Quán Nước Bên Bến Đò Năm Ấy

Chương 9: Giông tố xé toang mái rạ

Ngọn gió bấc buổi xế chiều bỗng dưng tắt phụt, như thể có một bàn tay khổng lồ vô hình vừa bóp nghẹt lấy cổ họng của đất trời.

Bến đò Vạn Cát rơi vào một khoảng lặng kỳ quái, ngột ngạt và bức bối đến rợn người. Dòng sông Hồng đỏ quạch phù sa buổi ban trưa nay bỗng chốc ngả sang một màu chì thẫm, mặt nước phẳng lặng như một tấm gương đồng hoen rỉ nhưng bên dưới dường như đang ngấm ngầm sôi sục. Bầy chim sẻ, chim ri thường ngày vẫn ríu rít sà xuống bãi cát bồi nhặt nhạnh hạt thóc rơi, nay bặt tăm không còn một bóng. Từng đàn quạ đen từ mé rừng ngập mặn phía hạ lưu bay dạt về bờ bắc, cất lên những tiếng kêu thảng thốt, rời rạc xé toang không gian tĩnh mịch.

Dưới mái lán rơm rách nát nép bên triền đốc đá, Thu ngồi trên chiếc ghế đẩu gỗ xoan ngâm mà lòng dạ bồn chồn như có lửa đốt.

Mấy ngày nay, những lời ong tiếng ve từ xóm Mộc lan ra tận bến đò. Người ta xì xào, đàm tiếu rằng cô gái mồ côi bến sông cậy chút nhan sắc để mồi chài anh thương binh con nhà nề nếp, mượn bóng thương tật của Hùng để làm bình phong buôn gian bán lận. Rồi buổi sáng hôm nay, Lê Tiến Bền nghênh ngang vác cuốn sổ kiểm soát bìa xanh đi ngang qua, buông lại một ánh nhìn sắc lẻm như dao cau cùng lời đe nẹt lạnh lùng về việc “thu hồi mặt bằng bến sông để bảo đảm an ninh lương thực tập thể”. Thu không sợ khổ, chẳng sợ đói, nhưng nỗi nhục nhã bị người đời bôi nhọ danh dự và nỗi lo vạ lây đến gia đình Hùng cứ như đá tảng đè nặng lên ngực cô.

Thu đưa những ngón tay gầy guộc, thô ráp vì ngâm nước phù sa miết nhẹ lên mặt chiếc ghế gỗ. Mộng mang cá ghép khít rịt, không một vết đinh sắt, thớ gỗ xoan ngâm mát rượi và nhẵn thín dưới lòng bàn tay. Mảnh giấy học trò mà Hùng giắt dưới gầm ghế mấy hôm trước, cô đã cẩn thận gấp lại bằng đầu ngón tay, bọc trong mảnh ni lông nhỏ xíu rồi nhét vào đáy chiếc túi vải đựng tiền vốn đeo sát bên sườn. Mỗi lần nhớ lại nét chữ nắn nót, rắn rỏi của người lính phục viên, khóe mắt cô lại cay xè, vừa tủi thân lại vừa ấm áp.

“Cô Thu ơi! Nghỉ sớm đi thôi cô nó!”

Tiếng bà cụ Vấn từ dưới lòng thuyền đò vọng lên cắt ngang dòng suy tưởng của Thu. Bà cụ đang hối hả cột chặt dây lòi vào chiếc cọc tre đóng sâu dưới bãi bồi, tấm lưng còng gập xuống đón lấy luồng hơi đất ngai ngái bốc lên từ lòng sông. Miệng bà nhai trầu đỏ quẹt nhưng nét mặt lại căng thẳng đến độ từng nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại vào nhau.

“U Vấn đấy ạ? Sao hôm nay u neo đò sớm thế?” Thu bước ra khỏi mái hiên thấp tè, vội vã cất tiếng hỏi.

Bà cụ Vấn ngửa mặt nhìn lên vòm trời phía tây, nơi rặng núi Ba Vì xa xăm đã hoàn toàn biến mất sau một bức tường mây tím bầm, đen kịt như nồi đồng bám muội hóng. Bà giơ bàn tay gầy như cành củi khô lên quệt mồ hôi trán, giọng run rẩy:

“Trời chuyển giông lốc độc lắm con ơi! Gió bấc đang hanh khô mà trời đổ ngột ngạt, mây đùn từ mé rừng về thế kia là sắp có cuồng phong rồi. Lốc trái mùa giữa tiết đông hàn, dữ dội không kém gì bão tháng bảy đâu! Con thu dọn đồ đạc nhanh lên rồi chạy tọt lên xóm trong mà trú, chớ có nấn ná ở cái doi cát này. Nước sông nó trở mình, nuốt trôi cả bờ đất đấy!”

Nói đoạn, bà cụ Vấn tất tả kéo vạt áo nâu tơi tả, cắm cúi leo ngược con dốc đá dẫn lên đ**m canh đê để tìm chỗ buộc thêm dây chằng chiếc đò gỗ.

Thu giật thót mình. Cô ngẩng đầu nhìn theo hướng tay bà cụ chỉ.

Một cảnh tượng hãi hùng đang mở ra trước mắt. Bầu trời như bị xé làm đôi. Nửa phía đông vẫn còn vương vất chút ánh sáng bàng bạc ảm đạm của buổi chiều đông, nhưng nửa phía tây thì đen đặc như mực tàu, những xoáy mây cuồn cuộn vần vũ, xô đẩy nhau trườn nhanh về phía lòng sông với tốc độ kinh hoàng. Gió vẫn chưa nổi, nhưng trong không khí đã nghe rõ tiếng rền rĩ u u trầm đục từ đằng xa vọng lại, tựa như tiếng muôn ngàn cỗ xe bò bằng sắt đang nghiến qua mặt đá trên đỉnh trời.

“Chết nỗi, đồ đạc của mình!”

Thu hốt hoảng quay ngoắt vào trong chiếc lán.

Cái chòi rơm này vốn chỉ là nơi che mưa che nắng tạm bợ của khách nhỡ độ đò ngày trước, khi cô dựng lại cũng chỉ biết chắp vá bằng mấy thân tre đực còm cõi, mái lợp bằng lá gối hạc và rơm rạ mục nát. Bốn bề lán quây bằng những tấm phên nứa rách bươm, gió mùa thổi qua khe liếp còn run bần bật, làm sao chịu nổi một trận cuồng phong?

Trong lán, tất cả tài sản chắt bóp của cô nằm trơ trọi giữa gian đất nện. Chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách; chiếc ấm tích sứt vòi bọc trong giỏ ủ rơm; hai mươi chiếc bánh đa vừng tráng bằng bột gạo pha sắn vừa nướng chín giòn rụm xếp cẩn thận trong bồ sọt; và quan trọng nhất, chiếc chum sành da lươn đựng gần hai yến mật mía cô vừa gom góp mua chịu được từ thuyền buôn dưới bến hôm qua để chuẩn bị cho những mẻ kẹo lạc bán Tết. Món nợ ba mươi đồng với hợp tác xã vẫn còn nguyên đó, từng giọt mật, từng hạt vừng này chính là bát cơm manh áo, là niềm hy vọng duy nhất để cô ngẩng đầu lên sống làm người lương thiện.

“Không được, phải che chắn lại! Phải giữ lấy chum mật!”

Thu lẩm bẩm một mình, cuống cuồng tìm mấy đoạn dây đay cũ. Nhưng đôi bàn tay con gái run rẩy chưa kịp buộc mối thắt đầu tiên thì mặt đất bỗng rung chuyển.

Một tiếng rít chói tai xé toạc bầu không khí đặc quánh.

Từ phía bờ bên kia sông Hồng, một luồng gió lốc khổng lồ mang theo màu cát vàng bụi mù quét qua mặt nước. Sóng sông đang phẳng lặng bỗng chốc dựng đứng lên thành những ngọn sóng bạc đầu, gầm thét lồng lộn rồi chồm lên bãi cát bồi. Gió thốc tới nhanh như một mũi tên xé gió, hất tung những cành đa khô trên cây cổ thụ rơi lộp độp xuống mái rạ.

Cát bụi và rác rưởi mù mịt quất thẳng vào mặt Thu rát bỏng. Cô không mở nổi mắt, chỉ kịp đưa hai cánh tay khẳng khiu lên che trán, toàn thân bị gió đẩy ngả nghiêng đập mạnh vào cột lán.

“Rắc! Rắc!”

Cây đa cổ thụ bên bến đò oằn mình rên xiết. Những nhánh đa to bằng bắp đùi người lớn bị vặn xoắn kêu răng rắc rồi gãy gục, rơi cắm phầm phập xuống triền cát. Bụi phù sa khô bị cuốn bốc lên trời thành những cột bụi cao ngất ngưởng, quay cuồng điên loạn giữa ngã ba sông.

Và rồi, mưa đổ xuống.

Không phải những giọt mưa phùn dầm dề, rả rích của mùa đông, mà là một trận mưa rào trái mùa xối xả như trút nước từ trên đỉnh trời. Từng hạt mưa to như đầu ngón tay, lạnh buốt như băng tuyết, quất xéo rát rạt qua những nan rạ mỏng manh. Mưa hòa cùng gió xoáy tạo thành một bức rèm nước trắng xóa, mù mịt, nuốt chửng cả bến đò Vạn Cát vào trong một màn nước hung hãn.

Gió giật từng cơn kinh hoàng như muốn bứng cả chiếc lán rơm bay lên không trung. Bốn góc mái rạ bắt đầu rung lắc dữ dội, những sợi rơm mục rã ra, bay lả tả trong gió rít.

“Trời ơi! Đừng sập mà! Đừng sập!”

Thu hét lên giữa tiếng sấm chớp rền vang, nhưng tiếng kêu yếu ớt của cô gái hai mươi ba tuổi lập tức bị tiếng gầm của dòng sông nuốt chửng.

Cô lao mình đến ôm chặt lấy chiếc cột cái bằng thân tre đực ở góc lán. Thân tre cong vút đi dưới sức giật của cuồng phong, rung bần bật như một dây đàn căng hết cỡ sắp đứt. Hai bàn chân trần của Thu cắm chặt xuống nền đất nện, những ngón chân bấm sâu vào bùn đất nhão nhoét. Nước mưa xối thẳng vào mặt, chui vào mắt, vào mũi khiến cô sặc sụa, hơi lạnh ngấm sâu vào da thịt qua manh áo cánh vá vai ướt sũng, lạnh thấu tận tim gan. Nhưng Thu không dám buông tay. Cô ghì cả lồng ngực mảnh dẻ của mình vào thân tre, dùng toàn bộ sức nặng của thân thể nhỏ bé để níu giữ mái lán.

Bởi vì dưới mái lán này là chiếc chum sành đựng mật! Nếu mái lán bay mất, nước mưa xối vào, mẻ mật mía sẽ tan thành nước lã; bánh đa sẽ nhũn nát thành bột sình; bao nhiêu công sức chắt chiu, bao nhiêu hy vọng trả nợ sẽ trôi sạch theo dòng nước lũ!

Nhưng sức người làm sao đọ nổi cơn thịnh nộ của trời đất?

Một luồng gió xoáy bất ngờ đổi hướng, từ phía mặt sông thốc thẳng vào lòng lán. Gió như một chiếc xẻng sắt khổng lồ thọc sâu dưới mái hiên, bẩy ngược toàn bộ mái rơm lên cao.

“Roẹt! Ầm!”

Tiếng tre gãy gập vang lên khô khốc. Tấm mái rạ mục nát bị giật tung lên khỏi bộ khung tre, vỡ vụn thành từng mảng lớn rồi bị cuốn phăng bay mù mịt ra giữa dòng sông Hồng cuồn cuộn sóng dữ.

Chỉ trong chớp mắt, khoảng trời bên trên trống hoác. Màn mưa xối xả không còn gì ngăn trở dội thẳng xuống đầu Thu. Chiếc cột tre cô đang ôm gãy gập làm đôi, đầu tre sắc nhọn quẹt ngang qua bả vai cô, xé toạc lớp vải áo, để lại một vết xước dài rát bỏng. Thu ngã nhào xuống nền đất bùn.

Cùng lúc đó, nước sông Hồng dâng lên với tốc độ đáng sợ.

Mùa đông nước vốn cạn trơ đáy cát, nhưng trận cuồng phong quái ác đã dồn sóng từ hạ lưu ngược về, kết hợp với dòng nước lũ từ thượng nguồn dồn ứ khiến mặt nước dâng cao hơn một mét chỉ sau chốc lát. Những đợt sóng đỏ ngầu phù sa gầm réo chồm qua bãi cát bồi, l**m láp tới tận chân dốc đá rồi tràn ồ ạt vào nền lán.

Nước lạnh buốt ngập đến mắt cá chân, rồi nhanh chóng dâng lên ngang bắp chuối của Thu.

“Chum mật! Chiếc chõng tre!”

Thu lồm cồm bò dậy giữa bùn lầy, hoảng loạn nhìn quanh. Trước mắt cô là một cảnh tượng tan hoang đến xé lòng. Chiếc giá nứa dựng bát đĩa chén sành đã bị gió quật đổ nghiêng ngả, những chiếc bát mộc vẽ hoa lam của mẹ để lại vỡ tan tành, mảnh sành chìm lỉm dưới làn nước đục ngầu. Chiếc chõng tre ọp ẹp bị một đợt sóng dữ nhấc bổng lên, trôi bồng bềnh ra phía mép nước rồi lật úp, cuốn theo chiếc giỏ ủ ấm tích và rổ bánh đa vừng vừa nướng xong. Mấy mẩu bánh đa giòn tan thấm nước phù sa rã ra, nổi lềnh bềnh trên mặt nước rồi biến mất vào bọt sóng đỏ quạch.

“Không! Bánh của tôi! Ấm của mẹ tôi!”

Thu nghẹn ngào thét lên, lội bì bõm đuổi theo chiếc chõng, nhưng dòng nước xiết đẩy cô lùi lại. Nước dâng đến tận đầu gối, lạnh buốt thấu xương như hàng vạn mũi kim châm vào da thịt.Đúng lúc ấy, một tiếng “Bộp! Rắc!” vang lên rợn người ở góc lán còn lại.

Một cây luồng chống đỡ tấm liếp bị gió giật tung, ngã đè thẳng xuống chiếc chum sành da lươn. Sức nặng của thân luồng kết hợp với sức xô của dòng nước lũ đã giáng một đòn chí mạng. Chiếc chum sành dày cộp nứt toác ra một đường dài, rồi vỡ toang thành ba bốn mảnh lớn.

Dòng mật mía màu cánh gián, đặc quánh và thơm lừng—thứ mật mía hoa cau nguyên chất mà cô phải lặn lội đi đong từng bát, tích cóp từng đồng tiền lẻ—chảy tràn ra ngoài. Nhưng nó chưa kịp đọng lại trên mặt đất thì đợt sóng sông Hồng tiếp theo đã ập tới.

Nước phù sa đỏ ngầu cuốn lấy dòng mật ngọt. Màu nâu vàng sánh mịn bị hòa tan trong nháy mắt, chỉ để lại một vệt bọt ngả màu sẫm trên mặt nước lũ rồi cuốn trôi ra lòng sông thăm thẳm.

Thu đứng chôn chân giữa dòng nước lạnh, hai mắt trừng trừng nhìn những mảnh sành vỡ trơ trọi dưới chân.

Mất hết rồi.

Hai yến mật mía... Ba mươi đồng tiền nợ... Những đêm thức trắng bên bếp trấu canh nồi bánh đa... Tất cả chỉ trong chưa đầy một canh giờ đã tan thành bọt nước! Cái nghèo, cái khổ, cái cơ cực của một kiếp người mồ côi dường như chưa đủ cay nghiệt, ông trời nỡ lòng nào cướp đi cả chút hy vọng mọn mằn cuối cùng của cô?

Gió vẫn gầm rú như điên dại. Giông tố mùa đông không hề có dấu hiệu ngơi nghỉ, từng tia chớp tím ngắt rạch ngang bầu trời đen đặc, chiếu rọi thân hình mảnh mai, ướt sũng của Thu đang run rẩy bần bật giữa dòng nước xiết. Mưa quất vào mặt cô rát rạt, hòa cùng những giọt nước mắt mặn chát tuôn trào trên đôi gò má tái mét.

Bỗng nhiên, giữa dòng nước đang cuồn cuộn chảy xiết về phía lòng sông sâu, một vật thể bằng gỗ màu nâu sẫm nhấp nhô trôi qua tầm mắt Thu.

Chiếc ghế đẩu gỗ xoan ngâm!

Đó là chiếc ghế Hùng đã thức trắng đêm đóng tặng cô. Chiếc ghế với những đường mộng mang cá tinh xảo, từng thớ gỗ được bào nhẵn thín bằng tình cảm chở che thầm lặng của người lính phục viên. Chiếc ghế mang theo mảnh giấy hẹn ước: “Cô đừng sợ, cứ yên tâm mở quán. Có tôi ở đây.”

Dòng nước lũ đang kéo chiếc ghế trôi nhanh về phía bờ vực nước sâu, nơi có những xoáy nước ngầm cuộn tròn hung dữ bên cạnh rễ cây đa cổ thụ.

“Anh Hùng... Ghế của anh Hùng!”

Một luồng sinh lực kỳ lạ từ đâu bùng lên xé tan sự đờ đẫn trong tâm trí Thu. Cô không thể mất nó! Cô có thể mất chõng tre, mất chum mật, mất cả quán nước, nhưng chiếc ghế này là nhân phẩm của cô, là niềm tin duy nhất giữ cô không gục ngã trước những lời nguyền rủa cay độc của người đời, là hơi ấm của người đàn ông duy nhất bước vào cuộc đời tăm tối của cô.

Không màng đến dòng nước đang dâng cao ngập đến thắt lưng, Thu lao mình về phía trước.

“Bõm!”

Bàn chân trần của cô bước hụt xuống một hố cát thụt. Thu ngã chúi về phía trước, cả người chìm nghỉm trong làn nước phù sa lạnh ngắt. Vị phù sa tanh nồng và buốt giá tràn vào mồm, vào mũi làm cô ngạt thở. Nhưng bản năng sinh tồn và sự bướng bỉnh sâu kín trong huyết quản đã kéo cô vùng dậy.

Thu trồi lên khỏi mặt nước, ho sặc sụa, mái tóc dài xổ tung bết chặt lấy khuôn mặt tái nhợt. Cô rướn người, dầm mình trong dòng nước chảy xiết, từng bước, từng bước lội về phía xoáy nước.

Nước sông dập dềnh xô đẩy chiếc ghế gỗ ra xa bờ thêm vài thước. Đáy sông ngổn ngang đá sỏi và những cành cây gãy nhọn hoắt bị bão cuốn xuống.

“A!”

Thu thốt lên một tiếng đau đớn. Bàn chân phải của cô dẫm phải một tảng đá tai mèo sắc lẹm chìm dưới đáy bùn, rồi mũi đá cứa một đường sâu hoắm từ mu bàn chân lên mắt cá. Cơn đau nhói buốt khiến cô khuỵu gối xuống. Cô vội vã vươn tay bấu lấy gờ cát ngầm để giữ thăng bằng, nhưng bàn tay gầy guộc lại cào phải những mảnh sành vỡ trôi dạt. Mảnh sành cứa rách lòng bàn tay cô, máu tươi ứa ra, đỏ tươi một vệt rồi lập tức bị dòng nước mưa buốt giá gột sạch.

Vết thương đau đớn đến rùng mình, lạnh buốt đến tận tủy xương, nhưng Thu cắn chặt môi đến mức bật máu, không hề dừng lại. Cô rướn cả nửa thân trên về phía trước, cánh tay run rẩy vươn dài ra giữa không trung.

Những đầu ngón tay tứa máu của cô vừa vặn chạm vào mép gỗ xoan ngâm.

Thu chộp chặt lấy thanh giằng của chiếc ghế. Dòng nước xiết giằng co dữ dội, như một con thú đói mồi muốn giật phăng vật thể ấy khỏi tay cô. Thu nghiến răng trét bùn, dùng cả hai tay ôm ghì lấy chiếc ghế vào lồng ngực, dồn hết chút sức tàn còn lại lùi từng bước một, vừa lùi vừa bò ngược lên bãi đất bồi cao hơn.

Từng tấc đất dưới chân nhầy nhụa bùn non. Nước mưa vẫn quất xối xả xuống lưng, gió vẫn rít gào bên tai những âm thanh ma quái.

Khi đôi bàn chân đầy máu của Thu chạm được vào nền đất đá của chân dốc đê, cô không còn chút sức lực nào nữa. Toàn thân cô run lên từng chặp, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng kêu lách cách khô khốc.

Thu ngã quỵ xuống lớp bùn lầy nhầy bên dưới gốc đa cổ thụ.

Trước mắt cô, chiếc lán rơm rách nát—chốn nương thân duy nhất, quán nước nuôi dưỡng bao giấc mơ đổi đời—đã hoàn toàn biến mất.

Chỉ sau một giờ đồng hồ giông bão hoành hành, nơi từng nghi ngút khói bếp mùn cưa thơm nồng mùi gừng tươi và mật mía nay chỉ còn là một bãi bình địa tan hoang, tiêu điều đến rợn ngợp. Những cột tre gãy đôi gãy ba cắm trơ trọi giữa bùn; những mảnh phên nứa rách tả tơi quấn vào rễ đa; mặt đất phủ đầy cát bồi, lá cây rụng và mảnh sành vỡ. Dòng sông Hồng đỏ ngầu vẫn đang cuồn cuộn vỗ từng đợt sóng dữ vào bờ, như muốn nuốt chửng nốt những tàn tích cuối cùng của sự nghèo khổ.

Mọi thứ đã mất sạch.

Chiếc bếp than hoa bị vùi lấp. Chiếc chõng tre trôi mất tăm. Mấy chục đồng vốn liếng, mồ hôi nước mắt của cả một mùa đông rét mướt gom góp từng cắc bạc lẻ đã biến thành tro bụi, thành bùn lầy. Ngày mai lấy gì để trả nợ? Lấy gì để ăn qua những ngày giáp hạt đói kém? Lấy gì để đối mặt với những lời hạch sách, mỉa mai của Lê Tiến Bền và ban quản trị hợp tác xã?

Uất ức, tuyệt vọng, cay đắng và cô độc dồn ứ lại trong lồng ngực, rồi vỡ òa ra thành những tiếng khóc nấc nghẹn ngào.

Thu ngồi co quắp giữa vũng bùn lầy, hai cánh tay rách rưới ôm chặt chiếc ghế gỗ xoan ngâm vào lòng. Mặt chiếc ghế bị va đập vào đá ngầm đã sứt mẻ một góc, dính đầy bùn non tanh ngắt. Cô áp khuôn mặt lạnh ngắt, ướt đẫm nước mắt của mình lên mặt gỗ nhẵn thín. Mùi gỗ xoan ngâm thoang thoảng quyện với mùi bùn sông nồng nặc là hơi ấm duy nhất còn sót lại giữa cái thế giới buốt giá, tàn nhẫn này.

“Cha ơi... Mẹ ơi... Sao số con khổ thế này...”

Thu nấc lên từng hồi, tiếng khóc hòa vào tiếng mưa gầm và tiếng gió rít. Cô gái nhỏ bé đơn độc co ro như một con chim non ướt cánh bị rớt xuống bùn lầy sau cơn bão, không tổ ấm, không nơi che chở, chung quanh chỉ có bóng đêm đen đặc quánh lại như một nấm mồ khổng lồ nuốt chửng lấy thân phận bèo bọt của cô.

Trời đất tối sầm lại. Màn đêm buông xuống bến Vạn Cát nhanh hơn thường lệ, một màn đêm đen kịt không trăng, không sao, chỉ thỉnh thoảng bị xé toạc bởi những tia chớp ngoằn ngoèo rạch ngang bầu trời, để lộ ra khoảng sông nước mênh mông, hung hãn và bóng người con gái đang run rẩy gục đầu trong bùn đất.

Gió vẫn không ngừng gầm thét, nước sông vẫn không ngừng réo sôi. Mọi hy vọng dường như đã lịm tắt dưới đáy sâu của dòng phù sa mùa đông buốt giá.

Bất chợt, từ phía đỉnh dốc đá ngoằn ngoèo dẫn xuống bến đò, một đốm sáng màu vàng cam leo lét bỗng le lói xuyên qua màn mưa dày đặc.

Đó là ánh sáng của một chiếc đèn bão.

Đốm sáng ấy chao đảo dữ dội theo từng cơn gió giật, chập chờn khi mờ khi tỏ, nhưng kiên định lao thẳng xuống dốc bùn trơn trượt. Đi cùng với ánh sáng bập bùng ấy là tiếng th* d*c nặng nhọc, tiếng gậy tre đâm phầm phập vào mặt đất lầy nhầy và tiếng bước chân tập tễnh, bì bõm lội nước gấp gáp đến điên cuồng.

Ánh đèn quét qua rặng tre gãy đổ, rọi thẳng vào bóng dáng nhỏ bé đang co ro dưới gốc đa.

Một tiếng gọi nghẹn ngào, run rẩy vì kinh hoàng và đau đớn, xé toạc cả màn mưa gió rít gào bên tai Thu:

“Thu ơi! Em có làm sao không?!”

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn