Lời quát của Lê Tiến Bền vừa dứt, không khí dưới tán đa bến Vạn Cát lập tức đông cứng lại như mặt sông Hồng gặp cữ rét đậm. Bốn gã trật tự viên xã đeo băng đỏ lăm lăm xà beng và thừng chão to bản hùng hổ sấn lên, mũi giày giẫm huỳnh huỵch trên dốc đá còn trơn trượt bùn non sau bão.
“Khoan đã!”
Một tiếng thét rền vang như sấm lệnh xé toạc màn sương ẩm. Bác Thược thợ rèn vung chiếc búa tạ nặng trịch đặt cái “choàng” xuống mặt đống đá hộc ven bờ, tia lửa tóe ra sáng lòa. b* ng*c trần đỏ au màu than lửa của người thợ rèn phập phồng giận dữ, hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc giang rộng chắn ngang lối đi duy nhất dẫn vào chòi:
“Lê Tiến Bền! Mày mở to mắt ra mà nhìn xem đây là cái gì! Đêm qua bão giật đứt dây neo, cả vạt bờ lở sụt, nếu không có cái chòi này làm chỗ cột chão kéo thuyền và đón bà con xóm chài lên lánh nạn thì sáng nay mày đã phải vớt xác người dưới đáy sông chứ chẳng ngồi đấy mà vung vít giấy tờ!”
Cùng lúc ấy, tiếng mái chèo gỗ va lách cách vang lên từ mép nước. Cụ Vấn chống cây sào tre đứng sừng sững trên mũi con thuyền nan, đôi mắt tinh anh rực lửa nhìn thẳng vào đám trật tự viên. Phía sau cụ, gần chục bác lái đò và thợ chài da dẻ ngăm đen, mình mẩy ướt sũng bùn đất đồng loạt vác đòn gánh, mái giầm bước lên bờ. Họ lẳng lặng tản ra, đứng ken đặc thành một bức tường người vững chãi trước hiên chòi gỗ.
“Chú Bền à,” cụ Vấn nhổ bãi tăm trầu đỏ thắm xuống mép nước, giọng trầm tĩnh nhưng uy nghiêm đến lạnh gáy: “Cái bến sông này chở che cho dân làng Yên Sa từ đời cụ kỵ nhà chú. Mấy chục năm đánh giặc, bom rơi đạn nổ, bến đò chưa từng từ chối một ai lỡ bước. Đêm qua lán rách bị bão quét bay, dân xóm chài chúng tôi chung tay cùng thằng Hùng, bác Thược dựng tạm cái mái hiên gỗ này làm trạm cứu hộ khẩn cấp mùa bão lũ, phòng khi nước lũ dâng còn có chỗ mà trực đò cứu người. Thằng Bền mày muốn giật sập, thì bước qua cái sào đò của lão già này trước đã!”
Đám trật tự viên nhìn thấy thế trận của xóm chài và chiếc búa rèn của bác Thược thì chột dạ, chân nọ đá chân kia, bất giác dạt lùi lại phía sau.
Lê Tiến Bền tái mét mặt, chiếc cặp da kẹp nách run lên bần bật. Hắn nhìn sang Hùng. Người lính phục viên vẫn đứng tựa lưng vào cột cái bằng gỗ xoan, hai bàn tay buông thõng nhưng đôi mắt thâm trầm sắc như mũi lê chiến hào đang găm chặt vào từng cử động của hắn. Không một lời đe dọa, không một cử chỉ thừa, nhưng cái tư thế hiên ngang không hề lùi bước của một người từng trải qua lằn ranh sinh tử nơi chiến trường Tây Nam khiến gã đội phó kiểm soát cảm thấy ngột ngạt đến nghẹt thở.
Hùng khẽ nhếch môi, cất giọng bình thản nhưng đanh thép:
“Đồng chí Bền. Trạm đê điều quy định hành lang an toàn mùa mưa bão, nhưng điều lệ hợp tác xã cũng ghi rõ: trong tình huống thiên tai khẩn cấp, mọi cơ sở vật chất tạm thời phục vụ tính mạng xã viên đều được ưu tiên bảo toàn. Giấy lệnh của đồng chí ký từ tuần trước, không áp dụng cho công trình cứu nạn đêm qua. Nếu đồng chí nhất quyết đòi phá dỡ nơi tránh trú của bà con, tôi xin phép cùng cụ Vấn và các bác thợ đò lên thẳng ủy ban huyện trình bày về hành vi cản trở cứu nạn của đội kiểm soát.”
Tiếng xì xào phẫn nộ của đám đông vây quanh bờ đê bắt đầu nổi lên như ong vỡ tổ. Có người buông tiếng chửi đổng: “Đêm hôm bão gió trốn trong chăn ấm, sáng ra đi hạch sách người cứu trợ!”, “Rõ đồ sâu mọt cửa quyền!”.
Nhận thấy tình thế bất lợi, dân tình lại đang sục sôi uất ức sau đêm bão dữ, Lê Tiến Bền nghiến răng trèo trẹo. Hắn hung hăng gập mạnh cuốn sổ bìa xanh, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt Hùng rồi quét qua Thu – người nãy giờ vẫn im lặng nép sau lưng Hùng nhưng ánh mắt không hề lộ vẻ van xin:
“Được! Khá lắm! Các người giỏi mượn cớ tập thể để bao che cho nhau! Cứ giữ lấy cái chòi này mà cứu hộ, nhưng đừng để tôi tóm được một cọng kẹo, một manh chiếu buôn bán tư lậu nào ở đây! Đội kiểm soát sẽ rải người cắm chốt trên mặt đê, để xem các người trụ được bao lâu!”
Dứt lời, Bền hậm hực quay ngoắt người, xua tay thúc đám trật tự viên lủi thủi leo lên dốc đê trong tiếng cười nhạo kín đáo của cánh thợ đò.
Chiếc chòi gỗ xoan kiên cố của Thu đã trụ vững như thế giữa giông gió bến sông và sự hà khắc của thời cuộc.
*
Thấm thoát, ngọn gió thời gian đã cuốn trôi hai năm ròng rã.
Mùa đông năm 1983 ùa về bến Vạn Cát bằng những đợt gió bấc hun hút mang theo hơi nước lạnh buốt từ lòng sông Hồng thốc lên triền đê hun hút. Đất nước lúc bấy giờ đã bắt đầu le lói những chuyển động âm thầm. Chỉ thị 100 của Ban Bí thư về việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp ban hành từ đầu năm 1981, sau hai năm bén rễ, đã thổi một luồng sinh khí mới vào những thửa ruộng làng Yên Sa. Xã viên cày cấy trên mảnh đất nhận khoán có trách nhiệm hơn, năng suất lúa nhích dần lên, cái đói thắt ruột mùa giáp hạt phần nào vơi bớt, dẫu rằng cơ chế bao cấp với sổ lương thực, tem phiếu và những trạm kiểm soát gắt gao trên đê vẫn trùm chiếc bóng ngột ngạt lên từng sinh hoạt mưu sinh.
Nhờ có chiếc chòi gỗ vững chãi mà Hùng và bà con dựng cho, góc quán nước nhỏ của Thu nép mình bên gốc đa bến đò ngày càng trở thành điểm dừng chân quen thuộc, ấm áp của những phận đời qua sông lỡ bước. Hai năm qua, Thu chắt bóp từng đồng trinh, đồng hào lẻ. Những đồng tiền ngân hàng nhà nước cũ kỹ, nhăn nheo thấm đẫm mồ hôi sau những ấm nước chè gừng, những thanh kẹo lạc giòn rụm được cô vuốt phẳng phiu, giắt cẩn thận vào ống tre trên xà nứa. Bằng sự cần cù nhẫn nại như con kiến tha lâu đầy tổ, Thu đã đem trả được một nửa món nợ ba mươi đồng bạc tiền ma chay thuốc men của cha mẹ cho hợp tác xã và người làng.
Món nợ vơi đi một nửa, gánh nặng trên đôi vai gầy của cô gái hai mươi lăm tuổi như nhẹ bớt đôi phần. Đôi má Thu đã lấy lại được sắc hồng hào khỏe khoắn, dù đôi bàn tay thì ngày càng chai sần, thô ráp vì quanh năm suốt tháng ngâm nước lạnh và vùi trong tro than.
Những ngày cuối năm Quý Hợi, không khí giáp Tết bắt đầu rậm rịch khắp nẻo đường quê. Bến đò Vạn Cát bước vào chuỗi ngày nhộn nhịp nhất trong năm. Khách qua sông đông gấp năm, gấp bảy lần ngày thường. Từ tinh mơ đến tối mịt, con đò của cụ Vấn rẽ sóng chở qua chở lại không biết bao nhiêu chuyến bộ hành: người đi buôn chuyến gánh gồng đồ gốm, chiếu cói từ mạn ngược xuống, kẻ cắp nách giỏ mây chở gà vịt, lá dong từ vùng bán sơn địa sang huyện đồng bằng để đổi lấy muối hột, dầu hỏa và vải vóc.
Giữa tiết trời đông buốt giá thấu xương, khách bộ hành bước chân lên bến sông, vừa run rẩy đón ngọn gió bấc rát mặt vừa trông thấy ngọn lửa bập bùng và làn khói ấm nồng tỏa ra từ chòi gỗ của Thu thì mừng rỡ khôn xiết. Họ sà vào quán, đón lấy bát chè xanh gừng nóng rẫy bốc khói nghi ngút, cắn một miếng kẹo lạc giòn tan bùi béo hay chiếc bánh đa vừng nướng phồng rộp thơm lừng, cảm giác cái rét căm căm như bị xua tan biến ngoài bãi cát.
Tiếng lành đồn xa. Bánh đa và kẹo lạc của Thu nổi tiếng khắp khúc sông không chỉ vì giá cả vừa vặn với túi tiền chắt bóp của dân nghèo, mà còn bởi cái vị mộc mạc thơm ngon đặc biệt. Bánh đa nướng phồng đều, xốp rụm, cắn vào nghe rôm rốp mà không hề dai hay cứng quắt; kẹo lạc thì vàng óng ánh như mật ong rừng, dẻo thơm mùi mật mía hoa cau quyện lẫn gừng cay nồng và vừng sẻ béo ngậy, ngọt thanh chứ không ngọt gắt như thứ kẹo pha đường cháy bán ngoài chợ huyện.
“Cô Thu ơi!”
Một giọng nói sang sảng vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ của Thu. Bác lái buôn họ Triệu, người dong dỏng cao, khoác chiếc áo bông chần đã sờn vai, vội vã đặt đôi bồ đựng bát đĩa gốm mạn Sông Lô xuống góc chòi, ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ xoan ngâm mà Hùng đóng năm nào.
“Dạ, cháu chào bác Triệu. Bác sang chuyến đò sớm thế ạ? Để cháu rót bát chè gừng cho ấm bụng.” Thu đon đả múc nước chè sóng sánh trao tận tay vị khách quen.
Bác Triệu nhấp một ngụm lớn, hà ra một hơi dài khoái chí, rồi chỉ tay vào mấy nong kẹo lạc và chồng bánh đa buộc lạt giắt trên xà chòi:
“Này cô Thu, bánh đa với kẹo lạc của cô đợt trước tôi mang về mạn Đoan Hùng làm quà, ai ăn cũng tấm tắc khen ngon. Đợt này tôi đi chuyến hàng tết cuối cùng xuống mạn Hưng Yên, bà con trên ấy gửi tôi đặt mua bằng được. Tôi muốn dặn cô đóng cho tôi tròn một trăm chiếc bánh đa quạt chín kỹ và năm mươi phong kẹo lạc gừng, ba ngày nữa tôi quay đò trở về sẽ bốc hàng luôn. Đây, tôi đặt cọc trước cho cô năm đồng bạc làm tin!”
Bác Triệu móc từ túi áo ngực ra tờ giấy bạc năm đồng còn khá mới, dằn lên mặt bàn gỗ.
Thu sững sờ, nhìn tờ tiền rồi lại nhìn đôi mắt chân thành của người khách buôn. Năm đồng bạc! Đó là một món tiền cọc lớn đối với gánh quán nhỏ của cô. Nhưng chưa kịp định thần thì từ chiếc bàn bên cạnh, hai người phụ nữ buôn buôn cau khô từ mạn chợ Cháy sang cũng chen vào:
“Ấy chết, bác Triệu chậm chân chút nhé! Cô Thu, chúng tôi cũng muốn dặn sáu chục cái bánh đa vừng đen với ba mươi phong kẹo lạc để kịp phiên chợ tất niên bên kia sông. Khách họ dặn làm quà biếu họ hàng ngoài tỉnh nhiều lắm, cô có nhận thì nhận luôn cho chị em tôi, chúng tôi trả thêm cho cô vài hào tiền công quạt than!”
Đơn hàng dồn dập ập đến như sóng sông Hồng mùa lũ khiến lồng ngực Thu đập rộn ràng. Đây là cơ hội trời cho! Nếu nhận hết số đơn hàng này và hoàn thành suôn sẻ trong ba ngày tới, số tiền lời kiếm được không những đủ để cô sắm sửa một manh áo ấm mới cho mùa đông, mà quan trọng hơn cả, cô có thể gom góp trả dứt điểm món nợ mười lăm đồng còn lại cho hợp tác xã trước khi bước sang năm mới. Trả hết nợ, căn nhà tranh của cha mẹ để lại sẽ không còn nguy cơ bị đem ra cấn trừ, Thu sẽ ngẩng cao đầu mà sống như một người lao động tự do, lương thiện.
Thế nhưng, sau niềm vui sướng tột cùng là nỗi âu lo thắt nghẹt buồng gan.
Một trăm sáu mươi chiếc bánh đa, tám mươi phong kẹo lạc trong vòng vỏn vẹn ba ngày! Trong thời buổi ngăn sông cấm chợ, nguyên liệu để làm ra ngần ấy thứ bánh kẹo không phải cứ có tiền là ra chợ mua được. Gạo nếp cái hoa vàng, mật mía, vừng sẻ, lạc cúc... tất cả đều là những thứ nông sản nằm trong diện quản lý nghiêm ngặt của nhà nước hoặc bị xã viên cất giấu kỹ dưới đáy bồ để dành ăn Tết.
Thu siết chặt hai bàn tay thô ráp vào vạt áo chàm, ngước nhìn bác Triệu và hai người lái buôn, giọng run rẩy nhưng kiên quyết:
“Các bác, các chị đã tin tưởng con bé mồ côi này, cháu xin nhận lời! Ba ngày nữa, đúng cữ đò trưa, hàng sẽ sẵn sàng, thơm ngon tươm tất cho các bác kịp về xuôi!”
*
Để giữ tròn lời hẹn ước, ngay trong chiều hôm đó, Thu phải lao vào một cuộc chạy đua nghẹt thở với thời gian và sự thiếu thốn cùng cực của thời bao cấp.
Canh tư sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy đầu bãi còn chưa kịp cất lên, màn đêm đen đặc quánh như mực tàu còn bao trùm khắp làng Yên Sa, Thu đã trở dậy. Sương muối buốt giá rơi lộp độp trên tàu lá chuối sau nhà. Cái lạnh mùa đông thấu buốt qua lần áo vải vá vai, cắn rát buốt từng ngón chân nứt nẻ của cô gái trẻ.
Thu quàng chiếc khăn vuông cũ kín đầu, cắp chiếc thúng con có lót bao tải rách, lầm lũi rảo bước trên con đường làng lát gạch nghiêng mòn vẹt. Cô phải đi gõ cửa từng nhà người quen, những gia đình xã viên neo đơn hoặc có chút của ăn của để dành dụm được sau vụ gặt khoán 100 vừa qua, để hỏi mượn từng bơ gạo, từng bát vừng.
Điểm đến đầu tiên là nhà bà cô họ xa ở xóm Trại. Nghe tiếng gõ cửa dè dặt, then cài kẽo kẹt mở ra, hé lộ khuôn mặt ngái ngủ và đôi mắt đầy cảnh giác sau ánh đèn dầu hoa kỳ tù mù.
“Ai đấy? Đêm hôm hôm sớm thế này...”
“Cháu Thu đây ạ, cô Hai ơi...” Thu khép nép cất tiếng, hơi thở phả ra thành luồng khói trắng xóa: “Cháu đường đột quá, nhưng cháu túng ngặt quá cô ạ. Khách qua đò dặn bánh tết nhiều, cháu thiếu nguyên liệu quá. Cô làm ơn cho cháu vay đong tạm hai bơ gạo nếp cái hoa vàng với bát vừng sẻ được không cô? Ra giêng gặt lúa chiêm xong, cháu xin đong trả cô đủ cả gốc lẫn chút đỉnh tiền công ạ...”Người đàn bà nhìn quanh quất ra ngoài ngõ vắng vẻ, khẽ chép miệng vẻ ái ngại:
“Chết nỗi, cô nó nói khẽ cái mồm thôi! Cán bộ kiểm soát mà nghe thấy lại bảo tích trữ lương thực buôn lậu thì chết cả nút bây giờ! Nhà tao cũng chẳng dư dả gì, thóc giống để dành cấy vụ xuân đấy. Nhưng thôi, thương mày con bé mồ côi chịu khó... Vào đây, tao vét đáy hũ cho mượn đúng hai bơ, nhớ ra giêng phải trả sớm đấy nhé!”
Thu mừng rỡ cúi đầu cảm tạ, cẩn thận đón lấy từng hạt nếp tròn mẩy, thơm phức mùi sữa lúa đổ vào thúng.
Từ nhà cô Hai, Thu lại tất tả lội bộ sang xóm Dưới, gõ cửa nhà bác thợ mộc đầu xóm để đổi chiếc rổ sắn dây khô lấy nửa liễn mật mía hoa cau dẻo quánh; rồi tạt qua nhà chị Bí thư phụ nữ thôn mượn tạm vài bát lạc nhân sẻ hạt nhỏ nhưng đượm dầu. Mỗi một nơi cô đến là một lần phải nài nỉ, giãi bày bằng tất cả sự chân thành, mộc mạc và danh dự của bản thân. Có người thương tình sẻ chia chút lộc giáp hạt, nhưng cũng không ít người lắc đầu nguầy nguậy, xua đuổi vì sợ vạ lây tội buôn bán tư thương.
Mãi đến khi rạng đông bừng lên ở chân trời phía đông, nhuộm một vệt hồng nhạt trên dòng sông lững lờ phù sa, Thu mới gom đủ số nguyên liệu tối thiểu cho mẻ hàng lớn. Đôi bả vai cô mỏi nhừ, đôi bàn chân lạnh cóng mất hết cảm giác, nhưng ánh mắt ánh lên niềm hy vọng rạng ngời.
Thu tất tả gánh số nguyên liệu quý giá ra chiếc chòi gỗ ven bến Vạn Cát. Thắm – cô em gái của Hùng – đã đứng đợi sẵn tự bao giờ. Nhìn thấy Thu mồ hôi ướt đẫm trán giữa tiết trời buốt giá, Thắm vội chạy lại đỡ lấy đòn gánh:
“Chị Thu! Em sốt ruột quá, sợ chị đi một mình gặp bọn đội kiểm soát lượn đê thì nguy! Chị xem này, em lén bốc trộm cho chị thêm nửa âu vừng đen với mấy nhánh gừng già cay xé lưỡi ở vườn nhà em đấy!”
“Thắm ơi, quý hóa quá, nhưng nhỡ thầy mày biết thì lại mắng cho đấy...” Thu vừa cảm động vừa lo lắng.
“Gớm, thầy em đang mải bàn chuyện cưa xẻ gỗ xoan với các cụ trên xóm Thượng, chẳng để ý đâu! Mau lên chị, em phụ chị quấy bột tráng bánh!”
Hai chị em lao vào công việc không ngơi tay. Thu ngâm gạo nếp, đem xay nhuyễn trên chiếc cối đá nhỏ mượn của cụ Vấn. Đôi tay thoăn thoắt hòa bột với sắn bở luộc giã mịn theo công thức bí truyền của cụ ngoại, rắc vừng đen thơm lừng rồi múc từng muôi bột tráng đều trên nồi hơi nước bốc lên nghi ngút. Thắm nhanh nhẹn dùng thanh tre mỏng luồn dưới mép bánh, khéo léo nhấc từng chiếc bánh đa mềm mại, trắng muốt trải đều lên những tấm phên nứa đem phơi bên mép cát sông Hồng.
Gió đông hanh hao thổi qua bãi bồi giúp những chiếc bánh đa se mặt nhanh chóng. Đến chiều muộn, khi nắng quái tắt hẳn nhường chỗ cho bóng tối lạnh lẽo buông xuống bến đò, hơn một trăm năm mươi chiếc bánh đa đã khô ráo, cong tròn như những chiếc mai rùa, xếp thành từng chồng cao ngất ngưởng trong chòi.
Thế nhưng, cửa ải khó khăn và nghiệt ngã nhất lúc này mới thực sự bắt đầu: Công đoạn nướng bánh.
*
Đêm mùa đông buốt giá buông xuống bến sông một màu đen đặc quánh. Gió bấc rít từng hồi qua rặng tre gãy ngọn, quất vào vách gỗ chòi nước nghe “bồm bộp”. Dưới sông, nước vỗ bờ ì oạp, lạnh lẽo đến rợn người. Xóm chài đã tắt đèn đi ngủ sớm để trốn cái rét cắt da cắt thịt. Cả khúc sông chỉ còn le lói ánh đèn dầu từ chòi gỗ của Thu.
Thu ngồi co ro trên chiếc đòn thấp, một mình đối diện với chiếc lò nướng bánh đa thủ công cũ kỹ.
Đó là một chiếc lò tự chế bằng đất nung pha rơm nhào bùn mà Thu đã tận dụng từ những ngày đầu dựng lán. Trải qua mưa nắng dầm dề và những mẻ lửa nung suốt hai năm, thân lò đã chai cứng, nứt nẻ chằng chịt như mạng nhện, nhiều chỗ phải trát tạm bằng đất sét ướt. Miệng lò hẹp, lòng lò nông, nhiệt lượng tỏa ra thất thường khiến việc canh lửa vô cùng vất vả.
Thời buổi này, than hoa nướng bánh là thứ cực kỳ đắt đỏ và khan hiếm. Để có than nướng cả trăm chiếc bánh, Thu phải gom góp từng mẩu than củi tạp xỉn màu mua lại của các lò rèn, trộn lẫn với trấu khô và cành phi lao nhặt nhạnh ven sông.
Thu khẽ thổi que diêm nhen lửa. Khói trấu mịt mù bốc lên cay xè, làm hai mắt cô đỏ hoe, giàn giụa nước mắt. Cô phải cúi rạp người xuống sát mép lò, dùng chiếc quạt nan rách tươm phẩy lấy phẩy để cho than bén lửa.
Mỗi lần nướng một chiếc bánh đa đòi hỏi sự tập trung cao độ và đôi tay khéo léo đến từng ly. Một tay cầm đôi que tre dài kẹp chặt chiếc bánh đa sống, một tay cầm quạt nan quạt đều nhịp, Thu phải liên tục lật trở chiếc bánh trên mặt than hồng rực. Nhanh một tích tắc thì bánh chưa kịp chín xốp, chậm nửa nhịp thì vừng cháy khét lẹt, mất hết vị bùi thơm.
“Phù... phù...”
Tiếng quạt nan xé gió liên hồi. Hơi nóng hầm hập từ đống than đỏ rực táp thẳng vào mặt Thu, khiến da mặt cô rát bỏng, hai má ửng đỏ như quả cà chua chín. Thế nhưng, phía sau lưng cô, gió bấc từ khe cửa sổ hở lại lùa vào buốt buốt lạnh buốt sống lưng. Trước mặt là lửa đỏ hừng hực, sau lưng là băng giá thấu xương.
Một chiếc bánh... hai chiếc bánh... rồi mười chiếc bánh phồng rộp, thơm lừng mùi vừng nướng được hoàn thành, xếp ngay ngắn vào sọt lót rơm khô. Nhưng chiếc lò thủ công quá nhỏ, mỗi lần chỉ nướng được duy nhất một chiếc, lại mất từ ba đến bốn phút mới xong một mẻ.
Thời gian cứ thế nhích dần về khuya. Tiếng côn trùng r*n r* dưới gốc rạ bến sông tắt hẳn. Đêm đông lạnh đến mức giọt sương đọng trên mái lá bắt đầu đông cứng lại thành những hạt sương muối trắng xóa.
Đến chiếc bánh thứ năm mươi, đôi cánh tay của Thu đã rã rời như muốn rụng ra khỏi khớp vai. Cổ tay cô run lên bần bật vì phải giữ thăng bằng chiếc quạt nan suốt mấy tiếng đồng hồ không nghỉ. Lưng cô còng rạp xuống vì ngồi sai tư thế quá lâu, từng thớ thịt ở sống lưng đau nhức buốt nhói như có kim châm. Khói bụi than hoa bám đầy vào mái tóc, làm đen nhẻm khuôn mặt thanh tú và chui vào cuống họng khiến cô ho sặc sụa từng cơn.
Thế nhưng, nhìn số lượng bánh đa sống còn nằm la liệt trên phên tre, và góc chòi kia là nồi mật mía hoa cau đang chờ nấu kẹo, Thu không dám cho phép mình dừng lại dù chỉ một khắc.
“Cố lên... chỉ còn hơn trăm chiếc nữa thôi... Ráng lên Thu, trả xong nợ rồi, mày sẽ không phải nơm nớp lo sợ mỗi lần nhìn thấy sổ công điểm nữa...”
Thu tự lẩm bẩm động viên mình, gạt vội giọt mồ hôi đang lăn dài trên má quyện với bụi than lem luốc. Cô cúi xuống, gắp thêm một gắp than củi đỏ rực thả vào lòng lò, rồi lại tiếp tục nghiến răng phẩy chiếc quạt nan rách.
Chiếc lò đất nung già cỗi, phải oằn mình gánh chịu nhiệt lượng cực lớn suốt nhiều giờ liên tục trong đêm đông lạnh giá, bắt đầu phát ra những tiếng kêu lách tách âm ỉ. Thân lò đỏ rực lên dưới đáy, những vết nứt cũ toác rộng ra theo từng cơn quạt gió hối hả của cô gái trẻ. Đất nung và sương muối, nhiệt độ chênh lệch khủng khiếp giữa bên trong rực lửa và bên ngoài buốt giá đang âm thầm bào mòn chút sức chịu đựng cuối cùng của vật dụng thô sơ.
Thu vẫn mải miết xoay trở chiếc bánh đa trên tay, mắt chăm chú nhìn từng hạt vừng đang nổ tí tách, lòng thầm tính toán từng hào bạc trả nợ, mà không hề hay biết tai họa đang rình rập ngay dưới chân mình.
Bất chợt, một cơn gió bấc dữ dội từ mặt sông cuộn tròn thốc thẳng vào cửa chòi, xô bung cánh phên liếp tre. Gió lạnh ùa vào lòng lò đang đỏ lửa, tạo nên một sự co giãn đột ngột đến tàn nhẫn.
“RẮC! BỤP!”
Một tiếng nổ khô khốc, chói tai xé toạc đêm đông thanh vắng!
Chiếc lò đất nung bỗng chốc vỡ toác làm ba mảnh lớn, sụp đổ tan tành ngay trước mắt Thu!
Đống than củi đang cháy đỏ rực cùng tro tàn nóng rẫy đổ ụp ra nền đất nện, văng tung tóe khắp chân chòi. Chiếc vỉ nướng tre gãy đôi. Ba chiếc bánh đa đang nướng dở rơi thẳng vào đống than hồng bốc cháy ngùn ngụt, ngọn lửa vàng l**m láp biến những chiếc bánh kỳ công thành những tảng than đen đúa, mùi khét lẹt nồng nặc bốc lên bao trùm cả gian chòi gỗ.
“Trời ơi!”
Thu thất thanh kêu lên một tiếng nghẹn ngào, hoảng hốt quỳ sụp xuống. Không màng đến nguy hiểm, cô đưa đôi bàn tay trần lao vào đống tro tàn nóng bỏng để gạt những hòn than đang lăn về phía vách gỗ và đống rơm khô lót sàn.
Tàn than hoa nóng rực dính chặt vào da thịt, làm cháy xèo xèo lớp da non nơi đầu ngón tay. Vết bỏng rát buốt thấu tận tim gan khiến Thu run rẩy co rúm người lại, nhưng cô vẫn cắn chặt môi, dùng vạt áo chàm dập tắt những đốm lửa le lói cuối cùng.
Khi ngọn lửa đã tắt hẳn, xung quanh chỉ còn lại đống đất nung vỡ vụn, tro tàn xám xịt và những chiếc bánh cháy đen quắt queo.
Chiếc lò nướng duy nhất – phương tiện sinh nhai duy nhất của cô – đã vỡ nát hoàn toàn không thể cứu vãn.
Gió đông ngoài sông vẫn rít lên từng hồi ma quái, lùa qua khe cửa sổ thổi bay những mảng tro tàn lạnh lẽo bay lơ lửng giữa không trung. Nhìn quanh gian chòi ngổn ngang bánh sống, nhìn chiếc lò vỡ vụn nằm trơ trọi dưới đất, và nhìn đôi bàn tay phồng rộp, đen nhẻm đang run rẩy vì đau đớn, lồng ngực Thu thắt nghẹn lại.
Tiền cọc của khách đã nhận, lời hẹn ước ba ngày nữa phải giao đủ hàng về xuôi... Giờ đây mất lò, lấy gì để nướng bánh? Lấy gì để nấu kẹo? Nếu không giao được hàng, cô sẽ phải đền cọc gấp đôi, số nguyên liệu mượn của bà con làng xóm sẽ hỏng hết, món nợ cũ chưa trả xong sẽ chồng thêm món nợ mới khổng lồ, danh dự và chữ tín mà cô gây dựng bấy lâu nay bên bến Vạn Cát sẽ tan thành mây khói!
Sự bất lực và tuyệt vọng dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Giữa đêm đông lạnh buốt thấu xương nơi bến đò hoang vắng, cô gái mồ côi gục đầu xuống hai đầu gối, bờ vai gầy run lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào, mặc cho những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi má lem luốc tro than.