Gió bấc luồn qua những khe nứa của xưởng mộc rít lên từng hồi buốt óc. Cơn đau từ khớp gối trái bị mảnh đạn cối găm lại năm xưa lại bắt đầu giật từng cơn nhức buốt, dội ngược lên tận thái dương, nhưng Đặng Văn Hùng dường như chẳng hề bận tâm. Trong tâm trí anh lúc này, mọi cảm giác đau đớn thể xác đều lu mờ trước hình ảnh đôi bàn tay phỏng rộp rỉ máu của Thu bên bến đò Vạn Cát đêm qua.
Thời gian chỉ còn chưa đầy hai ngày. Một trăm sáu mươi chiếc bánh đa, tám mươi phong kẹo lạc. Nếu không có chiếc lò mới, Thu không chỉ mất sạch năm đồng tiền cọc và gánh thêm nợ nần, mà chút hy vọng vừa nhen nhóm về một mái ấm tự lập giữa thời buổi bao cấp ngặt nghèo này cũng sẽ tan thành tro bụi.
Hùng cúi xuống, nhặt chiếc đục sắt cùn đã mòn vẹt chuôi gỗ. Anh bước tới góc trong cùng của xưởng mộc, nơi khuất ánh sáng từ cửa chính và được che chắn bởi đống gỗ xoan ngâm xếp cao quá đầu người. Mặt đất nện ở đây phẳng lỳ, khô ráo và nén chặt qua hàng chục năm gót chân thợ mộc qua lại. Tấm giấy bao xi măng đêm qua quá nhỏ và quá nguy hiểm; nếu đội kiểm soát bất thần ập vào khám xét, một mảnh giấy có hình vẽ máy móc cơ khí tư nhân sẽ là tang chứng không thể chối cãi. Nhưng nền đất thì khác. Đất cưu mang bí mật, và khi cần, chỉ một nhát chổi đót quét qua là tất cả sẽ trở về với bụi cát vô danh.
Hùng quỳ một bên chân lành xuống, chiếc chân thương tật duỗi thẳng sang bên. Tay cầm chiếc đục sắt, anh bắt đầu ấn mạnh mũi thép xuống nền đất xám.
Vết vạch sâu hoắm, sắc lẹm hiện ra dưới bàn tay rắn rỏi của người từng là lính trinh sát công binh. Hùng vẽ một vòng tròn lớn đường kính khoảng hai gang tay, bên trong lồng thêm một vòng tròn đồng tâm nhỏ hơn.
“Vỏ ngoài bằng tôn cuốn hoặc đất sét trộn rơm băm bọc khung sắt. Lõi bên trong là buồng đốt hình trụ rỗng...” Hùng vừa khắc từng nét chữ mảnh dẻ ghi chú kích thước vừa lẩm bẩm tính toán. “Một ống thông hơi xuyên tâm cắm từ đáy lên. Trấu và mùn cưa sẽ được lèn chặt vào khoang giữa hai lớp. Khi châm lửa từ cửa gió phía dưới và rút ống lõi ra, luồng không khí lạnh sẽ bị hút vào đáy, đẩy khí nóng mang nhiệt lượng cực cao bốc ngược lên trên theo nguyên lý đối lưu tự nhiên. Không có than đá độc hại, không bốc khói cay mắt, tàn tro giữ lại trọn vẹn ở đáy lồng.”
Mũi đục sắt tiếp tục di chuyển, vạch ra một trục quay nằm ngang cắt ngang miệng buồng nhiệt. Hùng vẽ chiếc lồng nướng hình bát giác với sáu nan sắt kẹp bánh mỏng xoay quanh trục.
“Mỗi nan kẹp một chiếc bánh sống. Khi trục quay tròn, chiếc bánh sẽ đảo đều trong luồng nhiệt đối lưu ba trăm sáu mươi độ. Nhiệt bọc lấy bánh từ mọi phía, bột nở đều tăm tắp, vừng chín rộm mà không cần một ngọn lửa trực tiếp l**m vào.”
“Mày đang làm cái trò ma mãnh gì đấy hả Hùng?”
Một giọng nói ồm ồm, đanh thép như tiếng búa nện đe bất thần vang lên từ phía cửa ngách xưởng mộc.
Hùng giật mình ngẩng lên. Đứng tựa cửa là bác Thược “thợ rèn”. Người đàn ông năm mươi tuổi vạm vỡ, ngực trần cuồn cuộn gân guốc dù trời rét căm căm, chiếc tạp dề da bò cháy sém loang lổ quấn ngang hông. Bác Thược xách theo một chiếc kìm rèn dài ngoẵng và một nắm đinh thuyền vừa tôi nước lạnh, hơi than đá phả ra từ người bác nồng nặc cả góc xưởng.
Nhìn thấy vẻ căng thẳng trên khuôn mặt Hùng, bác Thược đảo mắt nhìn quanh một lượt rồi nhanh chân bước vào, tiện tay kéo sập cánh cửa liếp nứa lại. Bác bước tới cạnh đống gỗ xoan, cúi rạp người nhìn chằm chằm vào những hình vẽ chằng chịt vừa hiện lên trên nền đất nện.
“Bác Thược...” Hùng khẽ gọi, toan đưa chân xóa đi theo phản xạ.
“Khoan! Đừng xóa!” Bác Thược gạt tay Hùng ra, đôi mắt sáng quắc dưới đôi lông mày rậm dính đầy muội than mở to hết cỡ. Bác ngồi xổm xuống, chiếc kìm sắt trong tay cắm phập xuống đất. “Cái này... cái này là cái gì? Trục quay? Buồng hơi? Lại còn có cả đĩa xích với líp xe đạp ở góc kia là thế nào?”
Hùng nhìn sâu vào đôi mắt từng trải của người thợ rèn kỳ cựu trong làng, người từng cùng anh khiêng gỗ dựng lại chòi bến đò cho Thu sau đêm bão. Anh biết, trong cái làng Yên Sa này, ngoài bác Thược ra, không một ai có đủ hoa tay và lòng dũng cảm để biến những nét vẽ trên đất này thành sắt thép.
“Là lò nướng bánh đa đối lưu tích nhiệt, thưa bác,” Hùng hạ giọng thật thấp, ngón tay trỏ chỉ vào từng bộ phận trên nền đất. “Đêm qua lò đất của cô Thu bên bến đò bị nứt vỡ tan tành. Hàng Tết của khách lái đò hẹn lấy trong hai ngày nữa, nếu nướng từng chiếc bằng quạt nan và than củi thì hai bàn tay cô ấy sẽ nát bấy, mà cũng chẳng thể nào kịp một trăm sáu mươi chiếc bánh. Cháu thiết kế chiếc lò này dùng trấu và mùn cưa phế phẩm của xưởng mộc. Không tốn một viên than mậu dịch.”
Hùng cầm chiếc đục, vạch một đường thẳng từ trục lồng nướng nối xuống một đĩa xích lớn:
“Cháu dùng một bộ líp và xích xe đạp cũ làm cơ cấu truyền động. Người nướng chỉ cần ngồi trên ghế đẩu, chân đạp nhịp nhàng vào bàn đạp bên dưới. Lực truyền làm quay trục lồng nướng sáu ngăn, đồng thời kéo theo một cánh quạt tôn nhỏ hút gió nóng đẩy luân chuyển trong buồng kín. Bánh chín bằng hơi nhiệt tích tụ, phồng xốp gấp ba lần nướng than hoa. Quan trọng nhất là mỗi mẻ nướng được sáu chiếc cùng lúc, chỉ mất chừng năm phút!”
Bác Thược nín thở lắng nghe, ánh mắt chuyển từ kinh ngạc sang bàng hoàng. Đôi bàn tay thô ráp đầy sẹo bỏng của người thợ rèn run run lần theo từng đường rãnh đất mà Hùng vừa khắc. Bác nhẩm tính trong đầu: tốc độ quay, độ giãn nở nhiệt của sắt, luồng gió đối lưu... Từng chi tiết khớp nối hoàn hảo đến mức khiến một người thợ rèn gắn bó cả đời với đe búa phải rợn tóc gáy.
“Bốp!”
Bác Thược vỗ mạnh một phát như trời giáng vào bắp đùi săn chắc của mình, bật thốt lên một tiếng chửi thề đầy khoái trá:
“Mẹ kiếp! Thằng lính công binh này! Đầu óc mày chứa cái giống gì mà khôn róc đời thế hả con?” Bác ghé sát mặt vào Hùng, râu ria lởm chởm rung lên bần bật vì phấn khích. “Đốt trấu đối lưu khí kín... lồng quay nhiều ngăn truyền động bằng xích... Tao rèn sắt mấy chục năm nay, chỉ biết đập dao, cuốc, xẻng phục vụ hợp tác xã chấm công điểm, chưa từng thấy đứa nào nghĩ ra được cái máy nướng bánh kỳ tài thế này! Mày mà làm được cái này, con Thu nó nhàn hạ như bà tướng, ngồi đạp chân phe phẩy là bánh tuôn ra như nước lũ!”
Nụ cười vừa chớm nở trên môi Hùng bỗng chùng xuống. Anh nhìn bác Thược, giọng trĩu nặng âu lo:
“Ý tưởng là thế, nhưng lấy đâu ra sắt tấm, lấy đâu ra trục láp và ổ bi bây giờ hở bác? Thời buổi này, một tấc sắt mậu dịch rơi ra ngoài cũng bị khép vào tội phá hoại kinh tế quốc doanh. Thằng Bền... nó đang rình rập ngoài đê từng giờ từng phút.”
Bác Thược quắc mắt, nhổ toẹt bãi nước bọt xuống góc xưởng:
“Sợ cái đếch gì thằng Bền mắt lươn! Nó chỉ là thằng đội phó kiểm soát hống hách dựa hơi cơ chế. Còn lò rèn của tao, phế liệu tích cóp từ thời đánh Mỹ đến giờ thiếu gì! Mấy thanh ray tà vẹt cũ, xích xe xích gãy, lưỡi cày hỏng vứt xó... tao bí mật chặt ra, tôi lại thép, rèn cho mày từng cái nan lồng, tiện cho mày cái trục quay! Đêm nay tao nổi lửa rèn nguội trong buồng kín, bịt hết khe sáng lại, bố bảo thằng Bền cũng không dám xông vào lò rèn của lão Thược này giữa đêm hôm!”
“Chúng mày định nổi lửa rèn cái gì? Định rước công an về còng tay cả cái nhà này vào tù mục xương mới vừa lòng hả?”
Một tiếng quát khàn đặc, run rẩy vì tức giận từ phía cửa chính xé toạc bầu không khí bí mật.
Hùng và bác Thược giật thót người, đồng loạt quay đầu lại.
Ông Đặng Văn Quỳ đứng sững ở ngưỡng cửa. Dáng người gầy guộc của người nghệ nhân già run lên bần bật trong chiếc áo bông chần vải dù cũ kỹ. Đôi mắt trũng sâu vì mất ngủ nhìn trừng trừng vào Hùng, rồi dán chặt vào những hình vẽ chằng chịt dưới nền đất nện. Trên tay ông, chiếc điếu bát bằng gốm da chuối khẽ run rẩy, nước điếu bên trong sánh ra cả mép chiếu.
“Thầy...” Hùng chống chiếc đục toan đứng dậy nhưng cái chân đau khiến anh lảo đảo.
Ông Quỳ vứt mạnh chiếc điếu bát xuống đống dăm bào, bước xăm xăm lại góc xưởng. Đôi bàn tay gân guốc từng chạm trổ những vì kèo đình làng nổi tiếng khắp vùng run rẩy chỉ thẳng vào mặt Hùng:
“Mày... mày vẽ cái gì đây? Bánh răng? Lồng sắt? Bộ truyền động cơ khí? Mày định chế tạo máy móc tư nhân ngay trong xưởng mộc của họ Đặng này à?” Giọng ông Quỳ nghẹn lại, vừa phẫn nộ vừa hoảng loạn tột cùng. “Mày có biết tàng trữ kim khí, chế tạo chui công cụ sản xuất là tội gì không? Thời cải tạo công thương nghiệp năm sáu mươi, cả cái xưởng mộc của ông nội mày bị tịch thu, từng cái đục, cái cưa bị niêm phong chở đi sạch sành sanh chỉ vì người ta bảo nhà mình manh nha tư tưởng tư bản! Tao phải cắn răng vào làm thợ hợp tác xã, nhận từng lạng gạo mốc, giấu từng đường mộng bí truyền suốt hai mươi năm trời để giữ lấy cái mạng sống cho cái nhà này! Giờ mày muốn dâng cả tao lẫn con Thắm vào trại cải tạo hay sao hở thằng nghịch tử?”
“Kìa ông Quỳ!” Bác Thược đứng phắt dậy, sừng sững chắn giữa hai cha con. “Ông làm cái gì mà làm ầm ĩ lên thế? Thằng Hùng nó thương con Thu nghèo khó, lò hỏng tay phỏng nên mới tìm cách cứu giúp con bé trả nợ cho hợp tác xã. Nó tận dụng mộc gia truyền kết hợp với sắt vụn, có buôn lậu thuốc phiện hay ăn cắp của công đâu mà ông bảo nó đi tù?”
“Ông Thược! Ông đừng có xúi dại con tôi!” Ông Quỳ quắc mắt nhìn người bạn rèn lâu năm, hai khóe mắt rỉ ra những giọt nước mắt uất ức của một đời nhẫn nhục. “Con Thu là đứa mồ côi nghèo khổ, tôi thương nó chứ tôi ghét bỏ gì nó! Nhưng thời buổi này là thời buổi nào? Ngăn sông cấm chợ rát như lửa bỏng! Thằng Bền hôm nọ vừa đến tận đây chỉ mặt đe dọa tao, bảo nếu thằng Hùng còn dính dáng đến con Thu buôn bán tư thương thì nó sẽ gạch tên thằng Hùng ra khỏi danh sách trợ cấp thương tật, cắt đứt tiêu chuẩn gỗ của xưởng này! Mày định vì một đứa con gái thiên hạ mà đạp đổ danh dự dòng họ, dẫm nát mồ hôi nước mắt của cả nhà này hả Hùng?”
Không khí trong xưởng mộc bỗng chốc đông đặc lại như nước đóng băng mùa đông. Tiếng gió bấc rít qua khe nứa nghe như những tiếng thở dài thê lương của thời cuộc.
Hùng nén cơn đau buốt ở khớp gối, vịn tay vào cột nhà bằng gỗ xoan, từ từ đứng thẳng người dậy. Đôi vai rộng vững chãi của người lính trinh sát căng lên dưới lớp áo trấn thủ. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu, đầy sợ hãi và đau đớn của cha mình.
“Thầy,” Hùng cất tiếng, giọng anh trầm ấm, rành rọt từng tiếng nhưng chứa đựng một sức nặng nghìn cân. “Con không phải là thằng nghịch tử muốn đạp đổ danh dự dòng họ Đặng.”
Anh bước một bước tập tễnh lại gần bức vẽ trên nền đất, chỉ mũi đục sắt vào chiếc khung đỡ bằng gỗ được thiết kế mộng mang cá tinh xảo:
“Thầy dạy con từ năm mười tuổi: Nghề mộc nhà họ Đặng quý nhất ở chỗ mộng én, mộng mang cá, không cần một chiếc đinh sắt mà ngàn năm gỗ vẫn ôm chặt lấy nhau. Cái gốc của nghề mộc không phải là cúc cung phục vụ những bản định mức công điểm vô lý để đổi lấy vài lạng thóc lép, mà là dùng bàn tay và khối óc để làm ra những vật dụng che mưa che nắng, nâng niu cuộc sống con người. Khi con ở chiến trường Tây Nam, nằm giữa làn đạn cối của giặc, con sống sót trở về được là nhờ lời dặn của thầy: người thợ mộc phải có cái tâm vững như lõi gỗ lim.”
Hùng nghẹn ngào, ánh mắt ánh lên ngọn lửa kiên định:
“Ngày con chống gậy trở về bến Vạn Cát, thấy xưởng mộc lạnh tanh tro bếp, chân tàn phế, con đã từng muốn gieo mình xuống dòng sông Hồng kết liễu cuộc đời cho rảnh nợ. Chính cô Thu, bằng bát nước chè xanh ấm nóng và củ khoai nướng sứt sẹo bên bến đò rách nát, đã kéo con trở lại với cõi sống này! Đêm qua, cô ấy lao cả hai bàn tay trần vào đống than hồng hừng hực chỉ để cứu lấy vài chiếc bánh nợ của khách qua đò. Đôi bàn tay con gái phỏng rộp rỉ máu, thầy ơi! Nếu một người thợ mộc, một người lính như con thấy người cứu mạng mình lâm vào đường cùng mà vì sợ hãi hèn nhát khoanh tay đứng nhìn, thì cái nghề mộc của dòng họ Đặng này còn giữ lại để làm gì? Con giữ lại cái chân này, giữ lại cái danh dự hão huyền này để làm gì?”
Từng lời Hùng nói như những nhát búa nện thẳng vào lồng ngực gầy guộc của ông Quỳ. Người nghệ nhân già lảo đảo lùi lại nửa bước. Ông nhìn vết thương rỉ máu mà Hùng chưa kịp thay băng trên bắp chân tập tễnh, nhìn khuôn mặt cương nghị của đứa con trai cả giống hệt ông thời trai trẻ—cái thời ông từng dám chống lại lệnh dỡ bỏ đình làng để cứu lấy bức cửa võng cổ.
“Hơn nữa, thưa thầy,” Hùng tiếp tục, giọng anh hạ thấp xuống nhưng chan chứa hy vọng. “Đất nước không thể nghèo mãi, bao cấp không thể trói buộc con người ta đến chết được. Chỉ thị một trăm đã mở ra khoán sản phẩm đến từng nhóm lao động rồi. Nay mai, người dân sẽ cần máy móc, cần công cụ cải tiến để tăng năng suất. Chiếc lò nướng này không chỉ cứu lấy sinh kế của Thu, mà nó là minh chứng cho thấy ngón nghề của họ Đặng không hề lụi tàn. Nó kết hợp giữa mộc cổ truyền và cơ khí thực dụng. Chúng ta làm bằng mồ hôi, bằng phế liệu bỏ đi, phục vụ cho cái miệng ăn của người lao động bến đò, chúng ta không ăn cắp, không làm hại ai, cớ sao phải cúi đầu run sợ trước những kẻ như Lê Tiến Bền?”
Ông Quỳ đứng chết lặng. Bàn tay ông buông thõng bên sườn, run rẩy nắm chặt rồi lại mở ra. Những nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán người cha như giãn ra trong nỗi dằn vặt khôn nguôi. Ông nhìn bức vẽ trên nền đất một lần nữa. Những đường nét mộng gỗ chuẩn xác đến từng phân li, những góc nghiêng đón gió tài tình mà chỉ có người mang dòng máu họ Đặng mới có thể tính toán ra được.“Anh... anh nói hay lắm...” Ông Quỳ lẩm bẩm, giọng khàn đặc đi, không còn vẻ giận dữ lôi đình mà chỉ còn lại sự bất lực xót xa. “Nhưng lấy đâu ra vật tư? Không có tôn, không có vòng bi, không có nhông xích... anh biến đất thành sắt được chắc?”
Nói rồi, ông Quỳ không thèm nhìn Hùng thêm một lần nào nữa. Ông quay lưng, lầm lũi bước ra cửa chính, chiếc bóng gầy guộc đổ dài trên nền dăm bào xám xịt. Nhưng ông đã không dùng chân xóa đi bức vẽ trên nền đất nện.
Đó là sự nhượng bộ lớn nhất của một người cha cả đời sống trong sợ hãi.
Bác Thược nhìn theo bóng bạn già, khẽ thở phào một hơi dài làm bay tung đám bụi mùn cưa:
“Lão Quỳ miệng hùm gan sứa thế thôi, chứ trong bụng xuôi rồi đấy. Nhưng câu lão hỏi trúng phóc: kiếm đâu ra nhông xích và tôn bây giờ? Lò rèn tao có sắt đặc, chứ sắt tấm mỏng với vòng bi chuyển động thì chịu chết!”
“Em biết chỗ có!”
Cánh cửa nứa bên hông xưởng bỗng bật mở. Đặng Thị Thắm thoăn thoắt bước vào, tay xách chiếc làn mây đậy kín bằng một manh bao tải rách. Đôi mắt cô gái mười chín tuổi sáng long lanh, đôi má bánh mật ửng hồng vì gió lạnh.
“Thắm? Mày đứng nghe trộm từ nãy giờ đấy à?” Bác Thược trố mắt.
“Em nghe hết rồi!” Thắm bước thẳng lại cạnh Hùng, đặt chiếc làn mây xuống đất. Cô rút từ trong túi áo bông ra một chiếc khăn mùi xoa bọc tròn, mở ra cẩn thận. Bên trong là một nắm tiền lẻ xếp phẳng phiu: những tờ một hào, hai hào màu nâu sẫm, vài đồng xu nhôm một xu, hai xu xâu bằng sợi chỉ gai. “Đây là toàn bộ tiền em chắt bóp từ việc bán chổi tre và mớ rau dại từ đầu năm đến giờ. Được tròn mười hai đồng ba hào sáu xu. Đủ để mua đồ phế liệu!”
Hùng nhìn em gái, sống mũi cay xè:
“Thắm, tiền này mày để dành Tết mua tấm vải hoa may áo mới cơ mà...”
“Áo mới của em sao quý bằng đôi bàn tay chị Thu được!” Thắm ngắt lời anh trai, giọng dứt khoát không kém gì đàn ông. “Hôm qua em sang bến đò, nhìn chị Thu khóc nghẹn ôm hũ sành vỡ mà em đứt từng khúc ruột. Anh Hùng, bác Thược, nghe em này: sáng nay em vừa đạp xe qua ngã ba chợ Huyện Đông. Ở bãi thu mua đồng nát của Ty Vật tư cũ chỗ đầu huyện, người ta vừa thanh lý một đống sắt vụn của Đội xe thồ nông nghiệp! Có mấy bộ khung xe đạp Thống Nhất cũ nát, vỏ thùng phuy rỉ sét và cả rổ vòng bi hỏng vứt lăn lóc ngoài bãi. Lão Trương trông bãi là chỗ quen biết của bà cụ Vấn xóm chài, nếu mình khéo léo mang tiền lẻ ra đổi chác theo giá sắt vụn, lão sẽ mắt nhắm mắt mở cho bới!”
Đôi mắt Hùng bừng sáng lên một tia hy vọng mãnh liệt:
“Thùng phuy rỉ có thể đập bẹp cán phẳng làm vỏ buồng nhiệt! Nhông xích xe thồ tuy rão nhưng ăn khớp với vòng bi... Thắm, mày dẫn đường ngay cho anh!”
“Chân cẳng mày thế kia đi làm sao được đường đê trơn như đổ mỡ?” Bác Thược gạt đi, với tay lấy chiếc áo tơi lá móc trên vách nứa khoác lên người. “Để tao với con Thắm đi! Tao là thợ rèn, nhìn qua là biết miếng tôn nào còn thớ dẻo, vòng bi nào còn dùng được. Mày ở nhà, lấy cưa, lấy đục, đẽo sẵn bộ khung gỗ xoan chịu lực theo đúng kích thước trên nền đất đi! Nhanh lên, trời sắp đứng bóng rồi!”
Hùng siết chặt bàn tay thô ráp của bác Thược, không nói nên lời, chỉ biết gật đầu thật mạnh. Nghĩa tình xóm giềng thời khốn khó, những lúc hoạn nạn mới thấy nó quý giá hơn vàng mười mậu dịch.
*
Con đường đê sông Hồng mùa đông hun hút gió bấc. Mây mù xám xịt sà sát những rặng tre ngà xơ xác. Thắm quàng khăn len đỏ, đạp chiếc xe đạp cọc cạch dẫn đường, phía sau là bác Thược xách đôi quang sọt ngụy trang bằng mấy bó rơm khô bên trên.
Bãi phế liệu đầu huyện là một bãi đất hoang rộng thênh thang nằm sát chân cầu sắt cũ, xung quanh rào bằng dây thép gai hoen rỉ. Hàng trăm đống sắt vụn chất cao như núi: xác xe cam nhông thời chiến cháy xém, vỏ bom bi rỗng ruột, những đống tôn mạ kẽm cong queo và đống phụ tùng xe đạp nông nghiệp hoen ố vì mưa nắng. Mùi rỉ sét quyện với mùi cỏ cháy ngai ngái tạo nên một không khí thê lương, hoang phế.
Lão Trương trông bãi, một ông già cụt một cánh tay, ngồi co ro bên bếp trấu trong căn lều bạt rách nát. Nhìn thấy gói thuốc lào Tiên Lãng bác Thược dúi vào tay cùng lời nhắn gửi của bà cụ Vấn, lão Trương nheo đôi mắt kèm nhèm nhìn xâu tiền lẻ của Thắm, rồi phẩy chiếc tay áo cụt:
“Vào góc trong cùng bên trái. Đống phụ tùng xe thồ nằm dưới đống vỏ thùng phuy. Chọn nhanh rồi cút cho sớm, chốc nữa tổ kiểm tra liên ngành của huyện đi tuần qua đây, họ thấy dân thường vào bới kim khí là tôi mất việc đấy!”
Không bỏ lỡ một giây, bác Thược và Thắm lao vào đống phế liệu. Gió lạnh cắt vào da thịt, những cạnh sắt rỉ sắc nhọn cào rách cả ngón tay Thắm, rỉ máu tươi, nhưng cô gái trẻ không hề kêu một tiếng.
“Tìm thấy rồi!” Thắm reo lên khe khẽ, hai tay lôi ra một chiếc líp xe đạp Thống Nhất ba tầng đã phủ đầy bụi đất. Cô lấy vạt áo lau vội dầu mỡ bám trên các răng cưa. “Răng líp vẫn còn nguyên vẹn, anh Hùng bảo chỉ cần ngâm dầu hỏa là quay tít mù!”
Ở phía bên kia, bác Thược dùng chiếc búa rèn mang theo gõ chan chát vào một tấm tôn vỏ thùng xăng máy bay cũ bị cán bẹp. Âm thanh đanh gọn vang lên:
“Thép tốt! Tôn duralumin chịu nhiệt của xác máy bay! Cái này mà cuốn làm buồng đốt đối lưu thì muôn đời không thủng!”
Bác Thược thoăn thoắt lượm thêm hai chiếc vòng bi cỡ trung vẫn còn nguyên các viên bi thép bên trong, một đoạn trục láp sắt tròn dài ba gang tay và một nắm nan hoa xe thồ loại to. Tất cả kim loại quý giá ấy được giấu biến xuống đáy hai chiếc sọt tre, phủ rơm rạ khô lên trên mặt ngụy trang kỹ lưỡng. Thắm đếm đúng mười hai đồng bạc lẻ trao tận tay lão Trương.
Chuyến xe thồ phế liệu vội vã quay về Yên Sa khi hoàng hôn mùa đông buông xuống đỏ quạch như một vệt máu khô nơi cuối chân trời.
*
Đêm hăm bảy tháng Chạp.
Cả làng Yên Sa chìm sâu vào giấc ngủ li bì sau những ngày lao động quần quật trên cánh đồng hợp tác xã. Đợt rét đậm nhất từ đầu mùa tràn về, sương muối giăng trắng xóa mặt đê, bóp nghẹt mọi âm thanh của côn trùng.
Nhưng bên trong gian lò rèn của bác Thược nép mình cuối xóm Mộc, không khí lại hầm hập như một lòng chảo lửa.
Mọi khe hở của vách nứa đều được bịt kín bằng những tấm chiếu rách và bao tải gai ướt để ngăn ánh lửa và tiếng động lọt ra ngoài. Ở giữa lò, ngọn than đá rực lên một màu đỏ cam ma mị dưới sức thổi đều đặn từ chiếc bễ thụt bằng da trâu do Thắm ra sức kéo.
“Phì... phò... phì... phò...”
Từng luồng gió rít lên nhịp nhàng. Hùng ngồi trên chiếc đòn kê gỗ, chiếc chân thương tật gác tạm lên một khúc gỗ xoan, hai bàn tay anh thoăn thoắt dùng dũa sắt gọt giũa từng rãnh then trên trục quay. Cạnh anh, chiếc khung gỗ xoan ngâm đã được đục đẽo hoàn chỉnh: các mộng mang cá ăn khớp khít khao, bốn chân vững chãi như bàn thạch, các lỗ mộng để tra ổ bi được khoét tròn vo, nhẵn thín bằng mũi ve chuyên dụng.
“Hùng! Giữ lấy kìm!” Bác Thược quát khẽ.
Người thợ rèn dùng chiếc kìm dài cặp thanh sắt tròn đã nung đỏ rực từ trong lò than ra, đặt phập lên mặt đe sắt. Hùng lập tức buông chiếc dũa, chộp lấy chiếc búa tạ con bằng một tay, chuẩn bị phối hợp.
“Chan! Chát! Chan! Chát!”
Tiếng búa đập sắt vang lên dồn dập, đều đặn như nhịp tim của những người thợ đang chạy đua với số phận. Từng tia lửa sắt b*n r* tung tóe, soi rõ những khuôn mặt đầm đìa mồ hôi giữa đêm đông buốt giá. Dưới bàn tay tài hoa của bác Thược và những chỉ dẫn cơ khí chính xác của Hùng, thanh sắt đỏ dần dần uốn cong thành chiếc trục quay hình chữ U, các nan lồng nướng kẹp bánh bằng tôn duralumin được đột lỗ, uốn gờ sắc nét từng ly. Bộ líp xe đạp Thống Nhất ngâm dầu hỏa sạch bong kin kít được tra thử vào đầu trục láp—nó quay êm ru, phát ra những tiếng tách... tách... tách giòn tan như tiếng đồng hồ quả lắc.
Mọi chi tiết cơ khí đang dần khớp nối vào nhau, tái hiện lại chính xác từng đường nét của bản vẽ trên nền đất nện xưởng mộc trưa nay. Chiếc lò nướng đối lưu kỳ diệu đang thành hình trong bóng tối, mang theo mồ hôi, máu và niềm hy vọng cháy bỏng của những phận người nghèo khó.
Thế nhưng, giữa đêm đông tịch mịch, không gian tĩnh lặng như tờ của làng quê vô tình trở thành chiếc loa phóng thanh phản trắc.
Những tiếng búa chan chát, keng keng dẫu đã được vách chiếu cản lại, vẫn thoát qua kẽ hở mái ngói, mang theo độ vang kim khí sắc lạnh truyền qua triền đê vắng lặng.
Trên mặt đê Yên Sa chìm trong sương mù dày đặc, ba bóng người mặc áo dạ đen, quàng khăn kín mặt đang rảo bước tuần tra bỗng khựng lại.
Người đi đầu, tay cặp cuốn sổ bìa xanh, tay kia cầm chiếc đèn pin Liên Xô ba pin dài ngoẵng, từ từ hạ thấp bước chân. Hắn xoay đầu, chiếc mũi khoằm hếch lên ngửi vào luồng gió bấc, đôi tai dỏng lên như loài cáo đêm đánh hơi thấy con mồi.
Vệt sáng vàng đục từ chiếc đèn pin trên tay Lê Tiến Bền từ từ lia xuống dốc đê, rọi thẳng về phía ngọn khói mỏng manh mang theo mùi than đá nồng nặc đang bốc lên từ mái ngói lò rèn bác Thược. Một nụ cười độc địa, lạnh tanh dần dần hé nở trên khuôn mặt quắt queo của gã đội phó kiểm soát.