Sắc Đêm Thiên Đường - Cô Nương Đừng Khóc

Chương 67: Tan vỡ: Tạm biệt, không hẹn gặp lại

Ngày hôm sau Tạ Sùng đi làm, hệ thống của công ty gửi thông báo cập nhật thông tin nhân sự. Anh đã sửa trạng thái hôn nhân thành ly dị, xóa tên Mâu Văn khỏi mục liên hệ khẩn cấp và thay bằng mẹ mình.

Thông báo thay đổi gửi đến chỗ Lương Tâm, cô ấy liếc nhìn một cái rồi tắt đi.

Cô ấy đau đầu.

Cô ấy không muốn công ty lại có thêm một quản lý cấp cao độc thân sáng giá.

Cô ấy nói với Tạ Sùng: “Cậu thay đổi trạng thái hôn nhân thì phải cung cấp minh chứng, ví dụ cậu nói cậu ly dị thì phải cung cấp giấy tờ. Thông tin của quản lý cấp cao công ty chúng ta bắt buộc phải chân thực và có hiệu lực, nếu không sẽ xảy ra vấn đề đấy.”

Tạ Sùng bảo: “Chứng nhận ly hôn sẽ có nhanh thôi.”

Lương Tâm phản bác: “Nghĩa là bây giờ vẫn chưa có, vậy phiền cậu sửa lại như cũ.” Nói rồi cô ấy thuận tay bác bỏ yêu cầu của Tạ Sùng.

Tạ Sùng nhìn thông tin bị bác bỏ, tự thấy bản thân bị Mâu Văn biến thành một kẻ vô cùng nực cười. Tâm trí anh bị cô kéo dốc, từ lâu đã đánh mất sự thản nhiên. Anh không thích điều này.

Mối quan hệ giữa anh và Mâu Văn rơi vào điểm đóng băng. Bất kể Mâu Văn nói gì hay làm gì, anh đều không đáp lại nữa. Tạ Sùng hoàn toàn không biết phải đáp lại thế nào, cứ nghĩ đến việc cuối cùng Mâu Văn sẽ rời xa mình, anh lại thấy mọi thứ đều vô vị.

Tóm lại, cuộc sống cứ thế bình lặng trôi qua.

Mùa xuân năm 2017, Tiểu Cố đã làm xong mọi thủ tục, đống sách trong nhà cô ấy cũng đã vượt đại dương tới nước ngoài. Cô ấy chuẩn bị tách khỏi Mâu Văn.

Dẫu đã liệu trước việc ai cũng có chí riêng, sớm muộn gì cũng mỗi người một hướng, nhưng trong lòng Mâu Văn vẫn thấy buồn. Bắc Kinh quá rộng lớn, để có một người bạn tri kỷ ở Bắc Kinh thật sự quá khó.

Trước khi đi, Tiểu Cố hẹn Mâu Văn ăn một bữa cơm.

Mâu Văn thấy Tiểu Cố mặc một chiếc váy liền rất đẹp, đã bấm lỗ tai và đeo đôi khuyên tai sáng lấp lánh. Cô chưa từng thấy Tiểu Cố như thế này bao giờ, nhìn thật xứng với cái tên “Cẩm Thư” của cô ấy.

Mâu Văn chân thành tán thưởng: “Cẩm Thư, chị đẹp quá.”

Tiểu Cố khoe lỗ tai với Mâu Văn: “Chị muốn bấm suốt mà cứ sợ đau, hôm nọ qua tiệm bấm một cái mới phát hiện ra chỉ có chút xíu ấy thôi, chẳng đau chút nào cả.”

“Đẹp lắm. Cẩm Thư, chị rất hợp đeo khuyên tai.” Mâu Văn gạt gạt chiếc khuyên tai, vô cùng yêu thích.

Tiểu Cố mời Mâu Văn ăn ở một nhà hàng có giá trên trời.

Mâu Văn cảm thấy có chút hoang phí, Tiểu Cố liền nói: “Hoang phí một lần đi, ngày thường chúng ta cứ luôn tính toán chi li chuyện tiền bạc, không dám làm cái này không dám làm cái kia, như thể tuổi thơ nghèo khó thì định sẵn cả đời phải sợ bóng sợ gió vậy. Hôm nay chúng ta cứ lãng phí.”

Mâu Văn nói: “Thế thì tốt quá, em cũng sẽ ăn một bữa cho hẳn hoi.”

Mâu Văn rất không nỡ xa Tiểu Cố.

Thời gian trôi qua thật nhanh, những người ở lại bên cạnh cô ngày một ít đi. Đôi khi cô sẽ cảm thấy cô đơn. Tiểu Cố an ủi cô: Không sao đâu, rồi sẽ có những người mới không ngừng tràn vào, cuộc đời em sẽ không thực sự cô đơn đâu. Bắc Kinh vốn là như vậy mà, Bắc Kinh vĩnh viễn không thiếu người, vĩnh viễn người người chen chúc.

Năm ngoái sống khá khó khăn, may mà năm nay cả hai đều đã khôi phục lại sức ăn.

Bữa ăn vô cùng đẹp mắt kia chỉ đủ nhét kẽ răng, ăn xong rồi mà dạ dày vẫn còn vơi. Cuối cùng hai người lại rẽ vào một quán ăn Hồ Nam. Lúc này họ nhớ đến năm xưa khi Mâu Văn còn là thực tập sinh, cô nói muốn mời Tiểu Cố ăn cơm, Tiểu Cố tiếc tiền không nỡ ăn đồ đắt đỏ, liền chọn một quán ăn Hồ Nam bình dân. Lúc ấy cả hai đều lờ mờ cảm thấy đối phương sẽ trở thành bạn của mình ở thành phố này, nên họ vô cùng trân trọng.

Mâu Văn hỏi Tiểu Cố về dự định tiếp theo, Tiểu Cố lấy ra một bảng tính điện tử cho Mâu Văn xem. Số sách cô ấy cần đọc trong năm nay, những tư liệu cần xuất bản, cũng như các hoạt động sắp tới nhằm mở rộng hiệu sách trực tuyến của cô ấy. Nhưng trọng tâm của cô ấy vẫn luôn đặt vào sách đọc cho trẻ em.

“Chị còn muốn thử viết một cuốn du ký*.” Tiểu Cố nói: “Sau khi đến đó, chị sẽ tận dụng thời gian rảnh rỗi để đi khắp nơi.”

*Ghi chép những điều tai nghe mắt thấy trong khi đi du lịch

Mâu Văn im lặng lắng nghe Tiểu Cố nói, trong đầu cô tràn ngập cuộc sống mà Tiểu Cố vẽ ra. Tiểu Cố kể lần cô ấy về quê đón Tết, bà nội mái tóc bạc phơ đã bảo: Tiểu Cố là đứa đi được xa nhất trong nhà.

“Tốt quá rồi.” Mâu Văn nói: “Cô giáo Cẩm Thư của chúng ta ngày càng đi được xa hơn rồi.”

Tiểu Cố có phần cảm khái.

Trong lúc đó, chồng cũ của cô ấy gọi tới, cô ấy từ chối nghe máy. Chồng cũ của Tiểu Cố không mấy hiểu cho quyết định ra nước ngoài của cô ấy, anh ta cho rằng Tiểu Cố bỏ rơi con cái. Tiểu Cố từng thương lượng với anh ta hai năm nữa sẽ đón con ra ngoài sống cùng, anh ta lại bảo con nhà tôi dựa vào đâu để cô đưa đi.

Nhận thức của người đàn ông này từ lâu đã không còn theo kịp bước chân của Tiểu Cố nữa rồi, Tiểu Cố không có cách nào trò chuyện với anh ta được nữa, chỉ nói với anh ta: “Nếu anh thấy tôi có chỗ nào vi phạm pháp luật, anh cứ việc kiện tôi. Từ nay về sau, giữa tôi và anh chỉ có sự giao tiếp trên phương diện pháp luật, ngoài ra không còn gì khác.”

“Tôi dùng đạo đức để lên án cô.” Chồng cũ của cô ấy nói.

“Tôi không vi phạm thuần phong mỹ tục, thứ gọi là đạo đức của anh chỉ là của riêng anh thôi, chẳng liên quan gì đến tôi cả.”

Tiểu Cố không muốn nói thêm với anh ta dù chỉ một lời, lúc này cô ấy nói với Mâu Văn: “Thực ra Tạ Sùng rất giỏi, cậu ấy không giống chồng cũ của chị, chị từng quan sát cậu ấy rồi, bất kể là năng lực, nhận thức hay phẩm hạnh làm người đều vượt xa chồng cũ của chị. Đôi khi chị thấy tiếc cho hai em, em tốt như vậy, cậu ấy cũng rất ổn, nhưng vẫn cứ thiếu chút gì đó.”

“Tạ Sùng khá tốt, ít nhất là hào phóng.” Mâu Văn nói: “Anh ta luôn đưa tiền cho em. Bây giờ em cũng sẽ yên tâm nhận lấy.”

Cô và Tiểu Cố cứ thế trò chuyện thật lâu, nói mãi cho đến tận khi trời sáng. Cô định tiễn Tiểu Cố ra sân bay nhưng Tiểu Cố từ chối. Cô ấy nói: “Kỹ sư Mâu, trong tất cả các cảnh tượng trong cuộc đời con người, chị ghét nhất là cảnh tiễn biệt. Vì có người tiễn, chị sẽ phải ngoảnh đầu lại nhìn. Mà chị thì không muốn ngoảnh đầu lại nữa.”

Mâu Văn đứng yên tại chỗ dõi theo bóng dáng cô ấy.

Cô nhìn thấy Tiểu Cố kéo một chiếc vali nhỏ băng qua đường, lên xe, bước ra khỏi “Brooklyn” của cuộc đời cô ấy.

Buổi sáng mùa xuân năm đó, mọi thứ đều mới mẻ. Ánh nắng ấm áp rọi chiếu lên mọi thứ trên thế gian, ngọn gió xuân dịu dàng cũng thổi qua mọi thứ của thế gian này. Tâm trạng Mâu Văn rất hân hoan.

Công việc thi công văn phòng của cô đã đi đến đoạn kết, cô cũng đã đăng thông báo tuyển dụng lên web. Để thuận tiện cho công việc, cô thuê một căn hộ studio lớn ngay bên cạnh, từng đó là hoàn toàn đủ cho một mình cô ở rồi. Cô rất thích căn hộ studio lớn đó, dốc lòng chăm chút bày biện. Cô đi mua hoa, mua giấy dán tường và thảm, thuận theo ý muốn của mình mà tạo ra một ngôi nhà mới ấm áp một lần nữa.

Tiếp đó cô bắt đầu chuyển quần áo.

Mỗi lần rời khỏi nhà cô đều sẽ tiện tay gom theo vài bộ quần áo. Những năm qua Tạ Sùng không tiếc tiền mua trang phục cho cô, cô không hề khách sáo, chuyển dần hết đống quần áo anh mua cho cô qua đó.

Tủ quần áo thuộc về cô trong nhà Tạ Sùng dần trống trơn.

Lúc này Mâu Văn sực nhớ đến một cụm từ: người đi nhà trống. Lúc trước cô còn trẻ, không hiểu nổi ý nghĩa thực sự của cụm từ này, giờ đây tự mình trải qua rồi mới thấm thía nỗi bi ai trong đó.

Ngày dọn sạch quần áo đi, cô đứng trong nhà Tạ Sùng nhìn lại từng ngóc ngách một lần nữa. Sống ở đây lâu như thế, mỗi một nơi cô đều rất quen thuộc. Thế nhưng trong lòng cô tự hiểu nơi này không còn thuộc về cô nữa rồi.

Cô dọn vào ở trong “nhà mới” của mình.

Tạ Sùng đi công tác về, đứng ở cửa gọi Mâu Văn vài tiếng nhưng không có ai đáp lại. Anh đặt vali ở cửa, thay dép đi trong nhà rồi bước vào trong.

Trong nhà vương một sự im lặng kỳ quặc lạ lùng, rõ ràng mọi thứ vẫn như cũ, nhưng lại cứ thấy có gì đó không giống. Anh đi vào bếp trước, phát hiện Mâu Văn không ở trong đó.

Lại đi vào phòng ngủ của Mâu Văn, bên trong cũng không có người.

Anh nhìn thấy chiếc giường Mâu Văn từng ngủ được thu dọn ngăn nắp chỉn chu như chưa từng có ai ngủ ở đó. Lúc này anh sực nhớ đến tủ quần áo. Mở tủ ra, thấy bên trong trống rỗng.

Những thứ liên quan đến Mâu Văn trong ngôi nhà này đều biến mất, biến mất một cách triệt để, cứ như thể cô chưa từng xuất hiện vậy.

Anh có phần bần thần.

Người đi nhà trống.

Như một giấc mơ dài vậy.

Phải một lúc lâu sau anh mới gọi điện thoại cho Mâu Văn, Mâu Văn rất nhanh đã nghe máy.

Tạ Sùng hỏi cô: “Em đang ở đâu?”

Mâu Văn đáp: “Em ở nhà mới của em.”

“Em muốn ly thân với anh sao?” Tạ Sùng lại hỏi.

“Không phải, em muốn ly hôn với anh.” Mâu Văn nói: “Tạ Sùng, anh cứ ngủ một giấc thật ngon trước đi, ngày mai em qua nhà anh tìm anh, chúng ta nói chuyện cho rõ ràng.”

Cô nói em qua nhà anh tìm anh, chứ không phải em về nhà tìm anh.

Tạ Sùng ghì chặt chiếc điện thoại trong tay, anh nhận ra lần này Mâu Văn thực sự đã chuẩn bị xong rồi. Cô đã nỗ lực rất lâu, cuối cùng cũng hoàn tất mọi chuẩn bị để rời xa anh. Cô lặng lẽ dọn đi từng món đồ thuộc về mình, chẳng hề thông báo với anh một lời. Cô đã lên kế hoạch, nhẫn nhịn và hành động suốt một thời gian dài, cuối cùng cũng đến ngày hôm nay.

Tạ Sùng rất hoang mang.

Anh cảm thấy tội của mình không đáng bị đối xử thế này.

Sao mọi chuyện lại phải đi đến bước đường này chứ?

Cả đêm hôm đó anh không hề chợp mắt.

Tạ Sùng là người nặng tâm sự. Người ta vẫn thường bảo anh làm việc thì lão luyện, nhưng đối với chuyện tình cảm thì lại chậm hiểu, lúc nào cũng không biết gì, tùy hứng, chấp nhặt lại bướng bỉnh giống như một đứa trẻ. Anh cứ ngỡ anh và Mâu Văn cùng nhau đi qua quãng đường này, chung quy cũng phải sót lại chút gì đó, nhưng lại chẳng còn lại bất cứ thứ gì.

Trưa ngày hôm sau, Mâu Văn tới.

Cô ghé qua siêu thị, mua rất nhiều thức ăn. Tạ Sùng thấy cô bước vào cửa chỉ khẽ nhướn mi mắt lên nhìn một cái, rồi lại đi bận việc khác.

Mâu Văn đã liệu trước anh vẫn sẽ giữ kiểu cao ngạo như thế, nên cô cũng chẳng chấp nhặt với anh làm gì.

Khởi đầu giữa cô và Tạ Sùng, nếu cô nhớ không lầm thì thực sự bắt đầu từ chiếc bàn ăn này. Từ nhỏ Tạ Sùng đã phải đeo chiếc ba lô nhỏ của mình chạy qua chạy lại giữa nhà bà nội và bà ngoại, quanh năm suốt tháng chẳng mấy khi được gặp bố mẹ, trong lòng luôn thiếu hụt cảm giác an toàn. Anh thích được ngồi bên bàn ăn nhà mình an tâm ăn một bữa cơm, dẫu cho bữa cơm đó không ngon đi chăng nữa, anh vẫn sẽ thấy vui vẻ.

Khởi đầu thực sự giữa họ chính là từ một bữa cơm. Anh được ăn những món ăn gia đình mà mình hằng mơ ước, từ đó mới chú ý đến cô thêm một chút.

Mâu Văn chẳng thể ngờ nổi tay nghề nấu nướng mà cô học hỏi được do tai nghe mắt thấy từ tiệm bánh bao của mẹ, lại chính là thứ một bước đưa cô lên nấc thang dẫn đến sự giàu có. Đây rốt cuộc là chuyện vui hay chuyện buồn, tự bản thân cô cũng chẳng thể nói rõ được nữa rồi.

Cô vẫn nhớ rõ, lúc ấy mỗi lần nghĩ đến Tạ Sùng, nghĩ đến việc sắp được gặp Tạ Sùng, cô đã ôm lấy tâm trạng như thế nào. Trái tim cô cứ thắt lại rồi buông thõng, hận không thể lập tức bay đến bên anh ngay.

Nhưng giữa cô và anh chung quy vẫn thiếu chút gì đó, ngay từ lúc bắt đầu đã thế rồi. Có lẽ vì cô yêu quá vụng về, hoặc cũng có thể vì tình yêu của cô quá hời hợt.

Mâu Văn nấu bữa cơm cuối cùng cho Tạ Sùng ở trong bếp.

Từng món anh thích ăn cô đều nhớ rõ.

Lúc Mâu Văn nấu cơm luôn nhớ lại những chuyện cũ của hai người, thật kỳ lạ, lúc này những gì cô nhớ đến đều là điểm tốt của Tạ Sùng. Những lần bạo lực lạnh, sự bỏ bê, hay cảm giác khoảng cách lúc gần lúc xa của anh, những thứ đó cô đã quên hết rồi. Cô chỉ nhớ sự ngây thơ, lãng mạn như một đứa trẻ của anh, nhớ anh từng đặt cô ở trong lòng, nhớ mỗi một món quà anh tặng cô.

Anh đứng đợi trước cửa nhà cô giữa đêm muộn, anh đứng dưới chân cầu vượt đợi cô, đồ ăn quá dở khiến anh ăn đến mức nôn thốc nôn tháo, nhưng sau này anh vẫn sẽ đi ăn tiếp.

Lúc anh đẩy cửa phòng cô ra, bao giờ cũng thò đầu vào trước; lúc anh hôn cô, luôn dùng lòng bàn tay ôm lấy cổ cô.

Cô nhớ đến khi họ ở khu chăn nuôi, ngắm mưa, ngắm gió, ngắm hoàng hôn và ánh bình minh, lúc ấy họ còn muốn tổ chức một đám cưới thế kỷ, muốn cùng ngắm nhìn hết ngày đêm của cuộc đời.

Những gì Mâu Văn nghĩ đến đều là những chuyện này.

Mâu Văn cảm thấy mặt mình hình như đã ướt đẫm, cô lấy ống tay áo quẹt một cái, ống tay áo liền thấm ướt một mảng. Cô chống tay xuống bệ bếp, bình tĩnh một lát rồi mới tiếp tục nấu cơm.

Cô nấu cho Tạ Sùng một “bữa tiệc thịnh soạn”.

Những món anh thích ăn nhất cô đều nấu cả, hai mươi món ăn bày biện kín cả một bàn. Nấu xong, cô gọi Tạ Sùng ăn: “Ăn cơm.”

Tạ Sùng không nói gì, bước đến bên bàn ăn rồi ngồi xuống.

Vừa nãy anh nghe thấy những tiếng động trong bếp, nhận ra những tiếng động này về sau có lẽ sẽ không còn được nghe thấy nữa. Có mấy lần đi ngang qua bếp, anh đều muốn lao vào trong, hỏi Mâu Văn có thể không ly hôn được không. Nhưng anh đã không làm vậy.

Chuyện ly hôn ban đầu là do anh nói ra. Cả hai người họ đều bị cuộc hôn nhân này vây khốn, hình như trong họ chẳng ai phạm phải sai lầm kinh thiên động địa nào, nhưng mọi chuyện cứ thế chậm rãi chệch nhịp.

Ly hôn cũng tốt. Mỗi người để lại cho đối phương một con đường sống. Câu nói đó của Mâu Văn rất đúng: Đi gặp gỡ người khác, biết đâu lại có thể gặp được người tốt hơn.

Anh ngồi đối diện Mâu Văn, hỏi cô có muốn uống chút gì không.

“Uống chút đi.” Mâu Văn nói: “Uống Mao Đài.” Trước đây cô không mấy khi cho phép Tạ Sùng uống Mao Đài trong bữa cơm nhà, cô thấy như vậy quá đỗi xa xỉ. Lúc ấy Tạ Sùng luôn nói: Có phải anh không uống nổi đâu.

Ngày hôm nay họ quyết định uống hết một chai.

Tửu lượng của Mâu Văn hiện tại cũng khá được, cô giao hẹn với Tạ Sùng mỗi người một nửa, uống hết là thôi. Chiếc chén uống rượu nhỏ xíu như thế, chỉ cần ngửa đầu một cái là hết một ngụm nhỏ. Mâu Văn uống đến mức hai má đỏ ửng, nhìn lại Tạ Sùng, sắc mặt anh vẫn không hề thay đổi.

Tạ Sùng nói anh chưa từng uống say bao giờ, đó dĩ nhiên là lời thật lòng. Vậy thì những chuyện anh làm dưới danh nghĩa mượn rượu làm càn năm xưa, giờ ngẫm lại đều mang sự tính toán rồi. Ít nhất, vào cái ngày anh nói với Mâu Văn “chúng ta kết hôn đi”, anh tỉnh táo.

Mâu Văn nghiêm túc nhìn Tạ Sùng, thấy anh cứ mãi không chịu động đũa, cô đứng dậy gắp thức ăn cho anh.

Tạ Sùng nói: “Mâu Văn, anh không ăn nổi, anh không muốn ăn.”

Mâu Văn một mình ăn vài miếng, hình như cũng không đói lắm, thế là cô đặt bát đũa xuống.

“Nói chuyện chút nhé?” Cô hỏi.

“Nói thôi.” Tạ Sùng đáp.

Thực ra Mâu Văn cũng chẳng biết nên nói những gì, cô không có bất kỳ lời nào muốn nói với Tạ Sùng. Cô chỉ đưa thỏa thuận cho Tạ Sùng.

Tạ Sùng không mở bản thỏa thuận của cô ra, đứng dậy lấy một bản thỏa thuận khác qua, đặt trước mặt Mâu Văn.

Mỗi người họ có một bản thỏa thuận, đại diện cho lập trường của riêng mình.

Nhưng cả hai đều không mở thoả thuận của đối phương ra xem.

Tạ Sùng nói: “Nếu bây giờ em không muốn xem, mang về xem cũng được. Những lời khác anh đã nói trước đây rồi, hôm nay cũng chẳng có gì cần phải nói thêm nữa.”

Từ đầu đến cuối anh vẫn luôn cho rằng chân tình Mâu Văn dành cho anh không trọn vẹn, cô có sự pha trộn giữa những tính toán và cân nhắc thực tế đối với anh; còn Mâu Văn, cô luôn nghĩ rằng trong lòng Tạ Sùng có một bóng hình không thể xóa nhòa, cô vĩnh viễn là người đứng ngoài cuộc sống của anh.

Sau đó, những chủ đề này không còn cần thiết để đem ra thảo luận nữa, cả hai đều đã quá mệt mỏi rồi. Ngay cả việc ngồi đối diện với nhau như lúc này cũng khiến họ cảm thấy ngột ngạt. Thực ra những lời khó nghe đều đã nói ra từ trước, còn lời tốt đẹp nghe lại quá giả tạo. Họ cứ ngồi đối diện nhau như thế, sự im lặng chính là hội thoại cuối cùng giữa hai người.

Thế nhưng họ lại đều sẽ nhớ về lúc ban đầu, nhớ đến khoảng thời gian khi họ còn chưa về chung một nhà, nhưng vào một khoảnh khắc nào đó sẽ chợt nhớ đến đối phương. Khoảng thời gian như thế, có lẽ chính là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất, rực rỡ nhất trong cuộc gặp gỡ dài đằng dẵng này của họ.

Khi ấy mọi chuyện chưa định đoạt, mà lại như thể đã có sự an bài.

Cho đến tận thời điểm này Mâu Văn chưa từng nghĩ sẽ đoạn tuyệt quan hệ, cả đời không qua lại với nhau nữa cùng Tạ Sùng. Trong lòng cô đong đầy sự biết ơn đối với Tạ Sùng. Nếu không có Tạ Sùng, cô sẽ phải nếm trải rất nhiều, rất nhiều đau khổ, phải đi qua rất nhiều, rất nhiều khúc quanh cuộc đời. Từ đầu đến cuối cô đều thừa nhận rằng mình là người may mắn, cô tỉnh táo bước lên bậc thang mà Tạ Sùng đưa cho cô, thế nên mới có được rất nhiều khoảnh khắc quyết đoán sau này.

Cô biết ơn Tạ Sùng, thế nên lúc này cô muốn nói với Tạ Sùng vài câu thật lòng.

“Tạ Sùng.” Mâu Văn cuối cùng cũng nhìn về phía anh: “Bất kể anh có tin hay không, trước đây mỗi một lần em tiến lại gần anh, đều là chân tình, đều là bản năng. Em có thích anh.”

“Thích tôi mà cô còn muốn tính toán rạch ròi với tôi sao?” Tạ Sùng cười giễu một tiếng: “Mâu Văn, lúc nào cô cũng chỉ nói lời hoa mỹ. Cô cứ tưởng ai cũng sẽ tin trò đó của cô, cứ nghe lời hoa mỹ rồi sẽ tin cô.”

Đôi mắt Mâu Văn khẽ mở to ra một chút, nhưng ngay sau đó liền nhún vai. Cô không hề biện bạch cho chính mình, cô biết Tạ Sùng sớm muộn gì cũng sẽ biết rõ đáp án, và sẽ hối hận vì những chuyện ngày hôm nay. Như vậy thì mục đích của cô đã đạt được rồi.

“Cho nên anh không tin tôi đúng không?” Mâu Văn hỏi.

“Tại sao tôi phải tin cô?” Tạ Sùng nói: “Cô bắt tôi phải tin rằng lúc đầu cô ở bên tôi mà không hề cân nhắc đến bất kỳ yếu tố thực tế nào sao? Thế sao cô không ra ngoài đường vớ bừa một người để kết hôn đi? Chẳng qua tôi là người ngây thơ, dễ điều khiển nhất trong số những người cô gặp được mà thôi.”

“Hóa ra anh nghĩ như vậy.” Mâu Văn nhếch môi: “Anh không chỉ khinh thường tôi, anh còn khinh thường chính bản thân anh, anh đáng thương vậy sao.”

Một người đàn ông dường như sở hữu mọi thứ như Tạ Sùng, vậy mà lại vì hoài nghi tình yêu nên vĩnh viễn từ chối tình yêu. Anh cảm thấy bất kỳ ai lại gần anh đều mang theo mục đích, trừ người đã từ chối anh từ nhỏ đến lớn ra, chân tình của bất kỳ ai cũng đều là giả dối.

Đáng thương làm sao.

Hai chữ đáng thương giống như một ngọn lửa lớn thiêu đốt trái tim Tạ Sùng, ngọn lửa ấy cũng tràn vào trong ánh mắt anh, anh nói: “Tôi không hề khinh thường chính mình, tôi ở bên cô chẳng phải trả giá bất kỳ điều gì cả. Chẳng qua cô chỉ xuất hiện đúng vào lúc tôi muốn có một gia đình mà thôi.”

“Chuyện này tôi đã biết từ lâu rồi.” Mâu Văn siết chặt nắm tay nói: “Bởi vì Tưởng Vu không cần anh, nên anh mới yêu đương với tôi; bởi vì cô ấy không kết hôn với anh, nên tôi mới được dọn vào ở trong nhà tân hôn anh chuẩn bị cho cô ấy. Nhưng chuyện đó thì liên quan gì? Tôi vốn cũng không bận tâm đến những điều này.”

“Cô đừng nhắc đến Tưởng Vu.”

“Tôi biết, anh cảm thấy tôi không xứng.” Mâu Văn nói: “Nhưng tôi cũng chưa từng nghĩ sẽ so bì với Tưởng Vu, tôi khá biết ơn cô ấy đấy, may mà cô ấy không cần anh, nếu không tôi đã chẳng được sống tốt trong vài năm qua ở nơi này.”

Đã nói đến nước này, nói thêm cũng vô ích.

Mâu Văn vốn dĩ muốn rời đi một cách lịch sự, nhưng Tạ Sùng lại cứ dồn ép người quá đáng. Cả hai người họ đều không nói lời nào nữa.

Nếu cứ tiếp tục nói cho đến cùng, vậy cũng chỉ là câu nói kia: Tôi chưa từng yêu cô.

Mâu Văn lại nhìn xung quanh ngôi nhà này, thực ra ngày dọn đi bộ quần áo cuối cùng cô đã nhìn rồi. Trong lòng cô đương nhiên sẽ không nỡ xa rời, ngoài ngôi nhà ở Nha Khắc Thạch ra, nơi đây chính là nơi cô sinh sống lâu nhất trong cuộc đời mình. Đây là căn nhà tự tay cô thiết kế, đây là hoa cỏ tự tay cô bày biện, đây là ban công cô vẫn thường ngồi mỗi khi trời quang đãng, đây là phòng sách cô đã thức trắng hết đêm này đến đêm khác để vẽ rồi xé bỏ hết bản vẽ này đến bản vẽ khác.

Cô đứng ở phòng bếp lâu nhất. Cô thực lòng yêu thích căn bếp này, thích tự nhốt mình ở bên trong, tạo ra đủ loại âm thanh. Một khi linh hồn cô không có nơi nào để đi, dạ dày của cô sẽ trú ngụ trong gian bếp này. Cô nương tựa vào thế giới ngon lành này để sống, ngày này qua ngày khác.

Ngày hôm nay cô thực sự phải rời xa nơi này rồi.

Cô vẫn còn nhớ rõ ngày mình mới chuyển đến đây, trong lòng luôn cảm thấy đây không phải nhà của mình, đứng ở đó mà rụt rè e sợ. Suốt một khoảng thời gian dài, rất nhiều căn phòng trong ngôi nhà này cô không đi vào, rất nhiều đồ đạc cô không chạm tới. Sau này cuối cùng cô mới có cảm giác nơi đây chính là nhà của mình.

Cô cũng đã được sống những ngày tháng tốt đẹp vài năm ở nơi này, làm sao có thể không lưu luyến cho được đây?

Cô dứt khoát đứng dậy, cầm theo bản thỏa thuận ly hôn của Tạ Sùng, chậm rãi rảo bước trong căn nhà này. Tỉ mỉ giống hệt như lần đầu tiên cô đến đây để đo nhà khảo sát công trình vậy. Lúc ấy cô không thể ngờ được nơi đây sẽ là ngôi nhà trong tương lai của mình, càng không thể ngờ được cuối cùng mình lại rời xa nơi này.

Tạ Sùng nhìn Mâu Văn chậm rãi đi dạo một vòng quanh nhà, cuối cùng bước ra ngoài, khẽ khàng đóng cửa lại, không hề nói với anh một lời tạm biệt.

Cả hai đều không lập tức mở bản thỏa thuận của đối phương ra xem, họ không hề hiếu kỳ về nội dung thỏa thuận của đối phương, vì dường như họ đều đã dự liệu trước được từ sớm rồi.

Mâu Văn mở tập thỏa thuận ra vào lúc đêm muộn. Trước khi mở, cô xem lại bảng danh sách dự tính thu nhập trước đây của Tạ Sùng mà Vương Tiên Hạc gửi cho cô, cô nghĩ: Tạ Sùng không phải là người keo kiệt, anh sẽ không chi li tính toán, sẽ không từ chối chia cho cô một nửa. Thậm chí cô còn có thể tưởng tượng ra được lúc Tạ Sùng soạn bản thỏa thuận này, chắc chắn anh sẽ mang biểu cảm đầy khinh miệt. Anh sẽ nói: Mấy thứ rách nát, chẳng đáng gì, cô muốn thì cứ lấy đi.

Anh khinh miệt cô, cũng khinh miệt cả tấm chân tình cô từng dành cho anh.

Mâu Văn mở ra xem, thấy bản thỏa thuận của anh rất ngắn gọn, ngắn gọn giống hệt như bản thỏa thuận cuối cùng của cô vậy. Về phần phân chia tài sản chung, Tạ Sùng viết:

Trong thời kỳ hôn nhân, đồng hồ do bên nữ mua cho bên nam, thuộc quyền sở hữu của bên nam.

Bên nam tự nguyện từ bỏ toàn bộ các khoản thu nhập khác trong thời kỳ hôn nhân, chia toàn bộ tài sản cho bên nữ.

Danh sách tài sản sẽ do luật sư của hai bên tiến hành thẩm định lần cuối cùng làm chuẩn.

Tạ Sùng thậm chí không hề có bất kỳ sự kháng cự nào, cứ thế đề xuất đưa mọi thứ của mình cho cô. Không phải một nửa, mà là toàn bộ, trừ chiếc đồng hồ kia. Chiếc đồng hồ đó thì có gì tốt chứ? Rõ ràng anh sở hữu một chiếc giống hệt như vậy, rõ ràng anh còn rất nhiều đồng hồ đắt tiền khác.

Mâu Văn ngẩn người ra tại chỗ.

Tiền bạc chính là thứ mà Tạ Sùng không muốn tranh giành với cô nhất, nếu cô muốn, anh sẽ đưa cho cô hết.

Mâu Văn nhìn nhìn một hồi vậy mà lại bật cười.

Còn Tạ Sùng, hoàn toàn không hề mở bản thỏa thuận kia ra xem.

Mâu Văn muốn chia đôi tài sản của anh, anh không chia đôi, mấy thứ rách nát anh không cần, anh không thiếu những thứ này. Anh dùng cách thức này để thương hại Mâu Văn lần cuối.

Anh mời bạn bè đến nhà, nói bảo mẫu nhà tôi nấu một bàn đầy thức ăn ngon, qua đây ăn đi. Tiền Tụng thực sự đã đến, đi cùng Tiền Tụng còn có những người khác nữa.

Tiền Tụng bước vào cửa liền đi đi lại lại từ trong ra ngoài, không thấy bóng dáng Mâu Văn đâu, bèn lén lút hỏi Tạ Sùng: “Mâu Văn đâu?”

“Ly hôn rồi.” Tạ Sùng nói.

“Đù!” Tiền Tụng nói: “Mẹ nhà cậu, cậu kết hôn mấy năm trời, đến cả mặt vợ cậu tôi còn chưa được nhìn thấy một lần nào, thế mà đã ly hôn rồi sao?”

“Ly hôn rồi.” Tạ Sùng nói: “Đừng nói mấy lời vô ích nữa, uống rượu thôi.”

Có người nếm thử một miếng thức ăn, hỏi Tạ Sùng: “Cậu còn có tay nghề nấu nướng thế này cơ à?”

“Chẳng phải đã nói rồi sao? Bảo mẫu nấu đấy.” Tạ Sùng nói. Anh giống như một đứa trẻ, vừa hạ thấp người khác mà cũng vừa làm tổn thương chính mình.

Tiền Tụng nhận ra điểm bất thường của anh, đưa tay chặn ly của anh lại: “Cậu đừng uống nữa, hôm nay không thích hợp để uống rượu. Nếu cậu muốn uống, hôm nào tôi sẽ uống riêng với cậu.”

“Sao lại không thích hợp uống rượu? Tôi uống đến chết được chắc?” Tạ Sùng hỏi.

Tiền Tụng không nói nổi anh, đành phải đưa ly cho anh.

Tạ Sùng nhìn trông có vẻ rất bình thản, nhưng uống rượu lại rất dữ dội. Ngày hôm đó anh lôi kéo mọi người uống rượu, hết ly này đến ly khác, giống như ngàn ly không say vậy. Mọi người đều cảm thấy vui vẻ, vì đã lâu lắm rồi Tạ Sùng không uống rượu kiểu này. Suốt một khoảng thời gian dài, bắt anh uống rượu chẳng khác nào bắt anh uống thuốc, anh luôn nói: Tôi không muốn uống rượu, tôi phải cai rượu. Tạ Sùng không cai rượu nữa, bắt đầu uống một cách thỏa thích, điều này quả thực hiếm thấy.

Tiền Tụng không cho phép những người khác uống rượu cùng Tạ Sùng, trên chiếc bàn này, duy chỉ có anh ta là bạn thực sự của Tạ Sùng. Thế nên anh ta vẫn luôn đứng ra chắn rượu giúp Tạ Sùng, nhưng Tạ Sùng lần nào cũng gạt anh ta ra.

Tạ Sùng đã không còn nhớ mình đã uống bao nhiêu rượu nữa rồi, chỉ biết uống một cách máy móc. Đúng lúc này Vương Tiên Hạc gọi điện thoại cho anh, Tạ Sùng tìm một nơi không có người để nghe máy.

Vương Tiên Hạc hỏi: “Bản thỏa thuận ly hôn của Mâu Văn cậu có vấn đề gì không? Cậu thấy còn chỗ nào cần phải sửa đổi không? Tôi nhận sự ủy thác của cô ấy để thương lượng với cậu.”

Tạ Sùng nói: “Mục tiêu cô ấy đặt ra nhỏ quá, sao lại chỉ đòi một nửa chứ? Mấy thứ đó tôi cho cô ấy hết. Cô ấy là người từ vùng quê tới, kiếm tiền không dễ dàng gì.”

Vương Tiên Hạc ngẩn người ra một thoáng rồi nói: “Cậu vẫn chưa xem đúng không? Cậu xem một chút đi. Khi nào tỉnh táo thì trả lời tôi.”

Tạ Sùng lảo đảo rảo bước đi tìm bản thỏa thuận, Tiền Tụng đi bên cạnh anh, hỏi anh đang tìm cái gì. Tạ Sùng nói: “Tôi tìm một đống giấy lộn.”

Giấy thỏa thuận đó chính là một đống giấy lộn, giấy chứng nhận kết hôn cũng là giấy lộn, đều là những đồ bỏ đi.

Cuối cùng anh tìm thấy nó ở phía đầu giường trong phòng ngủ, động tác vụng về mở ra xem, nhưng ánh mắt lại không thể tập trung, cảm thấy bản thỏa thuận sao lại mỏng dính thế này, sao chữ lại ít thế kia, không đúng, chỉ riêng bảng danh sách liệt kê do một mình Vương Tiên Hạc tổng hợp về anh đáng lẽ phải dài tới mười mấy trang chứ.

Không có. Chẳng có danh sách liệt kê nào cả.

Tiền Tụng lại “đù” thêm một tiếng, anh ta nói với Tạ Sùng: “Tạ Sùng, tôi đã trách lầm Mâu Văn rồi.” Rồi lại nói: “Mâu Văn, tôi sai rồi.” Tiền Tụng tự thấy ba mươi năm cuộc đời của mình đều sống uổng phí cả rồi, đôi mắt kia của anh ta đã coi khinh, nghĩ xấu cho người khác, anh ta hết lần này đến lần khác lo lắng Tạ Sùng bị người ta lừa gạt. Đến cuối cùng, người sai lại là anh ta.

Tạ Sùng nghe vậy liền giật phắt lấy bản thỏa thuận.

Anh nhìn thấy bên trên viết dòng chữ: Bên nữ chỉ yêu cầu nhận được khoản thu nhập của mình trong thời kỳ hôn nhân, khoản chi phí cho căn hộ dân cư thương mại do Tạ Sùng hỗ trợ có thể thương lượng thời hạn hoàn trả. Thu nhập của Tạ Sùng vẫn thuộc về sở hữu cá nhân của anh.

Mâu Văn không lấy bất cứ thứ gì cả.

Tạ Sùng cứ tưởng mình nhìn nhầm, anh nói: “Tiền Tụng, hình như tôi uống say thật rồi, cậu đọc giúp tôi mấy dòng chữ này.”

Tiền Tụng cũng đã uống nhiều rồi, lắp bắp đọc một cách không rõ tiếng.

Những chữ đó, từng chữ từng câu, đều ghim sâu vào trong tim Tạ Sùng.

Anh nhớ lại anh từng vô số lần hỏi cô: “Mâu Văn, nếu như anh không có tiền, em có còn yêu anh nữa không?”

Mâu Văn ngẩng cao mặt lên nói: “Em yêu anh, em vẫn sẽ yêu anh thôi.”

“Nhưng Mâu Văn, nếu như anh không có tiền, em sẽ phải sống cuộc sống khổ cực.”

“Nhưng Tạ Sùng, anh chính là anh mà.”

Anh nhớ đến lúc Mâu Văn lao về phía anh vào vô số đêm thâu, dưới màn đêm lung linh rực rỡ của Bắc Kinh, cô từng nói “Tạ Sùng, em nhớ anh lắm”, “Tạ Sùng, em muốn tốt với anh mãi mãi”, “Tạ Sùng, đây là nhà của chúng ta, hai chúng ta sẽ sống một cuộc đời thật tốt đẹp”, “Tạ Sùng, anh thích ăn món gì em nấu cho anh ăn…”, “Tạ Sùng, em yêu anh”… vô số lần.

Anh nhớ lại những điều này, nhớ đến Mâu Văn.

Anh nhớ đến lời của bố trước lúc lâm chung từng nói với anh:

Đừng hoài nghi chân tình. Chân tình quay đi ngoảnh lại là tan biến.

Mình say thật rồi. Tạ Sùng nói một câu như thế, rồi ngã gục đầu xuống giường. Anh như vừa trải qua một giấc mơ dài, trong mơ đủ dáng vẻ khác nhau của Mâu Văn lần lượt hiện ra. Cô khóc, cười, chạy nhảy, cô nói Tạ Sùng anh đừng không nghe điện thoại của em, anh đừng bạo lực lạnh với em, cô nói Tạ Sùng anh hãy mở rộng trái tim đón nhận em, để hai chúng ta hoàn toàn yêu nhau.

Giấc mơ đó chân thực biết bao, nỗi đau đớn chân thực, niềm vui vẻ chân thực, duy chỉ có anh ở trong mơ, bất kể nói gì, đều không có cách nào biểu đạt ý nghĩ.

Đến khi anh mở mắt ra thì đã là chuyện của hai tiếng sau rồi, bạn bè đã về hết, trong nhà là một bãi chiến trường bừa bộn. Anh bước qua phòng khách trống trải, đi ra khỏi cửa nhà.

Ngọn gió đêm tháng tư thổi vào người anh, anh cứ thế đi mãi, đi mãi, đi mãi cho đến tận cây cầu vượt ở đường Tô Châu.

Anh đứng ở nơi đó, ngắm nhìn Bắc Kinh.

Một Bắc Kinh xa xôi.

Bên cạnh anh từ nay không còn Mâu Văn nữa rồi.

Đêm hôm đó cứ như vậy mà trôi qua. Có lẽ cuộc đời vẫn sẽ còn thật nhiều đêm thâu như thế này, hoàn toàn giác ngộ, đại hỷ đại bi, nhưng đều vô ích cả rồi.

Mâu Văn là đồ ngốc, thực chất cũng không ngốc. Từ trước đến nay cô đều vô cùng tỉnh táo, biết rõ thứ gì có thể có được, thứ gì không thể có được, cô không cần những thứ dư thừa, vì những thứ dư thừa đều là gánh nặng. Bản thỏa thuận cuối cùng của họ sau khi qua sự thương lượng hòa giải của Vương Tiên Hạc ở giữa, cuối cùng Mâu Văn lấy đi một phần khoản thu nhập trong thời kỳ hôn nhân của Tạ Sùng, không nhiều. Cô không muốn tiếp tục dây dưa nữa, cô nói với Vương Tiên Hạc: “Chị chuyển lời tới Tạ Sùng, cứ theo mức giá đắt nhất của bảo mẫu trên thị trường mà quy đổi thành tiền mặt đưa cho em là được rồi.”

Cô không biết Tạ Sùng nghe thấy câu nói này sẽ có phản ứng ra sao, cô đã chẳng còn bận tâm nữa rồi.

Tháng năm, chuyên đề “Con người sống trên thế giới – Bài về Mâu Văn” đã được phát sóng trên web. Ảnh bìa chính là năm Mâu Văn ngồi ghế cứng quay trở về Bắc Kinh từ Nha Khắc Thạch, trong căn phòng khách nhỏ cô cởi bỏ đôi tất ra, bàn chân cô đã phù nề sưng lên rồi, vậy mà trên gương mặt vẫn nở nụ cười tràn đầy sức sống thanh xuân.

Năm đó rất vất vả, thực ra những năm về sau cũng rất vất vả. Con chữ không có cách nào khái quát trọn vẹn được, vì vất vả đối với Mâu Văn mà nói không phải là một tính từ, mà là một động từ. Đó là mỗi một đêm cô thức trắng, là mỗi một lần rong ruổi chạy qua chạy lại giữa các công trường, là khi bị người ta ôm tiền bỏ trốn khiến cô suýt chút nữa rơi vào đường cùng…

Về câu chuyện mấy năm qua của Mâu Văn, dường như chỉ cần xem nội dung này là đã đủ rồi. Trong những nội dung này, không hề nhắc tới Tạ Sùng.

Mâu Văn nghiêm túc xem lại mấy lần.

Chính bản thân cô cũng suýt quên mất dáng vẻ trước kia của mình rồi, phim ảnh đúng là thứ tốt, cô nhìn thấy cây cầu vượt thân thuộc và siêu thị Thành Hương quen thuộc trong thước phim, nhìn thấy cô vội vàng bước đi trên đường phố Bắc Kinh, nhìn thấy mình mang nốt mụn nhiệt sưng đỏ ngồi bên vệ đường đêm muộn, nhìn thấy bản thân mỉm cười rạng rỡ và khóc thật đau khổ, cũng nhìn thấy cả một khoảng đèn hoa lung linh rực rỡ kia, nhìn thấy từng nấc thang ngày một tiến bước lên cao, mãi cho đến tận nơi ánh đèn rọi chiếu sáng bừng.

Đoạn cuối của video là cảnh Mâu Văn đứng trên cây cầu vượt đó. Cô mỉm cười đưa ngón tay chỉ xuống dưới chân cầu vượt: Lúc ấy tôi hẹn bạn tôi gặp mặt ở đây, bạn tôi luôn đứng ở đó đợi tôi. Tôi cứ như thế chạy qua đây từ phía kia, chạy tới chỗ này là có thể lập tức nhìn thấy bạn của mình rồi! Tôi khá thích nơi này, tôi còn chưa tốt nghiệp đại học đã dọn đến đây ở rồi, tôi rất may mắn vì có thể sống ở đây, nơi này khiến tôi có cảm giác thanh xuân của mình đang được kéo dài một cách vô hạn.

Ồ đúng rồi. Mâu Văn vỗ tay một cái, căn nhà tôi mới mua đã sửa xong rồi nhé, hoan nghênh mọi người đến công ty của tôi chơi nha!

Mâu Văn xem video này, xem một lần là lại khóc một lần. Cô cũng chẳng rõ mình đang khóc vì điều gì, thước phim đẹp đẽ đến thế, đó chính là một Bắc Kinh đời thực nhất của năm 2010, là một Bắc Kinh luôn tiến về phía trước, là chính cô đang phát triển một cách bừng bừng sức sống. Thế nhưng vì sao, trong lòng cô cũng có sự tiếc nuối chứ? Mâu Văn chẳng thể nói rõ ràng.

Cũng tốt.

Thực sự tốt.

Cô vừa xem vừa gửi lời chào tới Mâu Văn của tuổi 22, tuổi 25, tuổi 28, cuộc sống mới sắp đến rồi.

Tháng sáu, cô và Tạ Sùng đi làm thủ tục ly hôn.

Họ đã mấy tháng rồi không gặp nhau.

Tạ Sùng vẫn giữ bộ dạng cao ngạo như trước, nhưng anh không nói với Mâu Văn bất kỳ lời dư thừa nào. Nhìn anh trông có vẻ gầy đi đôi chút, gương mặt ngày một trở nên lạnh lùng hơn.

Mâu Văn hỏi anh: “Dạo này ổn không?”

Anh nói: “Khá ổn.”

“Tôi cũng khá ổn.” Mâu Văn nói.

“Chúc mừng cô.” Tạ Sùng bỗng nói một câu như thế.

“Cảm ơn.”

Nhân viên công vụ hỏi họ có cần tiến hành hòa giải không, Tạ Sùng nói: “Không cần hòa giải, phiền mọi người làm nhanh chút.”

Nhân viên công vụ lại hỏi: “Hai người đã suy nghĩ kỹ chưa?”

Mâu Văn nói: “Suy nghĩ kỹ rồi. Chưa khi nào kỹ như bây giờ.”

Con dấu lớn đóng xuống dưới không phát ra tiếng động gì, nhưng trong lòng họ đều vang lên một tiếng ầm vang dội, ngay sau đó tựa như một trận mưa rào trút xuống xối xả.

Đến khi họ bước chân ra ngoài, lại nhìn thấy bên ngoài trời quang mây tạnh, ánh nắng chan hòa rực rỡ.

Mâu Văn không vội vã rời đi ngay.

Cô đứng ở đó ngắm hoa cỏ một lát. Cô vốn định đợi Tạ Sùng đi trước, nhưng Tạ Sùng cũng không đi.

Nói một cách chuẩn xác thì anh đi vài bước, rồi lại quay đầu trở lại.

Anh đứng ở nơi đó nhìn Mâu Văn trân trân, nhớ lại năm xưa cô cài chiếc kẹp tóc bị rơi mất một đóa hoa nhỏ.

“Sao thế?” Mâu Văn hỏi.

“Hôm nay có lẽ là lần cuối cùng hai chúng ta gặp nhau rồi.” Tạ Sùng nói: “Mâu Văn, tạm biệt.”

Mâu Văn đã chẳng còn tình yêu với Tạ Sùng, hình như cũng đã chẳng còn hận nữa, nhưng những năm tháng từng thực sự tồn tại không có cách nào xóa nhòa khỏi ký ức của cô được. Cô hiểu Tạ Sùng nói đúng, Bắc Kinh rộng lớn đến thế, rất nhiều người ở chung một khu dân cư còn chẳng mấy khi chạm mặt, huống chi là họ.

“Tạm biệt, Tạ Sùng.”

Lần này Mâu Văn chủ động bước về phía xe của mình trước, lên xe, cô nhìn thấy xe của Tạ Sùng đỗ ngay ở phía đối diện. Còn anh thì đang ngồi trong xe nhìn cô.

Họ cứ như thế nhìn đối phương, cuối cùng là Mâu Văn bấm còi xe trước, chủ động lái xe đi trước.

Một người đi trước, một người đi sau.

Đến khi ra tới đường lớn, một người đi về phía Đông, một người đi về phía Tây.

Cứ như vậy mà quên đi nhau giữa dòng xe cộ ngược xuôi của Bắc Kinh.