Ngô Trừng cũng đáp: "Ta biết dương mai đang vào mùa vụ. Nếu chúng ta đến sớm chút, chắc cũng thu được cả trăm rổ."
Lục Tùy nói: "Bây giờ cứ thử xem, nếu bán tốt, sau này còn nhiều cơ hội."
Mọi người gật đầu, rồi cùng nhau khuân từng rổ dương mai lên thuyền.
Khi đã xếp dương mai lên thuyền xong, Bạch Thủy Nhi đưa cho Hạ Thanh Đào 1 lượng 275 văn: "Trừng lang trước kia đã nói sẽ thu một nửa phí vận chuyển. Bây giờ chúng ta đã là huynh đệ kết nghĩa, đều là người một nhà nên không thể để các ngươi chịu thiệt."
Hạ Thanh Đào cảm động nhìn Bạch Thủy Nhi, chỉ thấy bản thân thật có phúc khi kết giao được huynh đệ như vậy, bèn nói: "A ca có lòng, ta không từ chối. Nhà ta có chuẩn bị sinh lễ, chúng ta vào miếu Quan Đế thề nguyện, một khi đã phát lời thề thì là huynh đệ, không gì có thể thay đổi."
Nói rồi y nắm tay Bạch Thủy Nhi rời thuyền.
Cả bốn người cùng nhau tới miếu đầu thôn. Lục Yếu Phát vẫn còn bị nhốt ở thiên điện, nhưng không ai bận tâm. Họ bày sinh lễ trước tượng Quan Đế, đúng vào giờ cơm trưa, dân thôn nhàn rỗi kéo nhau đến xem rất đông.
Hai người châm hương, kính cẩn quỳ gối trước án thờ: "Quan Đế Bồ Tát trên cao, hôm nay con là Hạ Thanh Đào, Bạch Thủy Nhi, xin phát lời thề, nguyện kết nghĩa làm huynh đệ. Từ nay như huynh đệ ruột thịt, không phân biệt ngươi và ta, hoạn nạn cùng chia, phúc họa cùng hưởng, trời cao đất rộng làm chứng. Nếu có thất tín, xin trời tru đất diệt!"
Khấn xong, họ lạy ba lạy rồi cắm hương vào lư.
Người đứng ngoài xem lao nhao bàn tán: "Hạ Thanh Đào thật giỏi, kết nghĩa với người bên thương lái. Sau này dương mai không cần lo không có nơi tiêu thụ."
"Phải đó, lần đầu ta thấy ca nhi kết bái huynh đệ đấy, thú vị thật!"
"Không kết nghĩa thì sao mà yên tâm làm ăn, lỡ người ta chở dương mai đi mất thì sao?"
"Phải phải!"
Hạ Thanh Đào không để tâm đến mấy lời bàn tán, khấn xong liền dẫn hai người về nhà ăn trưa.
"Chiêu đãi sơ sài, mong hai người chớ trách." Vân Nương cười nói.
"Thím quá khách khí rồi." Bạch Thủy Nhi ngồi xuống bàn bát tiên, cười nói: "Gà thịt đủ cả, sao gọi là đơn sơ được. Nếu nói vậy, chắc mấy bữa ăn trên thuyền của chúng tôi chẳng khác gì cơm cho heo!"
Cả nhà cười vang, Ngô Trừng cũng nói: "Đa tạ thím tiếp đãi, lần đầu đến tay không, lần sau nhất định sẽ mang lễ."
"Thôi nào." Hạ Thanh Đào bưng đồ ăn lên: "Chúng ta đều là người nhà, khách khí làm gì. Hai người ăn no mới là quan trọng."
Lục Tùy cũng nói: "Hai hôm nay bận rộn quá, chưa kịp tiếp đãi. Tay nghề của Tiểu Đào rất tốt, còn từng làm tiệc cho nhà người ta. Nếu lần sau ghé đến, để y nấu cho hai người một bàn."
"Thật sao?" Bạch Thủy Nhi kinh ngạc: "Vậy lần sau đến, ta phải học hỏi cho bằng được!"
"Được nha, a ca đến ở lâu vài ngày, ta dạy cho!" Hạ Thanh Đào mỉm cười đáp.
Dùng bữa xong, hai vợ chồng Bạch Thủy Nhi cũng đến lúc phải khởi hành.
Một phần vì họ đã ở lại đây khá lâu, vốn cũng nên trở về phủ Minh Châu. Phần khác, dương mai dễ bị hư hỏng, dù có ướp lạnh thì cũng cần vận chuyển càng sớm càng tốt. Đây là chuyện làm ăn của cả hai nhà, không thể để chậm trễ.
Vân Nương biết họ không thể làm bánh chưng trên thuyền, bèn dặn Hạ Thanh Đào gói một xâu bánh chưng mang theo, để hai người cũng có thể đón tết Đoan Ngọ một cách đàng hoàng. Bạch Thủy Nhi nghe vậy thì vừa mừng vừa cảm động.
Mới kết nghĩa chưa bao lâu mà đã hợp ý, Hạ Thanh Đào và Bạch Thủy Nhi đều cảm thấy luyến tiếc khi chia tay. Hai người đứng ở bến sông trò chuyện hồi lâu, đến khi Lục Tùy và Ngô Trừng nhắc nhở mới chịu chia tay.
Hạ Thanh Đào nhìn theo hai vợ chồng Bạch Thủy Nhi lên thuyền, phất tay dặn dò: "A ca, bất kể việc làm ăn ra sao, nhất định phải quay lại, lần tới nhớ ở lại chơi thêm vài ngày!"
"Được!" Bạch Thủy Nhi được Ngô Trừng khoác vai, đứng ở đầu thuyền cũng phất tay đáp: "Nhanh thì một tháng, chậm thì hai tháng. Ta nhất định sẽ trở lại gặp ngươi!"
Thuyền càng lúc càng xa, bóng dáng của đôi bên dần khuất hẳn, lúc ấy mọi người mới quay về.
Đối với Hạ Thanh Đào, tuy y cũng có một người ca ca ruột là Hạ Thanh Khê, nhưng Hạ Thanh Khê là hán tử, tính cách khác biệt nên khó mà thân cận như tri kỷ. Còn Bạch Thủy Nhi là ca nhi, tính cách tương hợp, nói chuyện ăn ý giống như một người bạn tri kỷ thực sự.
Còn với Bạch Thủy Nhi, từ nhỏ đã được ca ca ruột cưng chiều, trong nhà không có nhiều người thân thiết. Sau khi gả cho Ngô Trừng, cũng không có trưởng bối hay họ hàng thân thích. Mãi đến khi gặp Hạ Thanh Đào, Bạch Thủy Nhi mới thực sự cảm nhận được tình nghĩa huynh đệ thân tình như nhà mẹ đẻ.
Thời gian quen biết tuy ngắn, nhưng hai người thật lòng xem nhau như người thân ruột thịt.
Dương mai đã thu xong, kế tiếp là đến chuyện xử lý tên trộm Lục Yếu Phát.
Sau giờ ngọ, con trai của trưởng thôn là Lục Hổ. Lục Hổ lặng lẽ sang hỏi ý nhà Lục Tùy, xem định xử lý Lục Yếu Phát ra sao. Lục Hổ nói mẫu thân của Lục Yếu Phát, tức Triệu Thải Kim, đã tới chỗ trưởng thôn khóc lóc kể lể rằng nhà bà ta nghèo khó. Nếu đem Lục Yếu Phát nộp cho quan phủ hoặc đánh gãy tay thật thì khác nào đẩy họ vào chỗ chết. Bà ta bảo Lục Tùy đâu có mất mát gì lớn, còn Lục Yếu Phát thì tuổi còn nhỏ, chỉ là nhất thời hồ đồ...
Trưởng thôn dĩ nhiên không dễ mềm lòng, nhưng quả thật nhà họ cũng túng quẫn, không thể không cân nhắc. Trừng phạt là điều nên làm, nhưng cũng không nên đẩy người đến bước đường cùng. Vì vậy, ông mới bảo Lục Hổ sang dò hỏi thái độ nhà Lục Tùy, rồi mới quyết định tiếp.
Nghe xong, Hạ Thanh Đào cau mày, nhìn sang Lục Tùy chờ hắn quyết định.
Lục Tùy giữ nguyên vẻ lạnh nhạt, nói: "Hắn đến trộm đồ, cha mẹ hắn chẳng lẽ không biết? Đây đâu phải là lần đầu, nếu dám đi trộm thì cũng phải chuẩn bị tâm lý bị bắt."
Hạ Thanh Đào gật đầu tán thành, phụ họa: "Đúng vậy!"
Lục Hổ cười gượng, không nói gì thêm.
Lục Tùy nói tiếp: "Nếu không muốn bị đánh hay bị đưa lên quan, thì đuổi hắn ra khỏi thôn. Như vậy sau này chúng ta cũng đỡ phải lo lắng ngày đêm. Người trong thôn chắc cũng đồng tình."
Nghe đến đây, nét mặt Lục Hổ mới giãn ra, cười nói: "Đúng, không ít người trong thôn cũng lo sợ. Có hắn ở đây, ai cũng nơm nớp lo sợ bị mất đồ. Chi bằng đuổi đi, cho nhà họ tự định đoạt, muốn đi nơi khác làm thuê hay gì đó thì tùy."
"Ừm." Lục Tùy khẽ gật đầu: "Việc này phiền trưởng thôn và huynh giúp đỡ."
"Đừng khách khí." Lục Hổ xua tay: "Ta về bàn lại với phụ thân, rồi sẽ thông báo cho cả thôn biết."
Tiễn Lục Hổ về, Hạ Thanh Đào lo lắng hỏi: "Có đuổi đi được không? Triệu Thải Kim bọn họ có đến gây chuyện không?"
"Có gây chuyện thì càng tốt." Lục Tùy lạnh giọng đáp: "Nếu họ cảm thấy bị đuổi là nặng, ta sẽ đánh gãy tay hắn. Xem thử ai dám ngăn ta."
Nói cho cùng, đây là vùng núi hẻo lánh. Trừ khi là trọng án, còn không thì quan phủ cũng không rảnh đến can thiệp mấy chuyện lặt vặt này.
Huống hồ, Lục Yếu Phát xưa nay vốn đã mang tiếng là kẻ chuyên trộm vặt, nói ra cũng không ai bênh nổi.
Nghĩ vậy, Hạ Thanh Đào an tâm gật đầu: "Vậy thì tốt. Miễn đuổi được hắn ra thôn, sau này chúng ta vào núi cũng yên tâm hơn."
Chiều tối, người trong thôn đều đã về nhà. Trưởng thôn bắt đầu gõ mõ gọi người dân tập trung trước nhà mình. Khi mọi người đến đông đủ, ông cho người dẫn Lục Yếu Phát ra, rồi nói lớn:
"Bà con trong thôn chắc cũng biết chuyện của Lục Yếu Phát. Hắn thường ngày lười biếng, còn ham cờ bạc, lần này lại đi trộm cắp ngay trong thôn chúng ta. Nếu giao cho quan phủ thì phải theo pháp luật: trộm cắp trên 5 lượng bạc sẽ bị xử tử, dưới năm lượng thì đánh 20 roi, sung làm dịch quân ba năm. Nhưng vì hắn là người trong thôn, nay chỉ xử phạt nhẹ đuổi khỏi thôn, không cho quay về. Sau này nếu vi phạm, 5 mẫu ruộng của nhà hắn sẽ bị tịch thu làm công quỹ!"
"Trời ơi!"
Chưa kịp để người dân phản ứng, Triệu Thải Kim đã ngồi sụp xuống đất, vừa khóc vừa gào: "Thế này thì giết cả nhà chúng ta còn gì! Ta chỉ có hai đứa con trai, đuổi ra khỏi thôn rồi sau này sống sao đây."
Bên cạnh có một thúc thúc lên tiếng: "Khóc lóc cái gì nữa! Nếu không phải trưởng thôn nương tay, A Phát nhà ngươi đã bị sung quân ba năm rồi. Không cam lòng thì cứ theo luật, đánh 20 roi rồi đưa đi sung quân cũng được thôi."
Sung quân (*): Người bị sung quân sẽ bị ép đi nhập ngũ, đưa đến biên ải, vùng xa xôi, hiểm trở để lao dịch hoặc chiến đấu. Đây không phải nghĩa vụ bình thường mà là hình phạt thay cho tù tội, thường đi kèm hiểm nguy, và ít có ngày trở về.
"Đúng đấy đúng đấy!" Một thím khác tiếp lời: "A Phát nhà ngươi làm ra chuyện xấu hổ như thế, mà ngươi còn dám khóc giữa chốn đông người à?"
"Trưởng thôn đã quá nhân từ rồi đó! Nếu đuổi hết cả nhà hắn đi thì may ra cái thôn này mới được yên ổn!"
"Phải rồi, cứ đuổi hết đi! Quan phủ cũng không quản đâu!"
Người dân trong thôn đều là người dân thường, mất mát một chút cũng thấy xót. Huống hồ, bọn họ ghét cay ghét đắng Lục Yếu Phát, người người đều cất lời phụ họa.
"Đoàng~"
Trưởng thôn gõ mõ một tiếng, đồng thời đưa tay ra hiệu mọi người giữ yên lặng, rồi nói: "Lục Yếu Phát cũng đã chấp nhận hình phạt, giấy trắng mực đen, tự tay ký tên và điểm chỉ. Mọi người xem đây, thứ nhất là làm chứng, thứ hai là để cho mọi người thấy rõ, kẻ trộm sẽ có kết cục thế nào! Sau này nếu còn ai tái phạm, chưa chắc chỉ bị đuổi ra thôn đơn giản như thế!"
Mọi người thấy Lục Hổ cầm tờ giấy cam kết đứng bên cạnh, biết rõ trưởng thôn đã chuẩn bị chu toàn, bèn đồng loạt phụ họa: "Đúng thế, chúng ta đều chứng kiến! Sau này nếu còn vi phạm, không thể dễ dãi như vậy nữa!"
"Phải rồi, phải rồi!"
Triệu Thải Kim và chồng bà ta không thể nói thêm điều gì được. Suy cho cùng, so với việc bị quan phủ trừng phạt, thì việc bị đuổi khỏi thôn còn là nhẹ. Huống chi, Lục Yếu Phát đã ký tên điểm chỉ, họ không thể cãi lại.
Vậy nên việc này liền được quyết định như thế. Trưởng thôn tuyên bố: "Hôm nay ta thả Lục Yếu Phát về. Sáng mai, hắn phải thu xếp hành lý, rời khỏi thôn! Nếu không, cứ theo giấy đã ký mà thi hành!"
"Tốt! Chúng ta đồng ý!"
"Đồng ý!" Mọi người đồng thanh hưởng ứng rồi tản ra về nhà.
Hạ Thanh Đào cùng Lục Tùy trở về nhà. Vân Nương đã nấu xong cơm, thấy hai người về bèn hỏi chuyện xử lý ra sao. Hạ Thanh Đào liền kể lại đầu đuôi, rồi nói: "Như vậy cũng tốt, đuổi hắn đi xa. Chúng ta không cần phải lo lắng nữa."
"Đúng vậy, cuối cùng cũng có thể sống yên ổn." Vân Nương nói: "Trước đây, mỗi tối ta đều ngủ không yên. Ta chỉ sợ lại có trộm vào nhà."
"Nương đừng lo. Có A Tùy ở đây rồi, không sao đâu." Hạ Thanh Đào an ủi.
"Ừ."
Sáng sớm hôm sau, quả nhiên dưới sự giám sát của trưởng thôn, Lục Yếu Phát thu dọn tay nải rồi lên thuyền rời khỏi thôn. Trước lúc đi, trưởng thôn còn nghiêm giọng cảnh cáo Triệu Thải Kim rằng: nếu phát hiện hắn lén quay về thôn, thì 5 mẫu ruộng của nhà bà ta sẽ bị sung vào công quỹ, tuyệt đối không nương tay.
Triệu Thải Kim dù thương con đến mấy cũng không dám cãi lời, chỉ cúi đầu rối rít đồng ý.
Chuyện này coi như đã kết thúc.
Từ sau khi Hạ Thanh Đào cùng Bạch Thủy Nhi kết nghĩa, rồi lại cùng nhau làm ăn buôn bán dương mai, người trong thôn càng thêm thân thiện với y và Lục Tùy. Những lúc gặp nhau trên đường, hễ trong tay có rau quả gì là liền chia sẻ một ít, một phần là vì cảm thấy hai người có bản lĩnh, biết đâu sau này còn làm ăn lớn hơn, kết thân sớm vẫn hơn.
Trước đây có vài nhà từng xem thường Lục Tùy và Vân Nương, chê họ nghèo nợ chồng chất, bây giờ cũng phải thay đổi ánh mắt nhìn.
Lục Tùy từ lâu đã quen với thói đời thay đổi nóng lạnh, nên không thấy lạ lẫm gì.
Mùa hạ sắp tới, thời tiết ngày càng dần oi bức, giữa trưa nóng hầm hập như lò than.
Nhưng với Hạ Thanh Đào thì lại là chuyện đáng mừng. Bởi vì vườn nhà trồng cà tím, đậu tương, bí đao đều đã đến kỳ thu hoạch, rau xanh đủ ăn, nên không cần phải bận tâm hôm nay ăn gì.
Lục Tùy tuy không giỏi trồng trọt, nhưng rau quả nhà trồng cũng coi như được, chỉ có điều năm nay dựng giàn bí đao muộn, khiến mấy quả nằm sát đất bị úng.
Hạ Thanh Đào mặc áo đơn, ngồi trên bậc cửa gọt bí đao. Vân Nương ngồi bên chiếc ghế gỗ nhỏ, đang lột vỏ đậu tương. Mẹ chồng nàng dâu vừa làm vừa trò chuyện rôm rả: "Tiếc thật, bí đao tốt thế mà lại bị hư."
"Đúng vậy." Hạ Thanh Đào cũng thở dài: "Năm nay chưa có kinh nghiệm, đợi bí ra quả rồi mới dựng giàn thì muộn quá. Sang năm, vừa thấy dây bắt đầu bò là phải dựng liền, chắc sẽ không bị hư nữa."
"May mà đậu tương với cà tím tươi tốt." Vân Nương cười nói: "Hôm nay có đậu tương, con tính nấu món gì?"
"Hầm canh đi, bỏ chút nước tương là thơm ngay." Hạ Thanh Đào ngẩng đầu nhìn: "Còn bí đao thì xào với dưa muối, nương thấy sao?"
"Được đấy. Mới nãy ra suối, thím Thái Hoa còn cho ta ít đậu cô-ve non lắm, đem hấp thì ngon phải biết." Vân Nương nói, rồi bất giác thở dài: "Bây giờ nhờ phúc của con, người trong thôn thấy ta cũng phải khách sáo mấy phần."
Hạ Thanh Đào cười nhẹ: "Đâu phải nhờ phúc của con, là nương vốn có phúc khí sẵn rồi!"
Vân Nương cũng bật cười, cúi đầu tiếp tục lột đậu: "Trước đây ta nào dám nghĩ đến, phụ thân của con mất sớm, trong nhà không có người chống đỡ, nợ nần chồng chất khiến ta cứ tưởng mình là người vô phúc. Đến khi con gả vào, phúc khí mới đến với nhà ta."
"Đừng nói vậy, nương." Hạ Thanh Đào dịu giọng, trong lòng cũng chợt nhớ đến giấc mơ năm nào không lấy chồng. Nếu y không lấy Lục Tùy, biết đâu vẫn còn sống khổ ở nhà Lý tú tài. Mọi điều tốt đẹp hôm nay, đều là nhờ Lục Tùy. "Là A Tùy tốt, mệnh hắn tốt nên chúng ta mới được như ngày hôm nay!"
Vân Nương nghe xong, bật cười vui vẻ: "A Tùy tốt, con lại càng tốt! Nếu năm đó lấy phải ca nhi nào tệ bạc, chưa chắc nhà ta có được ngày hôm nay."
Hai người đang trò chuyện thì bá nương tới, trong tay cầm một chén mơ vàng óng, vừa đi vừa cười: "Ngân Sanh dạo này ốm nghén, cứ thèm vị chua. A Võ liền lên núi hái ít quả mơ về. Thanh Đào, con cũng ăn thử một chút."