Gió bấc rít qua khe liếp cửa sổ xưởng mộc, rền rĩ như tiếng còi tàu xa xăm vọng lại từ phía ga xép huyện Đông. Đêm đông năm 1983 buốt như cắt da cắt thịt. Cái lạnh khô khốc luồn qua từng thớ ván ép, ngấm sâu vào khớp gối trái của Đặng Văn Hùng. Mảnh đạn cối 82 năm xưa còn găm lại nơi cuống xương bánh chè cứ mỗi độ trở trời lại giở chứng, nhức buốt đến tận tủy sống, như có hàng ngàn mũi kim han gỉ cào cấu bên trong.
Hùng ngồi trên chiếc phản gỗ xoan, hai bàn tay thô ráp ghì chặt lấy bắp chân để ngăn cơn co giật của thớ thịt. Anh không thắp đèn. Trong bóng tối lờ nhờ của gian xưởng ngập tràn mùi dăm bào và hương gỗ ngâm ẩm mục, đôi mắt người lính trinh sát năm nào vẫn giữ nguyên thói quen tinh tường đến sắc lạnh.
Nhưng đêm nay, sự chú ý của anh không dành cho cơn đau thể xác.
Tâm trí anh đang neo chặt ngoài bến đò Vạn Cát.
Cách đây chưa đầy nửa tuần hương, lẫn trong tiếng sóng vỗ ì oạp vào doi cát và tiếng gió gầm gào qua rặng tre ngà, tai Hùng đã bắt được một âm thanh rất lạ. Nó khô khốc, sắc nhọn, tựa như tiếng một thanh củi gãy giòn dưới gót giày hành quân, nối tiếp là một tiếng bụp trầm đục. Kể từ khoảnh khắc ấy, vệt sáng le lói hắt ra từ khe liếp của chòi nước bến sông bỗng chốc tắt phụt, nhường chỗ cho một làn khói khét lẹt nương theo ngọn gió bấc thốc ngược về phía xóm Mộc.
Đó là mùi tinh bột cháy khét quyện lẫn mùi đất nung nứt vỡ.
“Thu!”
Cái tên bật ra khỏi cuống họng Hùng nghẹn đắng. Không một giây chần chừ, anh với lấy chiếc gậy tre ngâm đặt nơi đầu giường, nén cơn đau buốt thấu óc ở chân trái, tập tễnh đẩy then cửa bước ra ngoài trời tối mịt.
Sương muối phủ một lớp màng trắng đục, nhờ nhờ trên triền đê Yên Sa. Bùn đất mùa đông khô cứng lại, lởm chởm như đá hộc, cứ mỗi bước giẫm xuống là một lần khớp gối Hùng nhói buốt như gãy đôi. Nhưng bước chân khập khiễng ấy mỗi lúc một vội vã. Gió sông Hồng táp thẳng vào mặt, mang theo hơi nước buốt giá làm tê dại hai gò má phong trần, nhưng lồng ngực Hùng lại nóng như có than đốt. Anh biết, đơn hàng Tết một trăm sáu mươi chiếc bánh đa và tám mươi phong kẹo lạc của chuyến đò buôn đường dài đang đè nặng lên đôi vai mảnh dẻ của người con gái ấy. Ba ngày. Chỉ vỏn vẹn ba ngày để giữ lấy chữ tín, để gột rửa nốt món nợ nghĩa tình ba mươi đồng đè nặng từ ngày cha mẹ cô nằm xuống.
Đến cửa chòi nước, cảnh tượng đập vào mắt khiến tim Hùng thắt lại thành một khối đau đớn đến nghẹt thở.
Cánh phên tre bị gió thốc bung sang một bên, lay lắt trong đêm tối. Dưới nền đất nện xám xịt, chiếc lò nướng đất nung già cỗi – vật báu che chở miếng cơm manh áo của Thu suốt mấy mùa qua – đã vỡ toác thành từng mảng lớn nằm ngổn ngang. Tro tàn, than hoa rực đỏ đổ tràn khắp mặt đất, bốc lên những cuộn khói xám cay xè.
Và giữa mớ tro tàn đổ nát ấy, một bóng người nhỏ bé đang quỳ mọp xuống đất.
Thu không khóc thành tiếng. Cô chỉ cắn chặt bờ môi dưới đến bật máu, hai tay trần cầm lấy chiếc quạt nan rách tơi tả, hoảng loạn gạt đống than hồng đang lăn về phía vách gỗ và đống rơm khô lót chòi. Vạt áo chàm mỏng manh của cô xộc xệch, dính đầy bụi than đen nhẻm. Cô vừa dập lửa vừa run rẩy đưa tay nhặt những mẩu bánh đa cháy đen quắt queo, miệng lẩm bẩm những lời vô nghĩa trong tuyệt vọng tột cùng:
“Còn nướng được... cạo lớp cháy đi vẫn còn ăn được... Đừng cháy mà... lạy trời lạy đất đừng cháy nữa...”
“Thu! Dừng tay lại ngay!”
Hùng ném phăng chiếc gậy tre xuống đất. Bất chấp cái chân tật nguyền đang run rẩy vì quá tải, anh lao tới, quỳ sụp xuống bên cạnh cô gái.
Bàn tay to lớn, thô ráp đầy vết sẹo cưa bào của người thợ mộc vươn ra, chộp lấy cổ tay Thu giật mạnh về phía sau. Chiếc quạt nan cháy dở rơi tõm vào vũng tro nguội.
“Buông em ra... Anh Hùng, buông em ra!” Thu giãy giụa trong cơn hoảng loạn, đôi mắt đen láy mở to, đờ đẫn nhìn anh như người vừa mất hồn. “Cháy hết rồi... Bánh của người ta dặn ăn Tết cháy sạch rồi... Đền cọc mười đồng, lấy đâu ra mười đồng bây giờ? Mật mía hỏng, nếp vay của thím Dậu cũng hỏng hết rồi...”
“Tôi bảo em dừng lại!”
Tiếng quát trầm đục, mang uy lực thép của người lính trận vang lên át cả tiếng gió gầm. Hùng ghì chặt hai bờ vai gầy đang run rẩy bần bật của cô, ép cô phải nhìn thẳng vào mắt mình. Dưới ánh sáng le lói hắt ra từ vài hòn than còn sót lại sâu trong lòng đất, anh thấy rõ khuôn mặt Thu tái nhợt vì lạnh và khói độc, hai hàng nước mắt lăn dài rửa trôi lớp tro đen trên má, để lại những vệt dài nham nhở đến xót xa.
Nhưng điều khiến tim Hùng rỉ máu không phải là mớ bánh đa cháy khét, cũng chẳng phải chiếc lò đất vỡ vụn.
Ánh mắt anh rơi xuống đôi bàn tay đang bị anh giữ chặt.
Khớp ngón tay Hùng run lên dữ dội. Lồng ngực anh quặn thắt như có ai thò tay bóp nghẹt quả tim.
Đôi bàn tay của Thu – đôi bàn tay con gái từng thoăn thoắt đảo từng mẻ kẹo lạc hoa cau, từng khéo léo bẻ từng nan nứa làm phên phơi bánh – giờ đây không còn nguyên vẹn hình hài. Lòng bàn tay và các đầu ngón tay của cô phồng rộp lên những bọng nước to bằng hạt ngô, căng mọng, đỏ lựng và nóng ran như nung. Có những chỗ, lớp da non mỏng manh đã bị than hồng l**m rách toạc, rỉ ra chất dịch vàng quyện lẫn máu tươi và muội than đen đúa. Trên mu bàn tay, sương muối mùa đông cắn xé làm da thịt nứt nẻ thành từng kẽ nứt sâu hoắm, rướm máu đỏ thẫm.
Cô gái này đã dùng chính đôi bàn tay trần để bốc than, để dập lửa, để giành giật lại từng mẩu sinh kế mọn mằn trong đêm đông!
Thấy ánh mắt Hùng nhìn trân trân vào tay mình, Thu như sực tỉnh khỏi cơn mê sảng. Một tia bối rối và tủi hổ lóe lên trong mắt cô. Theo phản xạ tự nhiên của một phận đời luôn quen chịu đựng một mình, Thu vội vã giật tay lại, giấu biến đôi bàn tay bỏng rát ra sau lưng.
Cô lùi lại nửa bước, co ro nép mình vào góc cột chòi, cố ép khóe môi nhợt nhạt nở ra một nụ cười. Đó là một nụ cười méo mó, gượng gạo đến xé lòng.
“Em... em không sao đâu anh Hùng,” giọng Thu run rẩy, ngắt quãng qua từng đợt răng va vào nhau cầm cập. “Chỉ... chỉ là tàn than bén vào một tí thôi. Da thịt em dày dạn sương gió quen rồi, bôi tí mỡ trăn hay đắp lá trầu không là khỏi ngay ấy mà. Anh... sao anh lại đi ra đây giờ này? Gió độc lắm, cái chân của anh...”
Nói đến đó, cổ họng Thu ứ nghẹn lại. Cô cắn chặt môi, cúi gằm mặt xuống để che giấu những giọt nước mắt lại chực trào ra. Cô sợ. Cô sợ mình trở thành gánh nặng, sợ vẻ thảm hại của mình sẽ kéo người đàn ông này vào vũng lầy tăm tối mà cô đang chật vật vùng vẫy. Anh đã vì cô mà chống lại Lê Tiến Bền, vì cô mà chịu lời đàm tiếu ác ý của cả làng Yên Sa, vì cô mà khiến xưởng mộc của ông Quỳ rạn nứt. Cô không thể, và không bao giờ cho phép mình để anh phải day dứt thêm vì những vết bỏng mọn mằn này nữa.
Nhìn dáng vẻ cam chịu, né tránh của Thu, bàn tay Hùng siết chặt lại thành nắm đấm đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay chai sần. Cơn giận bùng lên trong lồng ngực anh, nhưng đó không phải là sự giận dữ hướng về Thu, mà là nỗi căm hờn sự bất lực của chính bản thân mình, căm hờn cái cơ chế ngột ngạt, tàn nhẫn đang đè nén những phận người lương thiện xuống đáy bùn cùng quẫn.
“Đưa tay đây.” Giọng Hùng trầm xuống, không còn gay gắt nhưng mang một sự kiên quyết không thể chối từ.
“Anh Hùng, em tự lo được...”
“Tôi bảo đưa tay ra!”
Hùng nhích tới, một tay giữ lấy bờ vai Thu, tay kia nhẹ nhàng nhưng dứt khoát kéo cánh tay cô ra phía trước. Thu khẽ rên lên một tiếng nghẹn ngào vì đau đớn khi các bọng nước cọ vào vạt áo chàm, cả người cô run lẩy bẩy như chiếc lá rách trước gió bấc.
Hùng hít một hơi thật sâu để nén tiếng thở dài. Anh buông tay cô ra, quay sang chiếc chõng tre con ở góc chòi. May thay, chiếc niêu đất đựng nước chè xanh om từ chiều vẫn còn giữ lại chút hơi ấm le lói dưới lớp bọc rơm khô. Hùng với lấy chiếc bát đàn mẻ miệng, rót một bát nước chè xanh đặc sánh, rồi rút phắt chiếc khăn rằn bộ đội đã ngả màu cỏ úa trên cổ mình xuống.
Anh xé dọc chiếc khăn rằn thành từng dải vải dài, nhúng đẫm vào bát nước chè xanh đã nguội hẳn.
“Ngồi yên. Sẽ xót đấy, nhưng phải rửa sạch muội than đi, không thì thịt thối ra là cưa cụt ngón đấy.”
Hùng ngồi xếp bằng trên nền đất lạnh, cẩn trọng đặt từng ngón tay phỏng rộp của Thu lên lòng bàn tay thô ráp của mình. Bàn tay anh đầy những vết chai cứng của người cầm cưa, gõ đục, nhưng động tác chạm vào vết thương của cô lại dịu dàng, nâng niu như sợ chỉ cần một hơi thở mạnh cũng làm tan vỡ những thớ da non nớt.
Miếng vải ướt đẫm nước chè chát chạm vào vết bỏng đỏ lựng.
“Ưm...” Thu cắn chặt môi, đầu ngón chân quắp chặt lại vì cơn đau rát buốt thấu tận tim gan. Toàn thân cô run lên từng chặp, trán lấm tấm mồ hôi dù chung quanh gió lạnh căm căm. Nước chè xanh mang tính sát khuẩn tự nhiên làm dịu đi cái hừng hực của lửa than, cuốn trôi lớp tro bụi đen đúa, để lộ ra những mảng da non ửng đỏ như cánh sen tàn.
Hùng không nói một lời. Ánh mắt thâm trầm của anh chăm chú nhìn vào từng vết nứt nẻ rướm máu. Anh nhẹ nhàng dùng dải khăn rằn sạch nhẹ nhàng băng lỏng quanh lòng bàn tay cô, cẩn thận chừa các đầu ngón tay ra để bọng nước không bị vỡ. Từng động tác của anh chậm rãi, tỉ mỉ hệt như lúc anh tra từng cái then gỗ, đẽo từng mộng én cho bộ bàn ghế năm nào.
Khoảng cách giữa hai người gần đến mức Thu có thể ngửi thấy mùi nắng mưa dãi dầu vương trên chiếc áo trấn thủ của Hùng, nghe thấy tiếng hơi thở kìm nén nặng nhọc và nhịp đập trầm hùng nơi lồng ngực anh. Nỗi đau rát trên da thịt dường như vơi đi phân nửa, nhường chỗ cho một cảm giác ấm áp, an yên đến lạ kỳ đang len lỏi vào từng mạch máu.
Băng xong bàn tay thứ hai, Hùng mới ngước lên nhìn cô. Khoảng tối trong đôi mắt người lính như sâu thẳm hơn.
“Còn đau lắm không?”
Thu khẽ lắc đầu, những sợi tóc mai vương bụi than lòa xòa trước trán. Cô nhìn đôi bàn tay được quấn dải khăn rằn quen thuộc của anh, khóe mắt lại đỏ hoe:
“Em không sao... Nhưng mà anh Hùng ơi, chiếc lò... vỡ vụn hết rồi. Chiều ngày kia người ta quay đò về đón hàng xuôi bến Đáy. Trăm sáu mươi chiếc bánh, tám mươi phong kẹo... Em lấy gì mà đền cho người ta bây giờ? Mất mối hàng này, cả làng người ta sẽ bảo em dối trá, buôn gian bán lận... Rồi nợ của hợp tác xã...”
Giọng cô vỡ vụn ra theo từng tiếng nấc. Thu gục đầu xuống ngực, bờ vai gầy nhấp nhô theo từng cơn nấc nghẹn ngào mà cô đã cố kìm nén suốt từ đầu buổi tối. Sự kiên cường của cô gái mồ côi suốt bao năm qua cuối cùng cũng sụp đổ hoàn toàn trước sự nghiệt ngã của thực tại.
Hùng lặng im nhìn đống mảnh gốm vỡ vụn dưới đất.
Đó là một chiếc lò đất nung thô sơ, loại lò mà hàng trăm năm qua người dân đồng bằng Bắc Bộ vẫn dùng để đun nấu cá nhân. Nó mỏng manh, giữ nhiệt kém, phụ thuộc hoàn toàn vào những cơn gió trời và sức quạt của con người. Để nướng được một chiếc bánh đa phồng xốp, người thợ phải ngồi còng lưng hàng giờ đồng hồ, một tay xoay bánh, một tay phẩy quạt liên tục không ngừng nghỉ. Nhiệt lượng tỏa ra ngoài thì nhiều mà giữ lại thì ít. Khói bụi than hoa bốc thẳng vào mặt, tàn lửa bay tứ tung. Đó không phải là lao động, đó là sự đày đọa thể xác! Sự kìm hãm của những công cụ thô sơ, lạc hậu ấy đang nghiền nát sinh lực của những con người cần lao như Thu, biến từng đồng tiền bát gạo họ làm ra thành mồ hôi, nước mắt và cả máu thịt.
Ngực Hùng phập phồng theo từng nhịp thở dồn dập. Một ngọn lửa vô hình bỗng chốc bùng cháy dữ dội trong thâm tâm người thợ mộc.Anh là con trai của nghệ nhân Đặng Văn Quỳ. Trong huyết quản anh chảy dòng máu của dòng họ Đặng đất xóm Mộc – dòng họ từng dựng nên những ngôi đình cổ trăm cột vững chãi, từng đục đẽo nên những cỗ máy xay lúa, trục quay tơ nức tiếng một vùng. Ở chiến trường Tây Nam, anh từng là người lính công binh trinh sát, từng tháo lắp từng bộ phận của khẩu pháo, từng dùng cưa đục và sắt vụn chế tạo cầu phao dã chiến vượt sông dưới làn mưa đạn.
Chẳng lẽ trở về thời bình, đứng trước sự khốn cùng của người con gái mình yêu thương, đôi bàn tay thợ mộc của anh lại chịu bó gối quy hàng trước một chiếc lò đất vỡ vụn hay sao?
Hùng vươn tay, nhẹ nhàng nhưng vững chãi đặt lên mái đầu thoang thoảng hương hoa bưởi của Thu. Bàn tay anh áp lên mái tóc cô, truyền đi một hơi ấm rắn rỏi như đá núi.
“Thu. Nhìn tôi này.”
Thu ngơ ngác ngước lên, đôi mắt ướt đẫm nước nhìn vào khuôn mặt góc cạnh, cương nghị của người đàn ông trước mặt.
“Không có gì phải tuyệt vọng cả,” giọng Hùng đanh lại, từng từ từng chữ rơi xuống chắc nịch như đinh đóng vào cột gỗ nghiến. “Đơn hàng này, em sẽ giao đủ. Từng chiếc bánh đa, từng phong kẹo lạc, một chiếc cũng không thiếu.”
“Nhưng... lò vỡ rồi...”
“Lò vỡ thì làm lò mới. Lò đất không chịu được lửa thì làm lò khác.” Hùng đứng thẳng dậy, nhặt chiếc gậy tre dưới đất lên, ánh mắt quét qua đống tro tàn với một sự quyết đoán lạ thường. “Em về nhà nằm nghỉ đi. Khép chặt cửa chòi lại, tuyệt đối không được đụng tay vào nước lạnh, không được quạt than nữa. Mọi việc còn lại, để tôi lo.”
“Anh Hùng...”
“Nghe lời tôi!” Hùng ngắt lời cô, giọng nói trầm ấm nhưng chan chứa sự chở che vô bờ bến. “Tin tôi một lần này thôi. Đi về nghỉ đi.”
Không để Thu kịp nói thêm lời nào, Hùng quay người, chống gậy tập tễnh bước ra khỏi chòi. Dưới bóng đêm dày đặc của bến sông Hồng, bóng lưng anh cao lớn, sừng sững như một thân cây cổ thụ, kiên cường chắn ngang những cơn gió bấc gầm gào đang thổi thốc từ mặt sông lên.
*
Đêm càng về khuya, không gian xóm Mộc càng chìm sâu vào sự tĩnh mịch chết chóc. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng chó sủa ran lên từng chặp bên bờ rào râm bụt rồi lại im bặt dưới cái rét buốt giá.
Gian xưởng mộc của ông Đặng Văn Quỳ nằm nép mình sau rặng tre già cuối xóm. Hùng nhẹ nhàng lách qua khe cửa ngách, rón rén khép then cài để không đánh thức cha và em gái đang ngủ say ở gian nhà trên.
Mùi gỗ xoan đào ngâm, mùi dăm bào thông thoang thoảng trong không khí lập tức bao bọc lấy các giác quan của Hùng, kéo anh trở về với thế giới quen thuộc của những đường mực, góc vuông và lưỡi bào bén ngót. Khớp gối trái nhức buốt từng cơn, nhưng lúc này, sự hưng phấn của óc sáng tạo và nỗi xót xa dành cho Thu đã hoàn toàn lấn át cơn đau thể xác.
Hùng bước đến bên chiếc bàn thợ dài ngoẵng. Anh thò tay vào góc bồ cào, lôi ra một chiếc đèn hạt đỗ cũ kỹ. Bấc đèn được vặn nhỏ hết cỡ, ngọn lửa chỉ le lói bằng hạt ngô, tỏa ra một vùng sáng vàng vọt vừa đủ soi rõ một góc mặt bàn gỗ lim. Hùng lấy một chiếc nón mê rách che bớt ánh sáng về phía gian nhà trên, tránh để ông Quỳ phát hiện.
Từ gầm phản, Hùng lôi ra một mảnh giấy bao xi măng Hoàng Thạch cũ đã được anh miết phẳng phiu từ lâu, cùng với một thanh chì than vuông vức của thợ mộc.
Mảnh giấy bao xi măng màu nâu xám ráp ráp trải rộng trên mặt gỗ. Hùng chống hai tay xuống bàn, nhắm mắt lại.
Trong bóng tối sau mi mắt, hình ảnh đôi bàn tay phồng rộp rướm máu của Thu lại hiện lên, nhức nhối như một vết dao cứa. Tiếp đó là hình ảnh chiếc quạt nan rách phẩy lấy phẩy để, những chiếc bánh đa nướng tay phồng méo mó, chỗ cháy khét chỗ lại sượng sống vì nhiệt lượng không đều...
“Tại sao lại phải nướng từng chiếc một trên than hồng hở?” Hùng tự hỏi mình, hàm răng nghiến chặt lại.
Tại sao không gom nhiệt lại một chỗ?
Một tia sáng lóe lên trong đầu Hùng. Anh nhớ lại những ngày ở chiến trường, những chiếc lò sấy dã chiến trong hầm công binh. Người ta dẫn nhiệt qua các đường ống kín, khói đi đường khói, hơi nóng đi đường hơi nóng.
Nướng bánh đa cũng vậy! Cái bánh cần nhiệt lượng cao và đều để bột gạo và nếp cái hoa vàng nở bung phồng xốp, nhưng bánh lại kỵ nhất là khói than và tàn tro bám vào làm đen bề mặt. Nếu dùng than hoa củi gỗ thông thường, vừa đắt đỏ vừa nhanh tàn, lại dễ gây cháy nát như đêm nay. Nhưng ở làng Yên Sa này, thứ gì nhiều nhất?
Trấu! Vỏ trấu sau mùa gặt chất đống như núi ngoài sân kho hợp tác xã, người ta chỉ dùng để ủ phân hoặc đun bếp lò sơ sài. Mùn cưa từ xưởng mộc của xóm cũng bỏ đi từng bao tải lớn! Trấu và mùn cưa khi ủ kín sẽ sinh ra lượng nhiệt âm ỉ cực lớn, đều đặn và không bao giờ tắt ngấm đột ngột như than củi.
Thanh chì than trên tay Hùng bắt đầu chuyển động.
“Xoẹt... xoẹt...”
Những nét vẽ đậm, dứt khoát rạch lên mặt giấy bao xi măng thô ráp.
Hùng phác thảo phần khung máy đầu tiên. Đó sẽ là một bộ khung hình hộp chữ nhật vững chãi, bốn chân làm bằng gỗ xoan ngâm già – loại gỗ dẻo dai, không mối mọt và chịu được sự co giãn của nhiệt độ. Các thanh giằng sẽ được liên kết với nhau bằng mộng mang cá và chốt then gỗ mít, tuyệt đối không dùng đến đinh sắt để tránh bị rỉ sét khi tiếp xúc với hơi nóng lâu ngày.
Tiếp theo là buồng nhiệt. Hùng vạch hai đường cong đồng tâm.
“Phải làm hai lớp,” Hùng lẩm bẩm tính toán. “Lớp bên trong là buồng đốt hình trụ rỗng. Trấu và mùn cưa nhồi chặt xung quanh một ống lõi. Khi rút ống lõi ra, ngọn lửa trấu sẽ cháy âm ỉ từ dưới đáy lên theo nguyên lý đối lưu không khí, hơi nóng bốc thẳng lên trên mà không hề có tàn tro bay lơ lửng.”
Nhưng làm sao để bánh chín đều mà không phải dùng tay lật?
Bàn tay cầm thanh chì của Hùng dừng lại giữa không trung. Anh nheo mắt nhìn vào khoảng không vô định. Đôi mắt người thợ mộc bỗng sáng rực lên.
Một chiếc lồng quay!
Anh vẽ một trục quay nằm ngang xuyên qua buồng nhiệt. Trên trục quay đó gắn một cái lồng lưới hình trụ nhiều ngăn. Mỗi ngăn sẽ là một chiếc kẹp bánh bằng sắt mỏng. Bánh đa sống được kẹp vào giữa hai vỉ sắt, đưa vào lồng. Khi quay trục, chiếc bánh sẽ lộn vòng đều đặn ba trăm sáu mươi độ qua luồng khí nóng đối lưu.
Nhiệt tỏa đều khắp hai mặt! Bột sẽ phồng rộp từ trong ra ngoài, hạt vừng sẽ chín vàng rộm mà không một hạt nào bị cháy sém! Một mẻ không phải nướng một chiếc, mà có thể nướng cùng lúc bốn chiếc, sáu chiếc!
“Cần một bộ truyền động...” Hùng gõ nhẹ thanh chì than xuống mặt bàn, lẩm nhẩm tính tỉ số truyền lực.
Nếu q*** t** trực tiếp thì người thợ vẫn phải đứng cạnh buồng nhiệt, hơi nóng phả vào mặt sẽ rất mệt. Nhưng nếu dùng một cơ cấu bàn đạp chân – giống hệt như bàn đạp của chiếc máy may Con Bướm mà bà mẹ liệt sĩ Toàn từng nâng niu, hoặc líp xích của chiếc xe đạp Thống Nhất...
Người thợ chỉ việc ngồi trên ghế đẩu gỗ, chân đạp nhịp nhàng như đạp xe dạo mát, lực truyền qua đĩa xích làm quay trục lồng nướng, đồng thời kéo theo một cánh quạt gió nhỏ bằng tôn thổi luồng khí nóng luân chuyển đều khắp trong buồng kín!
Đôi bàn tay của Thu sẽ được giải phóng hoàn toàn!
Cô sẽ không phải hít khói than độc hại, không phải cầm chiếc quạt nan phẩy suốt đêm thâu, và quan trọng nhất, đôi bàn tay thanh tú ấy sẽ vĩnh viễn không bao giờ phải chạm vào tàn lửa nóng bỏng thêm một lần nào nữa!
Ngực Hùng đập thình thịch vì xúc động. Những nét vẽ trên trang giấy bao xi măng ngày càng sắc nét, chi tiết đến từng chiếc răng cưa, từng cái chốt hãm, từng đường gân chịu lực của khung gỗ. Bản vẽ dần hiện hình trọn vẹn: một cỗ máy kết hợp tinh tế giữa ngón nghề mộc truyền thống của dòng họ Đặng và tư duy cơ khí chính xác của người lính thời chiến. Một cỗ máy chưa từng xuất hiện ở bất kỳ làng quê nào dọc triền sông Hồng này.
Thế nhưng, khi nét chì cuối cùng vừa hạ xuống, ngọn đèn dầu bỗng chao nghiêng theo một cơn gió lạnh lùa qua vách nứa.
Vệt sáng vàng vọt rọi thẳng vào bản vẽ, làm hiện rõ những chi tiết kim loại mà Hùng vừa phác thảo: trục quay sắt, ổ bi đỡ, tấm tôn bọc buồng nhiệt, và đặc biệt là hệ thống nhông xích xe đạp.
Nụ cười vừa chớm nở trên môi Hùng bỗng chốc đông cứng lại.
Một thực tế tr*n tr**, lạnh lẽo như băng giá lập tức dội thẳng vào tâm trí anh.
Đây là mùa đông năm 1983.
Thời kỳ của cơ chế bao cấp ngặt nghèo, nơi một chiếc nan hoa xe đạp, một tấc sắt phế liệu cũng nằm trong danh mục vật tư chiến lược do Nhà nước quản lý. Mọi hoạt động cơ khí tư nhân đều bị quy vào tội "chế tạo chui", "phá hoại công hữu".
Lê Tiến Bền và đội kiểm soát liên ngành vẫn đang ngày đêm tuần tra trên mặt đê Yên Sa với cặp mắt lươn cú vọ, sẵn sàng ập vào tịch thu bất cứ thanh sắt nào không có hóa đơn phân phối của Cửa hàng mậu dịch. Một người dân thường kiếm đâu ra từng ấy tôn chịu nhiệt, kiếm đâu ra trục sắt và ổ bi để lắp ráp cỗ máy này trong vòng chưa đầy hai ngày?
Hùng nhìn chằm chằm vào bản vẽ trên nền giấy xi măng nhăn nhúm. Bàn tay anh nắm chặt lấy thanh chì than đến mức nó gãy đôi làm hai đoạn, muội than đen kịt bám chặt vào từng đường gân thô ráp.
Bản vẽ đã thành hình, hy vọng giải phóng đôi bàn tay rỉ máu của người con gái anh thương đã nằm ngay trước mắt. Nhưng bức tường ngăn sông cấm chợ và sự khan hiếm nghiệt ngã của thời đại vẫn sừng sững chắn ngang như một ngọn núi đá hoa cương, lạnh lùng thách thức ý chí của người thợ mộc tàn phế giữa đêm đông tăm tối.