là máu, là nước mắt, là sinh mạng của hàng trăm con người trong gia tộc họ Thẩm đã ngã xuống trong đêm mưa tuyết bảy năm về trước!

Nàng đặt bọc lụa dầu lên mặt bàn gỗ, dùng mũi dao trổ rạch đứt những sợi chỉ tơ phong ấn bên ngoài.

Từng lớp lụa dầu chống ẩm được bóc tách ra.

Một dải lụa bạch đã ngả sang màu vàng ố của thời gian hiện ra trước mắt ba người. Trên mặt dải lụa, những dòng chữ viết bằng thứ mực đỏ sẫm đã khô quánh, chuyển sang màu nâu đen của máu, đập thẳng vào mắt Dao Nguyệt!

Nét chữ cứng cỏi, hiên ngang, dứt khoát như rồng lượn phượng múa, mang đậm cốt cách thanh cao của bậc nho tướng trung thần.

Đó chính là thủ tích của phụ thân nàng – Thẩm Hoài!

Nước mắt Dao Nguyệt không kìm được nữa, từng giọt mặn chát rơi lã chã xuống mặt bàn, nhưng nàng cắn chặt môi, không dám để một giọt nước mắt nào rơi trúng dải lụa huyết thư.

Phương Thượng cung đưa tay run rẩy che miệng, nghẹn ngào không thốt nên lời.

Dao Nguyệt hít một hơi sâu, run rẩy mở rộng nếp gấp đầu tiên của dải lụa:

“Thẩm Hoài tuyệt bút kính cáo thiên địa thần minh, liệt tổ liệt tông Đại Ngụy:

Thần giữ chức Ngự sử Đại phu, phụng mệnh tiên đế giám sát bách quan. Niên hiệu Vĩnh Khánh năm thứ mười sáu, thần phát hiện Tiêu Mậu cùng bè lũ cấu kết với giặc ngoại bang, lén lút trích tơ lụa cống nạp của Giang Nam đổi lấy ba ngàn chiến mã và quặng sắt Tây Vực, lập lò rèn đao ngầm tại Lạc Hà, mưu đồ nuôi tư binh soán nghịch.

Tiêu Mậu biết chuyện, trước mặt ngự tiền ngậm máu phun người, vu cáo thần thông địch. Mật thư thông địch bằng chữ Hồ mà Tiêu Mậu dâng lên bệ hạ hoàn toàn là đồ ngụy tạo, do chính tay mưu sĩ Liễu Chấn của Tiêu phủ sao chép từ thủ tích của thần trong thư viện Đại Lý Tự... Thần thà chết chứ không chịu nhận tội ô nhục, chỉ hận không thể tận mắt thấy nghịch tặc đền tội trước pháp trường...”

Từng dòng, từng chữ như rỉ máu, tái hiện lại toàn bộ sự thật tàn khốc của thảm án diệt môn năm xưa. Bức huyết thư này chính là lời định tội đanh thép nhất, là bằng chứng không thể chối cãi để rửa sạch nỗi oan khuất thấu tận trời xanh của Thẩm gia!

Nhưng khi Dao Nguyệt run rẩy lật đến nếp gấp cuối cùng của bức huyết thư, hơi thở nàng bỗng chốc đông cứng lại.

Dưới ánh nến bập bùng, ở phần lạc khoản cuối cùng, ngoài vết ấn tay bằng máu của phụ thân nàng, còn có một dòng chữ son rực đỏ, nét bút ngoáy vội vàng nhưng dùng lực cực sâu, như muốn khắc thẳng vào xương tủy:

“Kẻ trực tiếp đánh cắp ngọc ấn của thần tại Ngự Sử Đài, mang bức mật thư ngụy tạo đặt vào long án của bệ hạ tại điện Càn Thanh để khép tội Thẩm gia đêm ấy... chính là Thống lĩnh Thần Cơ Doanh đương triều – Triệu Bôn!”

“Xoảng!”

Chiếc kéo bạc trên bàn bị tay áo Dao Nguyệt gạt trúng, rơi xuống nền đá hoa cương phát ra một tiếng vang chói tai xé toạc màn đêm tĩnh mịch.

Đồng tử Dao Nguyệt co rút lại đến cực hạn, toàn thân nàng lạnh toát như vừa rơi xuống hầm băng vạn trượng.

Triệu Bôn!

Thống lĩnh Thần Cơ Doanh – kẻ đang nắm giữ năm vạn cấm quân tinh nhuệ bảo vệ hoàng thành, kẻ nắm giữ toàn bộ kho súng thần cơ và đại pháo của Đại Ngụy, người mà bệ hạ tin cậy nhất, kẻ bề ngoài luôn tỏ ra trung lập không dính líu đến đảng tranh... thực chất lại là con chó săn trung thành nhất, là nội gián chí mạng nhất mà Tiêu Mậu đã cài cắm ngay sát cạnh hoàng đế suốt bảy năm qua!

Bức màn đen tối tột cùng của triều đình Đại Ngụy, vào khoảnh khắc này, rốt cuộc đã bị xé toạc một góc đẫm máu.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn