Tiếng gọi quen thuộc mà xé lòng ấy vừa dứt, chiếc đèn bão đã dập dềnh hạ sát xuống mặt bùn.
Ánh sáng vàng vọt hắt lên một khuôn mặt đầm đìa nước mưa, đôi mắt ngập tràn hoảng hốt và hơi thở gấp gáp đứt quãng. Là Đặng Văn Hùng. Anh chống chiếc gậy tre gắt gao xuống lớp phù sa nhầy nhụa, bước chân khập khiễng lao tới nhanh đến mức suýt chút nữa ngã chúi về phía trước. Chiếc gậy tre cắm phập vào nền đất đá vụn, Hùng vứt phăng nó sang một bên, bất chấp cái khớp gối bên chân thương tật đang co giật dữ dội vì cọ xát với giá lạnh, quỳ sụp xuống bên cạnh Thu.
“Thu! Em có sao không? Bị thương ở đâu, nói anh nghe!”
Giọng Hùng khản đặc, lạc đi giữa tiếng mưa rào rạt. Bàn tay thô ráp đầy vết chai của anh run rẩy chạm vào đôi vai đang run bắn của cô. Thu ngước lên, đôi mắt mờ nhạt vì nước mắt và nước mưa bỗng chốc nhìn rõ khuôn mặt góc cạnh, ướt sũng của người đàn ông. Anh chỉ phong phanh một chiếc áo sơ mi lính bạc màu bên trong chiếc áo trấn thủ chần bông màu cỏ úa. Gió sông quất từng luồng lạnh buốt thấu xương, thế nhưng khi bàn tay ấm nóng của Hùng áp vào má cô, Thu ngỡ như vừa chạm vào ngọn lửa ấm le lói giữa đêm đông hoang tàn.
“Anh Hùng... Mất hết rồi...” Thu nấc nghẹn, từng tiếng bật ra hòa cùng tiếng răng va vào nhau cầm cập. “Quán sập rồi... Chum mật trôi hết... Bát đĩa của mẹ em... vỡ sạch rồi...”
Cô như một đứa trẻ lạc lõng giữa bão giông bỗng tìm thấy người thân, mọi sự kiên cường gồng gánh bấy lâu nay bỗng chốc vỡ òa thành những tiếng khóc thảm thiết. Hai cánh tay trầy da tróc vảy, rách toạc rỉ máu vẫn ôm ghì lấy chiếc ghế đẩu gỗ xoan ngâm trước ngực, như thể đó là mảnh ván cứu sinh duy nhất níu giữ linh hồn cô lại với cõi đời.
Ánh đèn bão quét qua người Thu, rọi vào bả vai áo rách bươm, rọi xuống bàn chân trắng bệch tứa máu và chiếc ghế sứt sẹo dính đầy bùn non tanh nồng. Hùng sững sờ. Lồng ngực anh thắt lại một cơn đau buốt buốt còn dữ dội hơn cả vết thương bom đạn nơi chiến trường năm xưa. Anh hiểu ra ngay. Cô gái dại dột này, trong khoảnh khắc cuồng phong cuốn phăng tất cả, đã liều mạng lao xuống dòng nước xoáy chỉ để vớt lại khúc gỗ do chính tay anh đẽo gọt.
“Ngốc lắm... Sao em dại dột thế này hở Thu!”
Hùng gầm nhẹ trong cổ họng, giọng nghẹn lại vì xót xa khôn xiết. Anh không nói thêm lời nào, nhanh thoăn thoắt cởi ngay chiếc áo trấn thủ chần bông vẫn còn vương hơi ấm nồng nàn từ lồng ngực mình ra. Chiếc áo dạ lính dày dặn trùm kín lấy tấm thân mảnh dẻ, ướt sũng của Thu. Hơi ấm quen thuộc, thơm mùi nắng cũ và mồ hôi phong trần bao bọc lấy da thịt đang lạnh cóng của cô, xua tan đi phần nào cái buốt giá cắt da cắt thịt.
Hùng nhẹ nhàng gỡ những ngón tay cứng đờ của Thu ra khỏi then giằng chiếc ghế, rồi đỡ cô dựa hẳn vào lòng mình. Đôi bờ vai vững chãi của người lính che chắn trọn vẹn ngọn gió thốc từ lòng sông Hồng lên.
“Đừng sợ, có anh ở đây rồi. Người còn thì của còn. Về chòi của cụ Vấn đã, chân tay em chảy nhiều máu quá!”
Hùng nhặt chiếc đèn bão cài vào một nhánh rễ đa, sau đó luồn tay qua khoeo chân và lưng Thu, nghiến răng dồn lực bế bổng cô lên. Bàn chân cà nhắc của anh lún sâu vào lớp bùn ngập đến mắt cá, khớp xương kêu lên những tiếng khô khốc dưới sức nặng của hai người, nhưng từng bước đi của Hùng vẫn chắc như đinh đóng cột. Anh cắp chặt chiếc ghế gỗ sứt mẻ bên nách còn lại, lầm lũi ngược dốc đá, đưa cô về phía chiếc thuyền chài kiên cố của bà cụ Vấn đang neo sát chân đê.
Đêm ấy, trong khoang thuyền ấm áp thơm mùi khói trấu và dầu gió, bà cụ Vấn vừa rỏ nước mắt vừa dùng rượu gừng rửa sạch bùn cát trên các vết rách nơi bàn chân, bờ vai cho Thu. Hùng ngồi ngoài mui thuyền, cắn răng dùng giẻ lau sạch từng thớ gỗ xoan ngâm, đôi mắt trầm ngâm nhìn về phía bãi cát bồi hoang tàn trong màn mưa mịt mùng. Bão giông có thể xé toạc mái rạ, nhưng không thể dập tắt được ngọn lửa đang âm ỉ cháy trong lòng người thợ mộc.
*
Rạng sáng hôm sau, mưa ngớt hạt, mây đen dần tản ra nhường chỗ cho khoảng trời mùa đông xám nhạt và bàng bạc hơi sương. Mặt sông Hồng phẳng lặng hơn, chỉ còn những gợn sóng đỏ ngầu phù sa vỗ nhè nhẹ vào bãi bồi ven chân đê.
Thu tỉnh dậy khi trời vừa tờ mờ đất. Vết thương ở chân và bả vai nhức nhối, nhưng sự xót xa cho quán nước khiến cô không thể nằm yên. Khoác chiếc áo chần bông của Hùng, Thu chống một cành tre gãy, tập tễnh bước ra mũi thuyền.
Cảnh tượng trước mắt khiến tim cô thắt lại. Bến Vạn Cát sau trận bão xơ xác đến thê lương. Dấu tích của căn lán tranh ấm cúng nay chỉ là một bãi đất lồi lõm phủ đầy bùn nhão, vài mảnh nứa vụn và những cọng rơm ướt sũng quấn chặt lấy gốc đa già trơ trọi. Trắng tay. Không còn một manh chiếu rách, không còn một cái bát lành. Món nợ ba mươi đồng với hợp tác xã bỗng chốc biến thành tảng đá ngàn cân đè nặng lên buồng phổi cô gái mồ côi.
Bỗng nhiên, từ con đường đất đỏ trên mặt đê truyền xuống những âm thanh lộc cộc quen thuộc.
Tiếng bánh xe gỗ nghiến trên sỏi đá, tiếng lách cách của đồ nghề thợ mộc va vào nhau, và cả tiếng cười nói giòn tan xua tan bầu không khí ảm đạm. Thu ngơ ngác ngẩng đầu nhìn lên.
Qua làn sương mỏng, một chiếc xe bò kéo chất đầy những thân tre luồng già óng ả, những súc gỗ xoan ngâm vỏ nâu xám bóng loáng đang chầm chậm lăn bánh xuống dốc bến đò. Đi trước kéo chão là bác Thược “thợ rèn” với thân hình vạm vỡ như tượng đồng, chiếc áo cộc tay phanh ngực đỏ au màu than lửa. Đẩy hai bên càng xe là Đặng Thị Thắm trong chiếc áo nâu sòng buộc túm vạt, mồ hôi lấm tấm trên trán nhưng đôi mắt sáng ngời.
Và người đi sau cùng, một tay giữ lấy súc gỗ nặng, một tay chống gậy tre thoăn thoắt bước đi, chính là Hùng. Trên vai anh khoác một túi vải bạt đựng đầy đục, cưa, bào và dây mực.
“Kìa! Con bé Thu dậy rồi đấy à!” Bác Thược cất giọng hào sảng, tiếng cười vang cả khúc sông vắng. “Bão gió làm trôi cái lều vịt thì ta dựng cái chòi voi! Việc quái gì mà phải ủ rũ thế hở cháu!”
“Chị Thu ơi!” Thắm buông càng xe, thoăn thoắt chạy bổ xuống bến, ôm chầm lấy Thu. Đôi bàn tay mát rượi của cô gái xoa xoa lưng Thu, vừa thương xót vừa trách móc: “Tối qua anh Hùng về bảo chị bị bão đánh sập quán, chân tay rách hết, em sợ thắt cả ruột! Thầy em cấm không cho ra, sáng nay bác Thược sang gõ cửa ầm ĩ, bảo thằng Hùng làm việc nghĩa thì nhà họ Đặng không được hèn, thế là thầy em đành phải im đấy!”
Thu sững sờ nhìn chiếc xe bò đầy ắp vật liệu đang dừng lại dưới bóng râm của cây đa cổ thụ. Hùng bước tới, mái tóc còn vương những sợi dăm bào khô từ đêm qua. Anh nhìn gương mặt nhợt nhạt của cô, ánh mắt dịu lại, chứa chan sự che chở thầm lặng:
“Chân em đỡ buốt chưa? Ra thuyền ngồi nghỉ đi, mặc ấm vào. Việc ở đây, để anh và mọi người lo.”
“Nhưng mà anh Hùng... bác Thược...” Thu nghẹn ngào, nhìn đống gỗ luồng quý giá, “cháu... em lấy đâu ra tiền mà trả tiền gỗ, tiền tre...”
“Rõ chán cái con bé này!” Bác Thược quệt mồ hôi trán, xua tay cười lớn. “Gỗ xoan này là thằng Hùng nó lặn lội xuống chuồng trâu vớt từ đáy ao lên từ nửa đêm qua, ngâm ba năm nước vôi rồi, mọt có cắn gãy răng cũng chẳng thủng! Còn đống tre luồng này là của xóm Mộc góp lại, tao thì tài trợ mấy cân đinh đỉa với bộ bản lề rèn từ thép nhíp xe reo. Tiền nong cái gì lúc này! Làng này chưa đến mức thấy người hoạn nạn mà trơ mắt ếch ra nhìn!”
Từ phía bến đò, chiếc thuyền của cụ Vấn cũng cập bờ. Bà con xóm chài, mấy bác thợ đò đi chuyến sớm nghe tin quán nước của Thu bị bão đánh sập cũng lục tục kéo đến. Người vác theo bó rơm nếp khô thơm nức còn giữ trên gác bếp, người mang theo cuộn dây mây rừng dẻo dai, người cầm cái xẻng, cái cuốc.
“Con bé hiền lành, nấu bát nước chè gừng thơm ấm lòng người qua sông, trời chẳng phụ đâu con ạ!” Cụ Vấn bỏm bẻm nhai trầu, chống chiếc sào đò đứng trên bờ cát, nheo mắt cười đôn hậu. “Dựng lại! Phải dựng cho nó đàng hoàng, cho cái đứa nào muốn đuổi con đi phải sáng mắt ra!”
Dưới sự chỉ huy của Hùng, không khí bến Vạn Cát bỗng chốc náo nức như một ngày hội lao động. Không còn vẻ ảm đạm của cảnh hoang tàn sau bão, chỉ còn tiếng bước chân rộn rã, tiếng hò reo san lấp mặt bằng. Cánh thợ đò khỏe mạnh cùng bác Thược dùng xẻng xúc phù sa, dọn sạch đống gạch vụn và rơm nát, đắp nền đất cao hơn mép nước mùa lũ cũ đến ba gang tay, nện chặt bằng những vồ gỗ nặng trịch.
Ở góc bóng đa, Hùng bắt đầu thể hiện ngón nghề mộc trứ danh của dòng họ Đặng.
Anh cởi phăng chiếc áo bông cũ, chỉ mặc chiếc áo lót bộ đội bạc màu, để lộ lồng ngực vạm vỡ và bờ vai cuồn cuộn gân guốc. Mặc cho bước chân tập tễnh, Hùng thoăn thoắt búng dây mực đen nhánh lên những thân gỗ xoan ngâm thẳng tắp. Đôi mắt anh chăm chú, sắc lẹm, không một chi tiết thừa. Từng nhát cưa xoèn xoẹt ngọt xớt, từng đường đục gỗ vang lên những tiếng “cốc... cốc... chát...” đanh gọn, dứt khoát.
Thu ngồi trên mũi thuyền, ngắm nhìn Hùng say sưa làm việc mà tim đập rộn ràng. Đây không còn là người đàn ông trầm mặc, lầm lũi với bước chân tật nguyền gánh chịu những ánh nhìn thương hại của dân làng. Trước mắt cô là một người nghệ nhân thực thụ, đường hoàng, tự tin và ngập tràn sức sống.
Bí quyết đóng mộng của nhà họ Đặng dần hiện rõ dưới bàn tay khéo léo của anh. Thay vì dùng đinh sắt dễ bị rỉ sét trước gió mưa sông Hồng, Hùng dùng kỹ thuật ghép “mộng mang cá” và “mộng én” cổ truyền. Bốn cột cái bằng gỗ xoan ngâm được đục lỗ mộng chính xác đến từng li, ăn khớp hoàn hảo với các thanh xà ngang, xà dọc. Từng chiếc chốt then bằng gỗ lim già được vót nhọn, đóng ngập vào các khớp nối, giữ cho bộ khung giằng chặt vào nhau thành một khối vững chãi như bàn thạch.“Nhìn thằng Hùng nó đục mộng kìa!” Một bác thợ đò tấm tắc khen. “Khéo tay y hệt cụ Đặng ngày xưa. Mộng này thì bão cấp mười thổi qua cũng chỉ rung rinh chứ làm sao mà bứng nổi!”
Đến trưa, bộ khung chòi gỗ bốn cột vững chãi đã được dựng ngay ngắn trên nền đất mới đắp, nép mình kiên cố dưới vòm rễ phụ của cây đa cổ thụ. Những thanh xà luồng gác lên đòn tay rui mè đều tăm tắp. Thắm cùng cánh phụ nữ thoăn thoắt đan những tấm phên nứa dày dặn, lợp lên trên ba lớp rơm nếp dày cộm, vàng óng, được chằng néo bằng dây mây cẩn thận. Mái chòi vươn dài ra phía trước, tạo thành một khoảng hiên rộng rãi đủ che mưa hắt, nắng xiên cho cả chục người khách bộ hành.
Nhưng Hùng vẫn chưa dừng lại ở đó.
Trong lúc mọi người đang buộc nốt những nút lạt cuối cùng trên mái rạ, anh lôi từ trên xe bò xuống bốn tấm ván gỗ xoan đào dày dặn và mấy thanh gỗ vuông đã được cưa sẵn từ đêm qua. Anh ngồi bệt xuống đống dăm bào thơm nồng mùi nhựa mới, mồ hôi ròng ròng chảy dài bên thái dương, cặm cụi bào nhẵn từng thớ gỗ. Chiếc bào gỗ lướt đi êm ru, cuộn lên những lớp phoi mỏng tang như cánh ve sầu.
Hùng đang đóng một bộ bàn ghế mới.
Không còn là chiếc ghế đẩu con đơn độc chông chênh, lần này là một chiếc bàn gỗ mộc hình chữ nhật bốn chân vững chãi, cùng hai chiếc ghế băng dài ghép mộng khít khao, không hở một sợi tóc. Mặt bàn được anh dùng giấy ráp đánh bóng mịn màng, làm nổi rõ những đường vân gỗ xoan đào uốn lượn như sóng nước sông Hồng.
Khi chiếc chốt nêm cuối cùng được gõ gọn gàng vào chân bàn, Hùng cùng bác Thược khiêng bộ bàn ghế đặt ngay ngắn vào chính giữa lòng chòi gỗ mới.
Khoảnh khắc ấy, cả bến đò như bừng sáng lên.
Nơi đây không còn là chiếc lán rơm rách nát, tạm bợ, xiêu vẹo của một cô gái mồ côi đơn độc bên rìa làng nữa. Dưới bóng râm của cây đa ngàn năm tuổi, một gian nhà dừng chân bằng gỗ mộc bề thế, kiên cố và ấm áp đã sừng sững mọc lên. Mùi rơm nếp mới thơm dịu quyện với mùi ngai ngái, nồng ấm của gỗ xoan ngâm và tre tươi tạo nên một không gian bình yên, chở che đến lạ kỳ.
Thu đứng chôn chân nơi ngưỡng cửa chòi mới, nước mắt lại một lần nữa trào ra, nhưng lần này là những giọt nước mắt nghẹn ngào của niềm hạnh phúc khôn tả. Cô đưa bàn tay hãy còn quấn dải vải trắng xoa nhẹ lên mặt bàn gỗ mịn màng. Trên góc bàn, một góc khuyết nhỏ được Hùng cố ý đẽo gọt uốn lượn hình cánh hoa mềm mại, vừa khéo nhắc lại vết sứt của chiếc ghế con đêm giông bão, như một minh chứng cho sự kiên cường vượt qua nghịch cảnh.
“Chị Thu ơi, mau nhóm lửa đi thôi!” Thắm cười tươi rói, chìa ra một chiếc ấm tích bằng đất nung mới toanh cùng một bọc lá chè tươi xanh ngắt. “Bác Thược mang cho chị cái kiềng sắt ba chân mới rèn đấy, còn ấm tích này là cụ Vấn cho chị mượn để đun nước!”
“Phải đấy, cô Thu!” Bác Thược đập đập tay vào cột gỗ, cười vang: “Khai trương chòi mới đi chứ! Làm ấm nước chè cho cánh già này ấm bụng xem nào!”
“Dạ... Dạ, cháu làm ngay đây ạ!”
Thu quệt vội giọt nước mắt trên má, nụ cười rạng rỡ nở bừng trên khuôn mặt thanh tú lấm lem sương gió. Bàn chân còn tập tễnh nhưng bước đi của cô đã nhẹ nhõm, thoăn thoắt hơn bao giờ hết. Cô gom những mẩu dăm bào xoan ngâm khô ráo mà Hùng vừa bào ra, xếp cẩn thận vào chiếc kiềng sắt ba chân kiên cố đặt ở góc chòi.
Bật que diêm, ngọn lửa vàng cam bùng lên l**m láp những thớ gỗ mỏng, tỏa ra một làn khói trắng mỏng manh, thơm nồng mùi tinh dầu mộc. Thu đặt lên bếp chiếc ấm tích đầy ắp nước giếng khơi trong vắt. Cô nhanh tay rửa sạch nắm chè xanh bến đò, vò nhẹ cho giập lá, rồi thả vào đó vài lát gừng già nướng chín vàng ươm được giã giập.
Chẳng mấy chốc, tiếng nước reo sôi “ục ục” vui tai đã vang lên trong chòi mới. Mùi chè tươi chát ngọt quyện với vị cay nồng, ấm sực của gừng già lan tỏa khắp không gian, xua tan đi toàn bộ hơi lạnh ẩm ướt của trận cuồng phong đêm qua.
Thu cẩn thận rót nước ra từng chiếc bát sành da lươn. Dòng nước chè xanh ngắt, sóng sánh khói nghi ngút, thơm lừng.
“Cháu mời cụ Vấn ạ. Cháu mời bác Thược, mời các bác thợ đò...”
Thu bưng từng bát nước nóng hổi bằng cả hai tay, kính cẩn trao cho những con người lam lũ đã giang rộng vòng tay che chở cho mình. Mọi người ngồi quây quần bên chiếc bàn gỗ mới, nhấp từng ngụm nước ấm nồng, tấm tắc khen ngợi. Tiếng cười nói rộn rã làm bừng sáng cả một khúc sông lạnh giá.
Cuối cùng, Thu bưng bát nước chè đầy nhất, sóng sánh sắc xanh biếc của lá non và vàng óng của gừng tươi, bước về phía Hùng. Anh đang đứng tựa lưng vào cây cột cái bằng gỗ xoan, lặng lẽ ngắm nhìn khung cảnh ấm cúng trước mắt. Bàn tay anh vẫn còn dính đầy bụi gỗ và những vết trầy xước nhỏ.
“Anh Hùng... anh uống bát nước cho ấm dạ.” Thu khẽ cất tiếng, giọng run rẩy ngập ngừng.
Hùng quay lại. Bốn mắt nhìn nhau.
Giữa làn khói nước mờ ảo bốc lên từ chiếc bát sành, ánh mắt thâm trầm, kiên định của người lính chạm vào đôi mắt đen láy, đong đầy ân tình và sự thấu cảm của cô gái mồ côi. Không cần một lời hẹn ước hoa mỹ, không cần những lời thề thốt đầu môi, trong khoảnh khắc ấy, cả hai đều hiểu rằng số phận của họ đã gắn chặt vào nhau như những mối mộng gỗ xoan ngâm kia—dù bão giông cuộc đời có vùi dập đến đâu, cũng nguyện cùng nhau đồng cam cộng khổ, không rời nửa bước.
Hùng đưa đôi bàn tay thô ráp đón lấy chiếc bát. Ngón tay anh khẽ chạm vào những đầu ngón tay mềm mại của Thu. Một luồng điện ấm áp chạy dọc sống lưng, khiến hai má Thu ửng hồng như ráng chiều mùa hạ.
“Nước thơm lắm.” Hùng nhấp một ngụm, giọng trầm ấm vang lên bên tai cô: “Từ nay, em không phải sợ bão nữa. Có chòi gỗ này, có mọi người, và có anh che chở cho em.”
Thu cúi đầu, cắn nhẹ bờ môi, nụ cười rạng rỡ và dịu dàng như hoa bưởi đầu mùa nở bừng trên gương mặt. Bao uất ức, bao nhọc nhằn của những ngày tháng qua bỗng chốc tan biến như bọt nước phù sa.
Thế nhưng, niềm hạnh phúc bình dị ấy vừa chớm nở thì một âm thanh chói tai bỗng xé toạc bầu không khí ấm áp nơi bến đò.
“Tuuuu... uýt! Tuuuu... uýt!”
Tiếng còi đồng rít lên từng hồi sắc lạnh, dồn dập từ trên mặt đê dội xuống.
Cả quán nước bỗng chốc lặng phắt. Tiếng cười nói im bặt. Cụ Vấn đặt bát nước xuống mặt bàn cái “cạch”, đôi mày bạc cau lại. Bác Thược đứng phắt dậy, bàn tay vạm vỡ siết chặt lấy chiếc búa rèn bên hông.
Từ trên con dốc đá dẫn xuống bến sông, một toán người đằng đằng sát khí đang rầm rập rảo bước xuống. Đi đầu là Lê Tiến Bền, Đội phó Kiểm soát. Hắn mặc chiếc áo dạ cũ cài kín cổ, chiếc mũ cối sùm sụp trên trán, cặp nách cuốn sổ kiểm tra bìa xanh quen thuộc. Theo sau hắn là bốn trật tự viên xã viên đeo băng đỏ ở cánh tay, người lăm lăm gậy gộc, người mang theo xà beng và dây thừng to bản.
Khuôn mặt gầy quắt của Bền đanh lại, đôi mắt ti hí đảo quanh quét qua ngôi chòi gỗ mới dựng bề thế, rồi dừng lại trên người Thu và Hùng với ánh nhìn hằn học, cay độc đến rợn người.
Hắn bước thẳng tới trước cửa chòi, đứng chắn ngang lối đi, hất hàm rút từ trong cuốn sổ xanh ra một tờ giấy có đóng dấu đỏ chót, giơ cao lên giữa không trung. Bằng cái giọng the thé, kẻ cả và đầy nộ khí, Bền dằn từng tiếng quát lớn:
“Ai cho phép các người tự tiện cưa xẻ gỗ lạt, ngang nhiên xây dựng công trình trái phép trên hành lang bảo vệ đê điều và đất bến bãi của hợp tác xã thế này hả?! Toàn bộ trật tự viên nghe lệnh: Lập biên bản cưỡng chế, giật sập ngay cái chòi buôn lậu này cho tôi!”